Tiểu Giới, Trung Giới, Đại Giới (Cūḷa–Majjhima–Mahāsīla) Trong Trường Bộ

Cūḷasīla, Majjhimasīla và Mahāsīla (Tiểu giới, Trung giới, Đại giới) là ba đoạn văn mô tả giới hạnh của một vị Sa-môn, được ghi đầy đủ trong Kinh Phạm Võng (DN 1) và Kinh Sa-môn Quả (DN 2). Tiểu giới nêu các điều từ bỏ căn bản; Trung giới mở rộng với các thói quen của “một số Sa-môn, Bà-la-môn”; Đại giới tập trung vào các nghề sinh sống sai lạc như bói toán, chiêm tinh, trù ếm.

Điều thú vị là cùng một văn bản giới ấy lại được đặt trong hai khung rất khác nhau: ở DN 1, đó chỉ là “chút giới hạnh nhỏ nhặt” mà phàm phu dùng để tán thán Như Lai; ở DN 2, đó là nền tảng đầu tiên của quả Sa-môn, đem lại hạnh phúc không lỗi lầm.

1. Hồ sơ chủ đề

  • Văn bản gốc: DN 1:1.7.0.2–1.27.6 (Brahmajālasutta) và DN 2:43.1–63.6 (Sāmaññaphalasutta).
  • Tiêu đề Pāli trong bản Mahāsaṅgīti: “2.1. Cūḷasīla”, “2.2. Majjhimasīla”, “2.3. Mahāsīla” (DN 1).
  • Phạm vi: giới của người xuất gia, gồm giới về thân, khẩu, lối sống và chánh mạng.
  • Vị trí: cả hai kinh đều thuộc Sīlakkhandhavagga, phẩm đầu của Trường Bộ, tên phẩm có nghĩa “phẩm Giới uẩn”.
  • Ghi chú văn bản: trên SuttaCentral, ba câu kết “Cūḷasīlaṃ niṭṭhitaṃ … Majjhimasīlaṃ niṭṭhitaṃ … Mahāsīlaṃ niṭṭhitaṃ” chỉ xuất hiện ở DN 1 và DN 2.

2. Tiểu giới (Cūḷasīla) gồm những gì?

Tiểu giới mở đầu bằng bảy điều về thân và khẩu: từ bỏ sát sinh, trộm cắp, phi phạm hạnh, nói dối, nói hai lưỡi, nói ác khẩu và nói phù phiếm (DN 1:1.8.1–1.9.7). Mỗi điều không chỉ là sự kiêng tránh mà còn có mặt tích cực.

‘Pāṇātipātaṃ pahāya pāṇātipātā paṭivirato samaṇo gotamo nihitadaṇḍo, nihitasattho, lajjī, dayāpanno, sabbapāṇabhūtahitānukampī viharatī’ti.

“Sa-môn Gotama từ bỏ sát sinh, tránh xa sát sinh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết hổ thẹn, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc của tất cả chúng sinh.” (DN 1:1.8.1)

Ghi chú của Bhikkhu Sujato nhấn mạnh: đây không chỉ là lệnh cấm giết hại mà còn là lời mời sống với lòng bi mẫn đối với mọi loài. Tương tự, từ bỏ nói hai lưỡi đi kèm với việc hòa giải người bất hòa và vui thích sự hòa hợp (DN 1:1.9.3).

Phần còn lại của Tiểu giới là một chuỗi điều kiêng tránh ngắn (DN 1:1.10.1–1.10.20):

  • Không làm hại hạt giống và cây cối.
  • Ăn một bữa, không ăn ban đêm và phi thời.
  • Không xem múa hát, nhạc kịch; không trang sức, dùng hương, phấn.
  • Không dùng giường cao rộng.
  • Không nhận vàng bạc, ngũ cốc sống, thịt sống, đàn bà con gái, nô tỳ, gia súc, ruộng đất.
  • Không làm sứ giả, đưa tin; không mua bán; không cân đo gian lận, hối lộ, lừa đảo; không cướp bóc, bạo hành.

Theo ghi chú của Sujato, “ban đêm” và “phi thời” ở đây ứng với sau khi trời tối và buổi chiều; còn ruộng đất cho tu viện có thể được Tăng đoàn thọ nhận chung, chứ không phải cá nhân Tỳ-kheo.

3. Trung giới (Majjhimasīla) mở rộng ra sao?

Trung giới có cấu trúc riêng: mỗi đoạn mở bằng câu “có một số Sa-môn, Bà-la-môn, sau khi thọ dụng vật thực do tín thí, vẫn còn…”, rồi nói Sa-môn Gotama tránh xa điều ấy.

