Bài này đặt nguyên văn Pāli bản VRI của Kinh Tâm Hoang Vu (Cetokhilasutta, MN 16) song song với bản dịch tiếng Việt và tiếng Anh sát chữ, từng ý một. Đức Thế Tôn chỉ ra năm tâm hoang vu và năm tâm triền phược ngăn vị tỳ-khưu tăng trưởng trong Pháp và Luật, rồi nêu mười lăm chi phần khiến vị ấy có khả năng giác ngộ, như gà con được ấp đúng cách tự phá vỏ trứng mà ra.
Hồ sơ bản văn
Tạng: Sutta Piṭaka › Majjhimanikāya › Mūlapaṇṇāsapāḷi › 2. Sīhanādavagga › 16. Cetokhilasutta
Nơi thuyết: Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika
Người thuyết: Đức Thế Tôn
Người nghe / nhân vật: các tỳ-khưu
Bản Pāli: Chaṭṭha Saṅgāyana Tipiṭaka, Vipassana Research Institute (tipitaka.org), đoạn §185–189
Bản dịch: Theravada.blog, dịch trực tiếp từ Pāli sang Việt và Anh, văn phong sát chữ
Tạng: Sutta Piṭaka › Majjhimanikāya › Mūlapaṇṇāsapāḷi › 2. Sīhanādavagga › 16. Cetokhilasutta
Nơi thuyết: Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika
Người thuyết: Đức Thế Tôn
Người nghe / nhân vật: các tỳ-khưu
Bản Pāli: Chaṭṭha Saṅgāyana Tipiṭaka, Vipassana Research Institute (tipitaka.org), đoạn §185–189
Bản dịch: Theravada.blog, dịch trực tiếp từ Pāli sang Việt và Anh, văn phong sát chữ
Mục lục
Quy ước trình bày
§185 – Năm tâm hoang vu chưa được đoạn trừ
§186 – Năm tâm triền phược chưa được cắt đứt
§187 – Năm tâm hoang vu đã được đoạn trừ
§188 – Năm tâm triền phược đã được cắt đứt khéo léo
§189 – Mười lăm chi phần và ví dụ gà mái ấp trứng
Thuật ngữ then chốt
Nguồn tham khảo
Quy ước trình bày
§185 – Năm tâm hoang vu chưa được đoạn trừ
§186 – Năm tâm triền phược chưa được cắt đứt
§187 – Năm tâm hoang vu đã được đoạn trừ
§188 – Năm tâm triền phược đã được cắt đứt khéo léo
§189 – Mười lăm chi phần và ví dụ gà mái ấp trứng
Thuật ngữ then chốt
Nguồn tham khảo
Quy ước trình bày
- Mỗi hàng gồm ba ô: Pāli (nền kem, in nghiêng) · Tiếng Việt · English. Trên điện thoại, ba ô tự xếp dọc theo thứ tự đó.
- Số đoạn (§) theo bản VRI; ví dụ “MN 16 §189.3” là ý thứ ba trong đoạn 189. Bản VRI đánh số liên tục trong cả Mūlapaṇṇāsa, nên MN 16 gồm §185–189.
- Chữ nhỏ màu xám trong ngoặc vuông là dị bản do chính bản VRI ghi: sī. (Tích Lan), syā. (Thái), kaṃ. (Campuchia), pī. (PTS); katthaci = “ở một vài bản”.
- Ký hiệu …pe… (peyyāla) trong Pāli là chỗ bản gốc tỉnh lược phần lặp lại; tiếng Việt ghi “… (như trên)…”, tiếng Anh “… (and so on)…”. Dòng căn giữa cuối bảng là câu kết kinh của chính bản Pāli.
- Dịch sát chữ: giữ trật tự và hình thái của câu Pāli, không thêm chữ diễn giải vào thân bản dịch. Phần giải thích đặt riêng trong các dòng Chú thích.
Bản văn song ngữ Pāli – Việt – Anh
Pāli (VRI)
Tiếng Việt
English
§185 – Năm tâm hoang vu chưa được đoạn trừ
Evaṃ me sutaṃ – ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tôi nghe như vầy – một thời Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī, ở Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.
Thus have I heard – on one occasion the Blessed One was dwelling at Sāvatthī, in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s park.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi – ‘‘bhikkhavo’’ti. ‘‘Bhadante’’ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṃ. Bhagavā etadavoca –
Tại đấy, Đức Thế Tôn gọi các tỳ-khưu: “Này các tỳ-khưu.” – “Bạch Thế Tôn”, các tỳ-khưu ấy đáp lời Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn nói như sau –
There the Blessed One addressed the bhikkhus: “Bhikkhus.” – “Venerable sir,” those bhikkhus replied to the Blessed One. The Blessed One said this –
‘‘Yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhuno pañca cetokhilā appahīnā, pañca cetasovinibandhā [cetasovinibaddhā (sī.), cetovinibaddhā (sāratthadīpanīṭīkā)] asamucchinnā, so vatimasmiṃ dhammavinaye vuddhiṃ virūḷhiṃ vepullaṃ āpajjissatīti – netaṃ ṭhānaṃ vijjati.
“Này các tỳ-khưu, đối với bất cứ tỳ-khưu nào mà năm tâm hoang vu chưa được đoạn trừ, năm tâm triền phược chưa được cắt đứt, thì việc vị ấy sẽ đạt đến sự tăng trưởng, lớn mạnh, quảng đại trong Pháp và Luật này – sự kiện ấy không có.
“Bhikkhus, for whatever bhikkhu the five mental barrennesses are unabandoned, the five mental shackles are not cut off, that he will come to growth, increase and fullness in this Dhamma and Discipline – this is not possible.
