Kinh Đầu Móng Tay (SN 22.97): Ngay Cả Chừng Này Cũng Không Thường Còn
Kinh Đầu Móng Tay (SN 22.97): không có chút uẩn nào thường còn, nên phạm hạnh mới thành tựu; đối chiếu với SN 13.1 và SN 20.2 cùng ẩn dụ.
Bài viết chuyên sâu về Tipiṭaka: Vinaya, Sutta, Abhidhamma
Kinh Đầu Móng Tay (SN 22.97): không có chút uẩn nào thường còn, nên phạm hạnh mới thành tựu; đối chiếu với SN 13.1 và SN 20.2 cùng ẩn dụ.
Tam quy (Khp 1) qua từng chữ Pāli và lịch sử trong Luật tạng: Tapussa, Bhallika quy y hai lời, cha Yasa quy y ba lời, Tam quy làm lễ xuất gia.
Chương Kosambī (Kd 10): tranh chấp lớn nhất trong Tăng thời Đức Phật, chuyện hoàng tử Dīghāvu, Đức Phật một mình trong rừng và con đường trở lại hòa hợp.
Sa-di trong Luật tạng (Kd 1): Rāhula xin gia tài, lễ xuất gia bằng Tam quy, mười học giới, giới hạn hình phạt và mười lý do trục xuất sa-di.
Pāṭidesanīya: bốn giới hối quá liên quan thức ăn, và câu chuyện khởi nguồn: vị ni nhịn đói, gia đình nghèo vì rộng lượng, trú xứ rừng nguy hiểm.
Pācittiya 1: giới cố ý nói dối, chế vì tỳ-khưu Hatthaka. Tám cách nói không thánh thiện, ba điều kiện thành lỗi và những trường hợp không phạm.
Chương Campā (Kd 9): chuyện tỳ-khưu Kassapagotta bị cử tội vô cớ, bốn loại yết-ma, chỉ yết-ma đúng pháp và hòa hợp mới hợp lệ, và năm loại Tăng.
15 tâm sắc giới (rūpāvacara citta): năm tầng thiền theo cách năm của Dhammasaṅgaṇī, nhân với ba loại tâm thiện, quả, duy tác. Bảng chi thiền chi tiết.
Viññatti (biểu tri): thân và khẩu biểu tri, sắc do tâm sinh làm cầu nối giữa ý định và hành động. Định nghĩa trong Dhammasaṅgaṇī và liên hệ với nghiệp.
Tadārammaṇa (na cảnh): hai sát-na tâm quả cuối lộ trình, bắt cùng đối tượng với tốc hành. Mười một tâm na cảnh và ba điều kiện để na cảnh xuất hiện.