Anāgatavaṃsa Metteyya là cụm từ người ta thường dùng khi tìm hiểu về Anāgatavaṃsa (“Sử ký tương lai”), một thi phẩm Pāli hậu kinh điển kể về Đức Phật kế tiếp sẽ xuất hiện ở thế gian, Đức Phật Metteyya (Di Lặc). Tác phẩm không nằm trong Tam Tạng; hạt nhân của nó là vài đoạn ngắn trong Kinh tạng, được truyền thống về sau mở rộng thành một câu chuyện đầy đủ.
Bài viết đọc các đoạn kinh gốc trong bản Chaṭṭha Saṅgāyana (VRI), ghi chép về tác giả trong Gandhavaṃsa, và dựa vào bản dịch Anh của Saya U Chit Tin (BPS) cùng mục từ DPPN để giới thiệu nội dung tác phẩm. Vì văn bản Pāli của Anāgatavaṃsa không có trong bộ VRI, chúng tôi không trích nguyên văn câu kệ của nó.
1. Hồ sơ tác phẩm
- Tên: Anāgatavaṃsa (anāgata = chưa đến, tương lai; vaṃsa = dòng dõi, sử ký)
- Thể loại: thi phẩm (kệ) Pāli, thuộc nhóm “vaṃsa” cùng loại với Buddhavaṃsa
- Tác giả theo truyền thống: Trưởng lão Kassapa; DPPN ghi ngài là người xứ Coḷa (Nam Ấn), và là tác giả Mohavicchedanī
- Niên đại: U Chit Tin ghi tác giả sống khoảng 1160–1230; đây là ước định của học giới, văn bản không tự ghi năm
- Bản in: J. Minayeff biên tập trên Journal of the Pali Text Society 1886; E. Leumann in lại trong Maitreya-samiti (1919)
- Quy mô: bản dịch của U Chit Tin có 142 kệ
- Chú giải: theo Gandhavaṃsa, Trưởng lão Upatissa soạn chú giải cho Anāgatavaṃsa
2. Gandhavaṃsa nói gì về tác giả
Gandhavaṃsa, sách mục lục các tác phẩm Pāli được soạn ở Miến Điện, có đoạn liệt kê sách của Trưởng lão Kassapa:
“Kassapo nāmācariyo mohavicchedanī, vimaticchedanī, dasabuddhavaṃso, anāgatavaṃsoti, catuvidhaṃ pakaraṇaṃ akāsi.” (Gandhavaṃsa, bản VRI)
“Vị thầy tên Kassapa đã soạn bốn bộ sách: Mohavicchedanī, Vimaticchedanī, Dasabuddhavaṃsa và Anāgatavaṃsa.”
Cũng sách này ghi ở đoạn sau: “Upatisso nāmācariyo anāgatavaṃsassa aṭṭhakathaṃ akāsi.” (Vị thầy tên Upatissa soạn chú giải cho Anāgatavaṃsa.) Hai câu này là chứng cứ văn bản sớm nhất mà chúng tôi kiểm tra được về tác giả. Cần lưu ý: Gandhavaṃsa là sách muộn, nên đây là ghi nhận của truyền thống, không phải lời tự thuật của tác giả. Bạn đọc có thể xem thêm về một tác phẩm khác cùng tác giả trong bài Mohavicchedanī.
3. Gốc Kinh tạng: Metteyya trong DN 26 và Buddhavaṃsa
Kinh Chuyển Luân Thánh Vương Sư Tử Hống (DN 26)
Đoạn kinh văn dài nhất về Metteyya nằm cuối Cakkavattisīhanāda Sutta (DN 26), thuộc phẩm Pāthika của Trường Bộ. Sau khi kể về thời đạo đức suy thoái rồi phục hồi, Đức Phật nói đến lúc tuổi thọ con người lên tám vạn năm:
“Asītivassasahassāyukesu, bhikkhave, manussesu metteyyo nāma bhagavā loke uppajjissati arahaṃ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṃ buddho bhagavā.” (DN 26, đoạn 107)
“Này các tỳ-khưu, khi loài người có tuổi thọ tám vạn năm, một Đức Thế Tôn tên Metteyya sẽ xuất hiện ở đời, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.”