Chú thích: Tên kinh: cetokhila = ceto (tâm) + khila (đất cứng, đất bỏ hoang không cày cấy được) – “tâm hoang vu”, “sự cằn cỗi của tâm”; theo Chú giải, đó là trạng thái cứng cỏi (thaddhabhāva) của tâm. Cetaso vinibandha (ghép thành cetasovinibandha, cetaso là sở thuộc cách của ceto): “sự trói buộc của tâm”, tâm triền phược; theo Chú giải, chúng trói tâm lại như nắm chặt trong nắm tay. Dị bản: cetasovinibaddhā (sī.), cetovinibaddhā (Sāratthadīpanī-ṭīkā). Vatimasmiṃ = vata + imasmiṃ; netaṃ ṭhānaṃ vijjati = na etaṃ ṭhānaṃ vijjati, “trường hợp ấy không có”.
‘‘Katamāssa pañca cetokhilā appahīnā honti? Idha, bhikkhave, bhikkhu satthari kaṅkhati vicikicchati nādhimuccati na sampasīdati. Yo so, bhikkhave, bhikkhu satthari kaṅkhati vicikicchati nādhimuccati na sampasīdati tassa cittaṃ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya. Yassa cittaṃ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya, evamassāyaṃ paṭhamo cetokhilo appahīno hoti.
“Thế nào là năm tâm hoang vu chưa được đoạn trừ nơi vị ấy? Ở đây, này các tỳ-khưu, tỳ-khưu nghi ngờ, hoài nghi, không quyết tín, không tịnh tín đối với Bậc Đạo Sư. Này các tỳ-khưu, tỳ-khưu nào nghi ngờ, hoài nghi, không quyết tín, không tịnh tín đối với Bậc Đạo Sư, tâm của vị ấy không hướng đến nhiệt tâm, chuyên cần, kiên trì, tinh cần. Tâm của vị nào không hướng đến nhiệt tâm, chuyên cần, kiên trì, tinh cần, như vậy, nơi vị ấy, tâm hoang vu thứ nhất này chưa được đoạn trừ.
“What are the five mental barrennesses unabandoned in him? Here, bhikkhus, a bhikkhu doubts the Teacher, is uncertain, is not resolved, does not gain confidence. Bhikkhus, that bhikkhu who doubts the Teacher, is uncertain, is not resolved, does not gain confidence – his mind does not incline to ardour, to devotion, to persistence, to striving. He whose mind does not incline to ardour, to devotion, to persistence, to striving – thus this first mental barrenness is unabandoned in him.
Chú thích: Katamāssa = katame + assa (“nơi vị ấy”, sở thuộc/định sở cách của ayaṃ); evamassāyaṃ = evaṃ + assa + ayaṃ. Satthari là định sở cách của danh từ gốc -ar satthar (Bậc Đạo Sư), ở đây chỉ đối tượng của nghi ngờ. Nādhimuccati = na + adhimuccati (quyết định, tin chắc). Bốn danh từ ātappa, anuyoga, sātacca, padhāna đều ở tặng cách (-āya), chỉ hướng tâm nghiêng về.
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu dhamme kaṅkhati vicikicchati nādhimuccati na sampasīdati… pe… evamassāyaṃ dutiyo cetokhilo appahīno hoti.
“Lại nữa, này các tỳ-khưu, tỳ-khưu nghi ngờ, hoài nghi, không quyết tín, không tịnh tín đối với Pháp… (như trên)… như vậy, nơi vị ấy, tâm hoang vu thứ hai này chưa được đoạn trừ.
“Furthermore, bhikkhus, a bhikkhu doubts the Dhamma, is uncertain, is not resolved, does not gain confidence… (and so on)… thus this second mental barrenness is unabandoned in him.
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu saṅghe kaṅkhati vicikicchati nādhimuccati na sampasīdati… pe… evamassāyaṃ tatiyo cetokhilo appahīno hoti.
“Lại nữa, này các tỳ-khưu, tỳ-khưu nghi ngờ, hoài nghi, không quyết tín, không tịnh tín đối với Tăng… (như trên)… như vậy, nơi vị ấy, tâm hoang vu thứ ba này chưa được đoạn trừ.
“Furthermore, bhikkhus, a bhikkhu doubts the Saṅgha, is uncertain, is not resolved, does not gain confidence… (and so on)… thus this third mental barrenness is unabandoned in him.
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu sikkhāya kaṅkhati vicikicchati nādhimuccati na sampasīdati. Yo so, bhikkhave, bhikkhu sikkhāya kaṅkhati vicikicchati nādhimuccati na sampasīdati, tassa cittaṃ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya. Yassa cittaṃ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya, evamassāyaṃ catuttho cetokhilo appahīno hoti.
“Lại nữa, này các tỳ-khưu, tỳ-khưu nghi ngờ, hoài nghi, không quyết tín, không tịnh tín đối với học giới. Này các tỳ-khưu, tỳ-khưu nào nghi ngờ, hoài nghi, không quyết tín, không tịnh tín đối với học giới, tâm của vị ấy không hướng đến nhiệt tâm, chuyên cần, kiên trì, tinh cần. Tâm của vị nào không hướng đến nhiệt tâm, chuyên cần, kiên trì, tinh cần, như vậy, nơi vị ấy, tâm hoang vu thứ tư này chưa được đoạn trừ.
“Furthermore, bhikkhus, a bhikkhu doubts the training, is uncertain, is not resolved, does not gain confidence. Bhikkhus, that bhikkhu who doubts the training, is uncertain, is not resolved, does not gain confidence – his mind does not incline to ardour, to devotion, to persistence, to striving. He whose mind does not incline to ardour, to devotion, to persistence, to striving – thus this fourth mental barrenness is unabandoned in him.
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu sabrahmacārīsu kupito hoti anattamano āhatacitto khilajāto. Yo so, bhikkhave, bhikkhu sabrahmacārīsu kupito hoti anattamano āhatacitto khilajāto, tassa cittaṃ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya. Yassa cittaṃ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya, evamassāyaṃ pañcamo cetokhilo appahīno hoti. Imāssa pañca cetokhilā appahīnā honti.