‘Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni bhojanāni bhuñjitvā te evarūpaṃ bījagāmabhūtagāmasamārambhaṃ anuyuttā viharanti…

“Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, sau khi thọ dụng vật thực do tín thí, vẫn sống chuyên làm hại các loại hạt giống và cây cối…” (DN 1:1.11.1)

Mười nhóm hành vi được liệt kê (DN 1:1.11.1–1.20.3):

  1. Làm hại hạt giống và cây cối.
  2. Tích trữ vật dụng: đồ ăn, thức uống, y phục, xe cộ, đồ nằm, hương liệu.
  3. Xem các trò biểu diễn, kể cả các cuộc đấu voi, ngựa, trâu, bò.
  4. Các trò chơi cờ bạc gây phóng dật.
  5. Dùng giường ghế, nệm trải xa hoa.
  6. Trang điểm, làm đẹp thân thể.
  7. Bàn chuyện thấp kém: vua chúa, giặc cướp, chiến tranh, ăn uống.
  8. Tranh luận, tranh cãi kiểu “ông không hiểu pháp này, tôi hiểu”.
  9. Làm sứ giả, chạy việc cho vua quan.
  10. Lừa dối, nịnh hót, gợi ý, gièm pha, dùng lợi để cầu lợi.

Ghi chú của Sujato cho biết phần này mở rộng chi tiết hơn những mục của Tiểu giới, và Trung giới, Đại giới không xuất hiện trong những trình bày ngắn hơn như MN 27:14.1.

4. Đại giới (Mahāsīla): vì sao toàn nói về sinh kế?

Đại giới gồm các đoạn DN 1:1.21.1–1.27.6, đều với cùng một mở đầu:

‘Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni bhojanāni bhuñjitvā te evarūpāya tiracchānavijjāya micchājīvena jīvitaṃ kappenti…

“Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, sau khi thọ dụng vật thực do tín thí, vẫn nuôi mạng bằng tà mạng, bằng những tà thuật thấp kém như…” (DN 1:1.21.1)

Các “tà thuật” này gồm: xem tướng, đoán điềm, giải mộng, cúng tế lửa (DN 1:1.21.2); xem tướng ngọc, vũ khí, người và thú (DN 1:1.22.2); tiên đoán vua tiến quân hay lui quân (DN 1:1.23.2); tiên đoán nhật thực, nguyệt thực, động đất (DN 1:1.24.2); đoán mưa nắng, được mùa, mất mùa (DN 1:1.25.2); làm mai mối, bùa chú (DN 1:1.26.2); các nghi lễ cầu an, cầu mưa, làm thuốc xổ, thuốc nôn (DN 1:1.27.2).

Ghi chú của Sujato giải thích: phần này nói về những nghề là tà mạng đối với người xuất gia, dù không hẳn là tà mạng đối với cư sĩ. Ông cũng lưu ý y học là chánh mạng, nhưng người xuất gia không nên lấy đó làm kế sinh nhai.

5. Cùng một bản giới, hai ý nghĩa: DN 1 và DN 2

Trong DN 1: “chút giới hạnh nhỏ nhặt”

Kinh Phạm Võng bắt đầu khi du sĩ Suppiya chê bai Tam Bảo, còn học trò Brahmadatta lại tán thán (DN 1:1.1.3–1.1.6). Đức Phật dạy các Tỳ-kheo không nên giận khi bị chê, không nên hân hoan khi được khen (DN 1:1.5.1–1.6.6). Rồi Ngài nói toàn bộ ba phần giới ấy chỉ là điều phàm phu dùng để tán thán Như Lai:

Idaṃ kho, bhikkhave, appamattakaṃ oramattakaṃ sīlamattakaṃ, yena puthujjano tathāgatassa vaṇṇaṃ vadamāno vadeyya.

“Này các Tỳ-kheo, đây là chút ít, nhỏ nhặt, chỉ là giới hạnh, mà kẻ phàm phu có thể nói khi tán thán Như Lai.” (DN 1:1.27.5)

Điều đáng tán thán thật sự là những pháp “sâu xa, khó thấy, khó hiểu, tịch tịnh, thù diệu, vượt ngoài suy luận” (DN 1:1.28.1), mở đầu cho phần phân tích 62 tà kiến. Xem thêm Brahmajāla Sutta (DN 1) — Kinh Phạm Võng: 62 Tà Kiến.

Trong DN 2: nền móng của quả Sa-môn

Ở Kinh Sa-môn Quả, Đức Phật trả lời vua Ajātasattu về quả thiết thực của đời Sa-môn. Văn bản giới gần như giống hệt, nhưng chủ ngữ đổi từ “Sa-môn Gotama” sang “vị Tỳ-kheo”, và mỗi đoạn kết thúc bằng “đây là giới của vị ấy” (DN 2:43.1–43.3). Khi giới đầy đủ, vị ấy được ví như vị vua đã đánh bại kẻ thù, không thấy sợ hãi từ phía nào:

So iminā ariyena sīlakkhandhena samannāgato ajjhattaṃ anavajjasukhaṃ paṭisaṃvedeti.