“Lại nữa, này các tỳ-khưu, tỳ-khưu giận dữ đối với các vị đồng phạm hạnh, không hài lòng, tâm bị xúc phạm, sinh hoang vu. Này các tỳ-khưu, tỳ-khưu nào giận dữ đối với các vị đồng phạm hạnh, không hài lòng, tâm bị xúc phạm, sinh hoang vu, tâm của vị ấy không hướng đến nhiệt tâm, chuyên cần, kiên trì, tinh cần. Tâm của vị nào không hướng đến nhiệt tâm, chuyên cần, kiên trì, tinh cần, như vậy, nơi vị ấy, tâm hoang vu thứ năm này chưa được đoạn trừ. Năm tâm hoang vu này chưa được đoạn trừ nơi vị ấy.
“Furthermore, bhikkhus, a bhikkhu is angry with his companions in the holy life, displeased, with mind struck, become barren. Bhikkhus, that bhikkhu who is angry with his companions in the holy life, displeased, with mind struck, become barren – his mind does not incline to ardour, to devotion, to persistence, to striving. He whose mind does not incline to ardour, to devotion, to persistence, to striving – thus this fifth mental barrenness is unabandoned in him. These five mental barrennesses are unabandoned in him.
Chú thích: Bốn tâm hoang vu đầu là nghi (Phật, Pháp, Tăng, học giới); tâm hoang vu thứ năm là sân đối với người cùng tu. Āhatacitta: “tâm bị đánh, bị va chạm” (āhata, quá khứ phân từ của āhanati); khilajāta: “đã sinh ra sự cằn cỗi” – chính chữ khila trong tên kinh xuất hiện lại ở đây.
§186 – Năm tâm triền phược chưa được cắt đứt
‘‘Katamāssa pañca cetasovinibandhā asamucchinnā honti? Idha, bhikkhave, bhikkhu kāme avītarāgo [avigatarāgo (katthaci)] hoti avigatacchando avigatapemo avigatapipāso avigatapariḷāho avigatataṇho. Yo so, bhikkhave, bhikkhu kāme avītarāgo hoti avigatacchando avigatapemo avigatapipāso avigatapariḷāho avigatataṇho, tassa cittaṃ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya. Yassa cittaṃ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya, evamassāyaṃ paṭhamo cetasovinibandho asamucchinno hoti.
“Thế nào là năm tâm triền phược chưa được cắt đứt nơi vị ấy? Ở đây, này các tỳ-khưu, tỳ-khưu đối với dục chưa ly tham, chưa ly dục, chưa ly ái luyến, chưa ly khát, chưa ly nhiệt não, chưa ly ái. Này các tỳ-khưu, tỳ-khưu nào đối với dục chưa ly tham, chưa ly dục, chưa ly ái luyến, chưa ly khát, chưa ly nhiệt não, chưa ly ái, tâm của vị ấy không hướng đến nhiệt tâm, chuyên cần, kiên trì, tinh cần. Tâm của vị nào không hướng đến nhiệt tâm, chuyên cần, kiên trì, tinh cần, như vậy, nơi vị ấy, tâm triền phược thứ nhất này chưa được cắt đứt.
“What are the five mental shackles not cut off in him? Here, bhikkhus, a bhikkhu is not free from lust for sensual pleasures, not free from desire, not free from affection, not free from thirst, not free from fever, not free from craving. Bhikkhus, that bhikkhu who is not free from lust for sensual pleasures, not free from desire, not free from affection, not free from thirst, not free from fever, not free from craving – his mind does not incline to ardour, to devotion, to persistence, to striving. He whose mind does not incline to ardour, to devotion, to persistence, to striving – thus this first mental shackle is not cut off in him.
Chú thích: Sáu từ đi theo một chuỗi: avītarāga (chưa ly tham), avigatacchanda (chưa ly dục), avigatapema (chưa ly ái luyến), avigatapipāsa (chưa ly khát), avigatapariḷāha (chưa ly nhiệt não), avigatataṇha (chưa ly ái); kāme là định sở cách: “đối với dục”. Dị bản: avigatarāgo (katthaci – “ở một vài nơi”). Theo Chú giải, kāye (§186.2) chỉ thân của chính mình, còn rūpe (§186.3) chỉ các sắc bên ngoài.
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu kāye avītarāgo hoti…pe… evamassāyaṃ dutiyo cetasovinibandho asamucchinno hoti.
“Lại nữa, này các tỳ-khưu, tỳ-khưu đối với thân chưa ly tham… (như trên)… như vậy, nơi vị ấy, tâm triền phược thứ hai này chưa được cắt đứt.
“Furthermore, bhikkhus, a bhikkhu is not free from lust for the body… (and so on)… thus this second mental shackle is not cut off in him.
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu rūpe avītarāgo hoti…pe… evamassāyaṃ tatiyo cetasovinibandho asamucchinno hoti.
“Lại nữa, này các tỳ-khưu, tỳ-khưu đối với sắc chưa ly tham… (như trên)… như vậy, nơi vị ấy, tâm triền phược thứ ba này chưa được cắt đứt.
“Furthermore, bhikkhus, a bhikkhu is not free from lust for form… (and so on)… thus this third mental shackle is not cut off in him.
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu yāvadatthaṃ udarāvadehakaṃ bhuñjitvā seyyasukhaṃ passasukhaṃ middhasukhaṃ anuyutto viharati. Yo so, bhikkhave, bhikkhu yāvadatthaṃ udarāvadehakaṃ bhuñjitvā seyyasukhaṃ passasukhaṃ middhasukhaṃ anuyutto viharati, tassa cittaṃ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya. Yassa cittaṃ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya, evamassāyaṃ catuttho cetasovinibandho asamucchinno hoti.
“Lại nữa, này các tỳ-khưu, tỳ-khưu sau khi ăn tùy thích cho đến căng bụng, sống chuyên đắm lạc thú nằm, lạc thú nằm nghiêng, lạc thú ngủ nghỉ. Này các tỳ-khưu, tỳ-khưu nào sau khi ăn tùy thích cho đến căng bụng, sống chuyên đắm lạc thú nằm, lạc thú nằm nghiêng, lạc thú ngủ nghỉ, tâm của vị ấy không hướng đến nhiệt tâm, chuyên cần, kiên trì, tinh cần. Tâm của vị nào không hướng đến nhiệt tâm, chuyên cần, kiên trì, tinh cần, như vậy, nơi vị ấy, tâm triền phược thứ tư này chưa được cắt đứt.
“Furthermore, bhikkhus, a bhikkhu, having eaten as much as he likes until his belly is full, dwells devoted to the pleasure of lying down, the pleasure of lying on his side, the pleasure of torpor. Bhikkhus, that bhikkhu who, having eaten as much as he likes until his belly is full, dwells devoted to the pleasure of lying down, the pleasure of lying on his side, the pleasure of torpor – his mind does not incline to ardour, to devotion, to persistence, to striving. He whose mind does not incline to ardour, to devotion, to persistence, to striving – thus this fourth mental shackle is not cut off in him.
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu aññataraṃ devanikāyaṃ paṇidhāya brahmacariyaṃ carati – ‘imināhaṃ sīlena vā vatena vā tapena vā brahmacariyena vā devo vā bhavissāmi devaññataro vā’ti. Yo so, bhikkhave, bhikkhu aññataraṃ devanikāyaṃ paṇidhāya brahmacariyaṃ carati – ‘imināhaṃ sīlena vā vatena vā tapena vā brahmacariyena vā devo vā bhavissāmi devaññataro vā’ti, tassa cittaṃ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya. Yassa cittaṃ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya, evamassāyaṃ pañcamo cetasovinibandho asamucchinno hoti. Imāssa pañca cetasovinibandhā asamucchinnā honti.
“Lại nữa, này các tỳ-khưu, tỳ-khưu sống phạm hạnh với ước nguyện về một hàng chư thiên nào đó: ‘Do giới này, hay do cấm hạnh, hay do khổ hạnh, hay do phạm hạnh này, ta sẽ thành một vị trời hay một vị nào đó trong chư thiên.’ Này các tỳ-khưu, tỳ-khưu nào sống phạm hạnh với ước nguyện về một hàng chư thiên nào đó: ‘Do giới này, hay do cấm hạnh, hay do khổ hạnh, hay do phạm hạnh này, ta sẽ thành một vị trời hay một vị nào đó trong chư thiên’, tâm của vị ấy không hướng đến nhiệt tâm, chuyên cần, kiên trì, tinh cần. Tâm của vị nào không hướng đến nhiệt tâm, chuyên cần, kiên trì, tinh cần, như vậy, nơi vị ấy, tâm triền phược thứ năm này chưa được cắt đứt. Năm tâm triền phược này chưa được cắt đứt nơi vị ấy.
“Furthermore, bhikkhus, a bhikkhu lives the holy life aspiring to some order of devas: ‘By this virtue or observance or austerity or holy life I shall become a deva or one among the devas.’ Bhikkhus, that bhikkhu who lives the holy life aspiring to some order of devas: ‘By this virtue or observance or austerity or holy life I shall become a deva or one among the devas’ – his mind does not incline to ardour, to devotion, to persistence, to striving. He whose mind does not incline to ardour, to devotion, to persistence, to striving – thus this fifth mental shackle is not cut off in him. These five mental shackles are not cut off in him.
‘‘Yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhuno ime pañca cetokhilā appahīnā, ime pañca cetasovinibandhā asamucchinnā, so vatimasmiṃ dhammavinaye vuddhiṃ virūḷhiṃ vepullaṃ āpajjissatīti – netaṃ ṭhānaṃ vijjati.
“Này các tỳ-khưu, đối với bất cứ tỳ-khưu nào mà năm tâm hoang vu này chưa được đoạn trừ, năm tâm triền phược này chưa được cắt đứt, thì việc vị ấy sẽ đạt đến sự tăng trưởng, lớn mạnh, quảng đại trong Pháp và Luật này – sự kiện ấy không có.
“Bhikkhus, for whatever bhikkhu these five mental barrennesses are unabandoned, these five mental shackles are not cut off, that he will come to growth, increase and fullness in this Dhamma and Discipline – this is not possible.
§187 – Năm tâm hoang vu đã được đoạn trừ
‘‘Yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhuno pañca cetokhilā pahīnā, pañca cetasovinibandhā susamucchinnā, so vatimasmiṃ dhammavinaye vuddhiṃ virūḷhiṃ vepullaṃ āpajjissatīti – ṭhānametaṃ vijjati.
“Này các tỳ-khưu, đối với bất cứ tỳ-khưu nào mà năm tâm hoang vu đã được đoạn trừ, năm tâm triền phược đã được cắt đứt khéo léo, thì việc vị ấy sẽ đạt đến sự tăng trưởng, lớn mạnh, quảng đại trong Pháp và Luật này – sự kiện ấy có xảy ra.
“Bhikkhus, for whatever bhikkhu the five mental barrennesses are abandoned, the five mental shackles are well cut off, that he will come to growth, increase and fullness in this Dhamma and Discipline – this is possible.
‘‘Katamāssa pañca cetokhilā pahīnā honti? Idha, bhikkhave, bhikkhu satthari na kaṅkhati na vicikicchati adhimuccati sampasīdati. Yo so, bhikkhave, bhikkhu satthari na kaṅkhati na vicikicchati adhimuccati sampasīdati, tassa cittaṃ namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya. Yassa cittaṃ namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya, evamassāyaṃ paṭhamo cetokhilo pahīno hoti.