“Thành tựu Thánh giới uẩn này, vị ấy cảm nghiệm nội tâm một hạnh phúc không lỗi lầm.” (DN 2:63.4)

Ngay sau đó, kinh chuyển sang phòng hộ các căn, chánh niệm tỉnh giác, tri túc, đoạn triền cái và các tầng thiền (DN 2:64.1 trở đi). Xem Sāmaññaphala Sutta (DN 2) — Kinh Sa Môn Quả.

Hai kinh vì vậy không mâu thuẫn: giới là “nhỏ” so với tuệ giác siêu việt của Như Lai, nhưng lại là bậc thang đầu tiên không thể thiếu của người tu. Cách sắp xếp giới – định – tuệ này cũng được Tôn giả Ānanda trình bày trong Kinh Subha (DN 10).

6. Năm từ Pāli cần nhớ

Từ PāliNghĩaTrong kinh
sīlamattakachỉ là giới hạnhDN 1:1.27.5
puthujjanaphàm phuNgười tán thán Như Lai bằng giới (DN 1:1.8.2)
tiracchānavijjātà thuật thấp kémĐại giới (DN 1:1.21.1)
micchājīvatà mạngĐại giới (DN 1:1.21.1)
anavajjasukhahạnh phúc không lỗi lầmQuả của giới (DN 2:63.4)

7. Một điểm dễ hiểu sai

Có người đọc DN 1 rồi kết luận: “Đức Phật xem nhẹ giới”. Thật ra câu “chỉ là giới hạnh” nằm trong ngữ cảnh khen chê: phàm phu chỉ thấy được phần giới bên ngoài nên chỉ khen phần ấy. DN 2 cho thấy chính bản giới đó dẫn đến hạnh phúc không lỗi lầm và là bước đầu của thiền định. Giới không nhỏ đối với người hành trì; nó chỉ nhỏ khi được dùng làm thước đo trọn vẹn một bậc giác ngộ.

8. Ứng dụng trong đời sống

  • Người cư sĩ không giữ toàn bộ giới Sa-môn, nhưng bảy điều đầu về thân và khẩu (DN 1:1.8.1–1.9.7) vẫn là thước đo trực tiếp.
  • Trung giới gợi ý tự quan sát: mình tích trữ gì, giải trí ra sao, bàn chuyện gì, tranh cãi thế nào.
  • Đại giới nhắc rằng dùng niềm tin của người khác làm kế sinh nhai bằng bói toán, bùa chú là trái với tinh thần Sa-môn.
  • Khi bị chê hay được khen, hãy nhớ lời dạy mở đầu DN 1: không giận, không hân hoan, chỉ xét điều ấy đúng hay sai.

9. Ba câu hỏi ôn tập

  1. Đại giới chủ yếu nói về điều gì? Các tà thuật thấp kém và tà mạng (DN 1:1.21.1).
  2. Trong DN 1, ai tán thán Như Lai bằng giới? Kẻ phàm phu (DN 1:1.27.5).
  3. Theo DN 2, giới đầy đủ đem lại gì? Hạnh phúc không lỗi lầm trong nội tâm (DN 2:63.4).

10. Câu hỏi thường gặp

Ba phần giới này có phải là giới bổn Pātimokkha không?

Không. Đây là đoạn kinh mô tả giới hạnh trong Tạng Kinh, không phải các học giới Pātimokkha của Tạng Luật, dù nhiều nội dung tương ứng.

Vì sao Trung giới lặp lại một số mục của Tiểu giới?

Theo ghi chú của Sujato, Trung giới mở rộng chi tiết những mục đã nêu ở Tiểu giới, ví dụ việc làm hại cây cối được giải thích thành năm loại cây mọc từ rễ, thân, cành, mắt và hạt (DN 1:1.11.2).

Ba phần giới có xuất hiện ở các kinh khác không?

Trên SuttaCentral, văn bản đầy đủ có mặt ở DN 1 và DN 2. Bài viết này không khẳng định các kinh khác lặp lại hay viết tắt phần nào khi chưa đối chiếu.

11. Một câu ghi nhớ

Giới là phần nhỏ nhất để khen một bậc giác ngộ, nhưng là bước đầu tiên không thể thiếu cho người đang đi trên đường.

Nguồn tham khảo

  1. SuttaCentral, DN 1 Brahmajālasutta: https://suttacentral.net/dn1
  2. SuttaCentral, DN 2 Sāmaññaphalasutta: https://suttacentral.net/dn2 (Pāli và bản dịch Bhikkhu Sujato kèm ghi chú).
  3. HT. Thích Minh Châu (dịch), Trường Bộ Kinh – Kinh Phạm võng và Kinh Sa-môn quả.