“Thế nào là năm tâm hoang vu đã được đoạn trừ nơi vị ấy? Ở đây, này các tỳ-khưu, tỳ-khưu không nghi ngờ, không hoài nghi, quyết tín, tịnh tín đối với Bậc Đạo Sư. Này các tỳ-khưu, tỳ-khưu nào không nghi ngờ, không hoài nghi, quyết tín, tịnh tín đối với Bậc Đạo Sư, tâm của vị ấy hướng đến nhiệt tâm, chuyên cần, kiên trì, tinh cần. Tâm của vị nào hướng đến nhiệt tâm, chuyên cần, kiên trì, tinh cần, như vậy, nơi vị ấy, tâm hoang vu thứ nhất này đã được đoạn trừ.
“What are the five mental barrennesses abandoned in him? Here, bhikkhus, a bhikkhu does not doubt the Teacher, is not uncertain, is resolved, gains confidence. Bhikkhus, that bhikkhu who does not doubt the Teacher, is not uncertain, is resolved, gains confidence – his mind inclines to ardour, to devotion, to persistence, to striving. He whose mind inclines to ardour, to devotion, to persistence, to striving – thus this first mental barrenness is abandoned in him.
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu dhamme na kaṅkhati na vicikicchati adhimuccati sampasīdati…pe… evamassāyaṃ dutiyo cetokhilo pahīno hoti.
“Lại nữa, này các tỳ-khưu, tỳ-khưu không nghi ngờ, không hoài nghi, quyết tín, tịnh tín đối với Pháp… (như trên)… như vậy, nơi vị ấy, tâm hoang vu thứ hai này đã được đoạn trừ.
“Furthermore, bhikkhus, a bhikkhu does not doubt the Dhamma, is not uncertain, is resolved, gains confidence… (and so on)… thus this second mental barrenness is abandoned in him.
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu saṅghe na kaṅkhati na vicikicchati adhimuccati sampasīdati… pe… evamassāyaṃ tatiyo cetokhilo pahīno hoti.
“Lại nữa, này các tỳ-khưu, tỳ-khưu không nghi ngờ, không hoài nghi, quyết tín, tịnh tín đối với Tăng… (như trên)… như vậy, nơi vị ấy, tâm hoang vu thứ ba này đã được đoạn trừ.
“Furthermore, bhikkhus, a bhikkhu does not doubt the Saṅgha, is not uncertain, is resolved, gains confidence… (and so on)… thus this third mental barrenness is abandoned in him.
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu sikkhāya na kaṅkhati na vicikicchati adhimuccati sampasīdati…pe… evamassāyaṃ catuttho cetokhilo pahīno hoti.
“Lại nữa, này các tỳ-khưu, tỳ-khưu không nghi ngờ, không hoài nghi, quyết tín, tịnh tín đối với học giới… (như trên)… như vậy, nơi vị ấy, tâm hoang vu thứ tư này đã được đoạn trừ.
“Furthermore, bhikkhus, a bhikkhu does not doubt the training, is not uncertain, is resolved, gains confidence… (and so on)… thus this fourth mental barrenness is abandoned in him.
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu sabrahmacārīsu na kupito hoti na anattamano [attamano (sī. pī.)] anāhatacitto akhilajāto. Yo so, bhikkhave, bhikkhu sabrahmacārīsu na kupito hoti na anattamano anāhatacitto akhilajāto, tassa cittaṃ namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya. Yassa cittaṃ namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya, evamassāyaṃ pañcamo cetokhilo pahīno hoti. Imāssa pañca cetokhilā pahīnā honti.
“Lại nữa, này các tỳ-khưu, tỳ-khưu không giận dữ đối với các vị đồng phạm hạnh, không phải không hài lòng, tâm không bị xúc phạm, không sinh hoang vu. Này các tỳ-khưu, tỳ-khưu nào không giận dữ đối với các vị đồng phạm hạnh, không phải không hài lòng, tâm không bị xúc phạm, không sinh hoang vu, tâm của vị ấy hướng đến nhiệt tâm, chuyên cần, kiên trì, tinh cần. Tâm của vị nào hướng đến nhiệt tâm, chuyên cần, kiên trì, tinh cần, như vậy, nơi vị ấy, tâm hoang vu thứ năm này đã được đoạn trừ. Năm tâm hoang vu này đã được đoạn trừ nơi vị ấy.
“Furthermore, bhikkhus, a bhikkhu is not angry with his companions in the holy life, not displeased, with mind not struck, not become barren. Bhikkhus, that bhikkhu who is not angry with his companions in the holy life, not displeased, with mind not struck, not become barren – his mind inclines to ardour, to devotion, to persistence, to striving. He whose mind inclines to ardour, to devotion, to persistence, to striving – thus this fifth mental barrenness is abandoned in him. These five mental barrennesses are abandoned in him.
Chú thích: Bản VRI đọc na anattamano (“không phải không hài lòng”, phủ định kép, dịch sát chữ); dị bản attamano (sī. pī.) đọc thẳng là “hài lòng”. Hai cách đọc cùng một nghĩa.
§188 – Năm tâm triền phược đã được cắt đứt khéo léo
‘‘Katamāssa pañca cetasovinibandhā susamucchinnā honti? Idha, bhikkhave, bhikkhu kāme vītarāgo hoti vigatacchando vigatapemo vigatapipāso vigatapariḷāho vigatataṇho. Yo so, bhikkhave, bhikkhu kāme vītarāgo hoti vigatacchando vigatapemo vigatapipāso vigatapariḷāho vigatataṇho, tassa cittaṃ namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya. Yassa cittaṃ namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya, evamassāyaṃ paṭhamo cetasovinibandho susamucchinno hoti.
“Thế nào là năm tâm triền phược đã được cắt đứt khéo léo nơi vị ấy? Ở đây, này các tỳ-khưu, tỳ-khưu đối với dục đã ly tham, đã ly dục, đã ly ái luyến, đã ly khát, đã ly nhiệt não, đã ly ái. Này các tỳ-khưu, tỳ-khưu nào đối với dục đã ly tham, đã ly dục, đã ly ái luyến, đã ly khát, đã ly nhiệt não, đã ly ái, tâm của vị ấy hướng đến nhiệt tâm, chuyên cần, kiên trì, tinh cần. Tâm của vị nào hướng đến nhiệt tâm, chuyên cần, kiên trì, tinh cần, như vậy, nơi vị ấy, tâm triền phược thứ nhất này đã được cắt đứt khéo léo.
“What are the five mental shackles well cut off in him? Here, bhikkhus, a bhikkhu is free from lust for sensual pleasures, free from desire, free from affection, free from thirst, free from fever, free from craving. Bhikkhus, that bhikkhu who is free from lust for sensual pleasures, free from desire, free from affection, free from thirst, free from fever, free from craving – his mind inclines to ardour, to devotion, to persistence, to striving. He whose mind inclines to ardour, to devotion, to persistence, to striving – thus this first mental shackle is well cut off in him.
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu kāye vītarāgo hoti…pe… rūpe vītarāgo hoti…pe… na yāvadatthaṃ udarāvadehakaṃ bhuñjitvā seyyasukhaṃ passasukhaṃ middhasukhaṃ anuyutto viharati. Yo so, bhikkhave, bhikkhu na yāvadatthaṃ udarāvadehakaṃ bhuñjitvā seyyasukhaṃ passasukhaṃ middhasukhaṃ anuyutto viharati, tassa cittaṃ namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya. Yassa cittaṃ namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya, evamassāyaṃ catuttho cetasovinibandho susamucchinno hoti.
“Lại nữa, này các tỳ-khưu, tỳ-khưu đối với thân đã ly tham… (như trên)… đối với sắc đã ly tham… (như trên)… không sau khi ăn tùy thích cho đến căng bụng mà sống chuyên đắm lạc thú nằm, lạc thú nằm nghiêng, lạc thú ngủ nghỉ. Này các tỳ-khưu, tỳ-khưu nào không sau khi ăn tùy thích cho đến căng bụng mà sống chuyên đắm lạc thú nằm, lạc thú nằm nghiêng, lạc thú ngủ nghỉ, tâm của vị ấy hướng đến nhiệt tâm, chuyên cần, kiên trì, tinh cần. Tâm của vị nào hướng đến nhiệt tâm, chuyên cần, kiên trì, tinh cần, như vậy, nơi vị ấy, tâm triền phược thứ tư này đã được cắt đứt khéo léo.
“Furthermore, bhikkhus, a bhikkhu is free from lust for the body… (and so on)… is free from lust for form… (and so on)… does not, having eaten as much as he likes until his belly is full, dwell devoted to the pleasure of lying down, the pleasure of lying on his side, the pleasure of torpor. Bhikkhus, that bhikkhu who does not, having eaten as much as he likes until his belly is full, dwell devoted to the pleasure of lying down, the pleasure of lying on his side, the pleasure of torpor – his mind inclines to ardour, to devotion, to persistence, to striving. He whose mind inclines to ardour, to devotion, to persistence, to striving – thus this fourth mental shackle is well cut off in him.
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu na aññataraṃ devanikāyaṃ paṇidhāya brahmacariyaṃ carati – ‘imināhaṃ sīlena vā vatena vā tapena vā brahmacariyena vā devo vā bhavissāmi devaññataro vā’ti. Yo so, bhikkhave, bhikkhu na aññataraṃ devanikāyaṃ paṇidhāya brahmacariyaṃ carati – ‘imināhaṃ sīlena vā vatena vā tapena vā brahmacariyena vā devo vā bhavissāmi devaññataro vā’ti, tassa cittaṃ namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya. Yassa cittaṃ namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya, evamassāyaṃ pañcamo cetasovinibandho susamucchinno hoti. Imāssa pañca cetasovinibandhā susamucchinnā honti.
“Lại nữa, này các tỳ-khưu, tỳ-khưu không sống phạm hạnh với ước nguyện về một hàng chư thiên nào đó: ‘Do giới này, hay do cấm hạnh, hay do khổ hạnh, hay do phạm hạnh này, ta sẽ thành một vị trời hay một vị nào đó trong chư thiên.’ Này các tỳ-khưu, tỳ-khưu nào không sống phạm hạnh với ước nguyện về một hàng chư thiên nào đó: ‘Do giới này, hay do cấm hạnh, hay do khổ hạnh, hay do phạm hạnh này, ta sẽ thành một vị trời hay một vị nào đó trong chư thiên’, tâm của vị ấy hướng đến nhiệt tâm, chuyên cần, kiên trì, tinh cần. Tâm của vị nào hướng đến nhiệt tâm, chuyên cần, kiên trì, tinh cần, như vậy, nơi vị ấy, tâm triền phược thứ năm này đã được cắt đứt khéo léo. Năm tâm triền phược này đã được cắt đứt khéo léo nơi vị ấy.
“Furthermore, bhikkhus, a bhikkhu does not live the holy life aspiring to some order of devas: ‘By this virtue or observance or austerity or holy life I shall become a deva or one among the devas.’ Bhikkhus, that bhikkhu who does not live the holy life aspiring to some order of devas: ‘By this virtue or observance or austerity or holy life I shall become a deva or one among the devas’ – his mind inclines to ardour, to devotion, to persistence, to striving. He whose mind inclines to ardour, to devotion, to persistence, to striving – thus this fifth mental shackle is well cut off in him. These five mental shackles are well cut off in him.
‘‘Yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhuno ime pañca cetokhilā pahīnā, ime pañca cetasovinibandhā susamucchinnā, so vatimasmiṃ dhammavinaye vuddhiṃ virūḷhiṃ vepullaṃ āpajjissatīti – ṭhānametaṃ vijjati.
“Này các tỳ-khưu, đối với bất cứ tỳ-khưu nào mà năm tâm hoang vu này đã được đoạn trừ, năm tâm triền phược này đã được cắt đứt khéo léo, thì việc vị ấy sẽ đạt đến sự tăng trưởng, lớn mạnh, quảng đại trong Pháp và Luật này – sự kiện ấy có xảy ra.
“Bhikkhus, for whatever bhikkhu these five mental barrennesses are abandoned, these five mental shackles are well cut off, that he will come to growth, increase and fullness in this Dhamma and Discipline – this is possible.
§189 – Mười lăm chi phần và ví dụ gà mái ấp trứng
‘‘So chandasamādhipadhānasaṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti, vīriyasamādhipadhānasaṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti, cittasamādhipadhānasaṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti, vīmaṃsāsamādhipadhānasaṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti, ussoḷhīyeva pañcamī.
“Vị ấy tu tập thần túc thành tựu dục định và tinh cần hành, tu tập thần túc thành tựu tinh tấn định và tinh cần hành, tu tập thần túc thành tựu tâm định và tinh cần hành, tu tập thần túc thành tựu tư duy định và tinh cần hành, với sự hăng hái là thứ năm.
“He develops the basis for spiritual power possessing concentration due to desire and volitional formations of striving; he develops the basis for spiritual power possessing concentration due to energy and volitional formations of striving; he develops the basis for spiritual power possessing concentration due to mind and volitional formations of striving; he develops the basis for spiritual power possessing concentration due to investigation and volitional formations of striving – with enthusiasm as the fifth.
Chú thích: Bốn thần túc (iddhipāda): mỗi thần túc gồm một loại định (do chanda – dục, ý muốn làm; vīriya – tinh tấn; citta – tâm; vīmaṃsā – tư duy, thẩm sát) đi cùng padhānasaṅkhāra (tinh cần hành). Ussoḷhī (sự hăng hái, nỗ lực mạnh mẽ) là chi thứ năm. Cộng với năm tâm hoang vu đã đoạn và năm tâm triền phược đã cắt, thành mười lăm chi phần (pannarasaṅga) ở câu kế tiếp. Bản VRI viết cả ussoḷhī- lẫn ussoḷhi- trong hợp từ; giữ nguyên như bản gốc.
Sa kho so, bhikkhave, evaṃ ussoḷhīpannarasaṅgasamannāgato bhikkhu bhabbo abhinibbidāya, bhabbo sambodhāya, bhabbo anuttarassa yogakkhemassa adhigamāya.
Này các tỳ-khưu, vị tỳ-khưu ấy, thành tựu mười lăm chi phần có sự hăng hái như vậy, có khả năng phá vỡ, có khả năng giác ngộ, có khả năng chứng đạt sự an ổn khỏi các khổ ách vô thượng.
Bhikkhus, that bhikkhu, thus possessing the fifteen factors including enthusiasm, is capable of breaking out, capable of enlightenment, capable of attaining the unsurpassed security from bondage.
Seyyathāpi, bhikkhave, kukkuṭiyā aṇḍāni aṭṭha vā dasa vā dvādasa vā. Tānassu kukkuṭiyā sammā adhisayitāni sammā pariseditāni sammā paribhāvitāni.
Ví như, này các tỳ-khưu, có tám, hoặc mười, hoặc mười hai quả trứng của con gà mái. Những trứng ấy được con gà mái nằm ấp đúng cách, ủ ấm đúng cách, ấp cho thấm đúng cách.
Suppose, bhikkhus, there were eight or ten or twelve eggs of a hen. Suppose those were properly sat upon by the hen, properly warmed, properly incubated.
Chú thích: Theo Chú giải, ba động từ chỉ ba việc của gà mái: adhisayitāni – nằm phủ lên trứng; pariseditāni – ủ cho trứng nhận đủ hơi ấm; paribhāvitāni – ấp cho trứng thấm hơi (mùi) của gà mẹ. Tānassu = tāni + assu (cầu khiến/giả định của atthi: “giả sử chúng là…”).
Kiñcāpi tassā kukkuṭiyā na evaṃ icchā uppajjeyya – ‘aho vatime kukkuṭapotakā pādanakhasikhāya vā mukhatuṇḍakena vā aṇḍakosaṃ padāletvā sotthinā abhinibbhijjeyyu’nti.
Dù cho con gà mái ấy không khởi lên ước muốn như vầy: ‘Ôi, mong sao những gà con này, bằng đầu móng chân hoặc bằng mỏ, đập vỡ vỏ trứng mà chui ra an toàn!’
Even though no such wish should arise in that hen: ‘Oh, may these chicks, with the tips of their claws or with their beaks, break the eggshell and hatch out safely!’
Atha kho bhabbāva te kukkuṭapotakā pādanakhasikhāya vā mukhatuṇḍakena vā aṇḍakosaṃ padāletvā sotthinā abhinibbhijjituṃ.
Nhưng những gà con ấy vẫn có khả năng, bằng đầu móng chân hoặc bằng mỏ, đập vỡ vỏ trứng mà chui ra an toàn.
Yet those chicks are capable of breaking the eggshell with the tips of their claws or with their beaks and hatching out safely.
Evameva kho, bhikkhave, evaṃ ussoḷhipannarasaṅgasamannāgato bhikkhu bhabbo abhinibbidāya, bhabbo sambodhāya, bhabbo anuttarassa yogakkhemassa adhigamāyā’’ti.
Cũng vậy, này các tỳ-khưu, vị tỳ-khưu thành tựu mười lăm chi phần có sự hăng hái như vậy, có khả năng phá vỡ, có khả năng giác ngộ, có khả năng chứng đạt sự an ổn khỏi các khổ ách vô thượng.”
Just so, bhikkhus, a bhikkhu thus possessing the fifteen factors including enthusiasm is capable of breaking out, capable of enlightenment, capable of attaining the unsurpassed security from bondage.”
Chú thích: Ví dụ dựa trên sự tương ứng giữa abhinibbidā (sự phá vỡ ra) và động từ abhinibbhijjati (chui ra, phá vỏ mà ra) của gà con. Theo Chú giải, abhinibbidā ở đây là sự phá vỡ các phiền não bằng trí tuệ; như gà con nhờ gà mẹ ấp đúng cách mà tự phá vỏ, vị tỳ-khưu đủ mười lăm chi phần thì có khả năng phá vỡ “vỏ trứng” vô minh. Yogakkhema: an ổn khỏi các ách (yoga), một tên gọi của Niết-bàn.
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṃ abhinandunti.
Đức Thế Tôn đã nói như vậy. Các tỳ-khưu ấy hoan hỷ, tán thán lời Đức Thế Tôn đã nói.
This is what the Blessed One said. Satisfied, those bhikkhus delighted in the Blessed One’s words.
Cetokhilasuttaṃ niṭṭhitaṃ chaṭṭhaṃ.
Kinh Tâm Hoang Vu, thứ sáu, đã xong.
The Discourse on Mental Barrenness, the sixth, is concluded.
Thuật ngữ then chốt trong MN 16
| Pāli | Tiếng Việt | English | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| cetokhila | tâm hoang vu | mental barrenness | Tên bài kinh; khila là đất cứng, bỏ hoang. Năm loại: nghi Phật, Pháp, Tăng, học giới và sân với bạn đồng tu. |
| cetaso vinibandha | tâm triền phược | mental shackle | Năm loại: tham dục, tham thân, tham sắc, ham ăn ngủ, tu cầu sinh thiên. |
| kaṅkhati / vicikicchati | nghi ngờ / hoài nghi | doubts / is uncertain | Đối lập: adhimuccati (quyết tín), sampasīdati (tịnh tín). |
| ātappa, anuyoga, sātacca, padhāna | nhiệt tâm, chuyên cần, kiên trì, tinh cần | ardour, devotion, persistence, striving | Bốn hướng mà tâm “không nghiêng về” khi còn các chướng ngại. |
| sabrahmacārī | vị đồng phạm hạnh | companion in the holy life | Đối tượng của tâm hoang vu thứ năm (sân hận). |
| devanikāya | hàng chư thiên | order of devas | Tu phạm hạnh để cầu sinh thiên là tâm triền phược thứ năm. |
| iddhipāda | thần túc | basis for spiritual power | Bốn: dục, tinh tấn, tâm, tư duy – mỗi thần túc đi cùng tinh cần hành. |
| ussoḷhī | sự hăng hái | enthusiasm | Chi thứ năm, làm đủ mười lăm chi phần (pannarasaṅga). |
| abhinibbidā | sự phá vỡ ra | breaking out | Tương ứng với abhinibbhijjati – gà con phá vỏ trứng (§189). |
| yogakkhema | an ổn khỏi các khổ ách | security from bondage | Một tên gọi của Niết-bàn. |
Một câu ghi nhớ: Sự tu tập không lớn lên trên mảnh đất cứng của nghi ngờ và sân hận, cũng không thoát được khi tâm còn bị trói vào dục lạc và ước muốn sinh thiên; dọn sạch mười điều ấy, thêm bốn thần túc và lòng hăng hái, thì như gà con được ấp đúng cách, tự khắc có khả năng phá vỏ mà ra.
Đọc tiếp
- Bài song ngữ trước: MN 15 Kinh Tư Lượng – Song Ngữ Pāli Việt Anh (§181–184)
- Bài song ngữ kế tiếp: MN 17 Kinh Khu Rừng (Vanapatthasutta) – sắp đăng
- Bài giảng giải cùng kinh: MN 16 – Kinh Tâm Hoang Vu (Cetokhilasutta)
- Ngữ pháp liên quan: Danh từ gốc -ar: satthar (satthari), pitar, mātar
- Chuyên mục: Trung Bộ Song Ngữ Pāli – Việt – Anh
- Dashboard Song Ngữ Pāli – Việt – Anh
- Loạt bài: Blog Kinh Trung Bộ
Nguồn tham khảo
- Chaṭṭha Saṅgāyana Tipiṭaka, Majjhimanikāya, Mūlapaṇṇāsapāḷi – Vipassana Research Institute, tipitaka.org.
- Bản Pāli và các bản dịch đối chiếu: SuttaCentral – MN 16.
- Papañcasūdanī (Chú giải Trung Bộ), phần Cetokhilasuttavaṇṇanā – bản VRI, tipitaka.org.
- Đối chiếu nghĩa (không trích lời dịch): HT. Thích Minh Châu; Bhikkhu Ñāṇamoli & Bhikkhu Bodhi; Bhikkhu Sujato.
Bản dịch sát chữ này được làm để hỗ trợ người học Pāli. Nếu quý vị thấy chỗ nào chưa chính xác hoặc có cách hiểu khác đáng lưu ý, xin để lại góp ý bên dưới để Ban biên tập xem xét và hiệu đính.
Tải bản song ngữ Pāli – Việt – Anh (MN 16)
Toàn bộ bản văn ba cột Pāli – Tiếng Việt – English của bài này, kèm chú thích và bảng thuật ngữ: bản PDF khổ ngang để in và đọc ngoại tuyến, bản Excel để tra cứu, lọc và học theo từng đoạn.