Cũng kinh này cho biết thành Bārāṇasī khi ấy sẽ là kinh đô tên Ketumatī, có vua Chuyển luân Saṅkha trị vì; vua sẽ dựng lại cột tế (yūpa) do vua Mahāpanāda làm, rồi bố thí nó và xuất gia nơi Đức Phật Metteyya:
“Atha kho, bhikkhave, saṅkho nāma rājā yo so yūpo raññā mahāpanādena kārāpito.” (DN 26, đoạn 108)
“Rồi, này các tỳ-khưu, vua tên Saṅkha [sẽ dựng lại] cây cột tế mà vua Mahāpanāda đã cho làm.”
Kinh còn nói Metteyya sẽ dẫn dắt một tăng đoàn “nhiều ngàn” vị, trong khi Đức Phật hiện tại dẫn dắt “nhiều trăm”. Chú giải DN (Sumaṅgalavilāsinī) gọi bài kinh này là “imāya anāgatavaṃsadīpikāya suttantakathāya”, tức “bài kinh soi sáng dòng dõi tương lai này”. Nghĩa là ngay từ thời chú giải, DN 26 đã được xem như một “anāgatavaṃsa” bằng văn xuôi.
Buddhavaṃsa
Chương cuối Buddhavaṃsa (Buddhapakiṇṇakakaṇḍa) liệt kê năm vị Phật của kiếp hiện tại, trong đó Metteyya là vị sẽ đến:
“Ahametarahi sambuddho, metteyyo cāpi hessati; Etepime pañca buddhā, dhīrā lokānukampakā.” (Buddhavaṃsa 28, kệ 19)
“Nay Ta là bậc Chánh Giác, và Metteyya cũng sẽ là [Phật]; năm vị Phật này là bậc trí, có lòng thương xót thế gian.”
Xem thêm bài Buddhavaṃsa – Sử ký 28 vị Phật quá khứ. Có thể hình dung Anāgatavaṃsa như một chương “nối dài” của Buddhavaṃsa: Buddhavaṃsa kể các vị Phật đã qua, Anāgatavaṃsa kể vị Phật sẽ đến.
4. Nội dung chính của Anāgatavaṃsa
Theo bản dịch của U Chit Tin, bài thơ mở đầu bằng cảnh Tôn giả Sāriputta (Upatissa) đến hỏi Đức Phật về vị Phật kế tiếp. Phần còn lại là lời Đức Phật trả lời. Có thể tóm các ý chính như sau:
- Thời điểm: trong kiếp hiền này (bhaddakappa), sau một khoảng thời gian rất dài, sẽ có Đức Phật tên Metteyya.
- Nơi chốn: kinh đô Ketumatī (tức Bārāṇasī như DN 26 nói), dài mười hai do-tuần, rộng bảy do-tuần, có vua Chuyển luân Saṅkha.
- Gia đình: cha là Subrahmā, vị quốc sư (purohita) của vua Saṅkha; mẹ là Brahmavatī. DPPN và U Chit Tin ghi tên thời tại gia của ngài là Ajita, vợ là Candamukhī, con là Brahmavaddhana.
- Xuất gia và thành đạo: ngài rời nhà cùng rất đông người thuộc nhiều giai cấp và giác ngộ dưới cây Bồ-đề nāga (cây Long thọ).
- Tăng đoàn: hai đại đệ tử là Asoka và Brahmadeva; thị giả là Sīha; hai đại đệ tử ni là Padumā và Sumanā. Vua Saṅkha dâng cung điện cho Tăng rồi xuất gia.
- Lời kết: ai muốn gặp Đức Phật Metteyya thì hãy tinh tấn, sống không phóng dật, giữ giới, bố thí.
Những chi tiết như tên cha mẹ, vợ con, hai đại đệ tử, cây Bồ-đề nāga không có trong DN 26. Chúng thuộc lớp truyền thống hậu kinh điển, được Anāgatavaṃsa và chú giải của nó ghi lại.
5. Từ một lời tiên báo đến một niềm hy vọng
Anāgatavaṃsa không đứng một mình. Biên niên sử Sri Lanka Mahāvaṃsa (chương 32) kể rằng vua Duṭṭhagāmaṇī, sau khi băng hà, sẽ là đại đệ tử của Metteyya:
“Duṭṭhagāmaṇirājā so, rājā nāmāraho mahā; Metteyyassa bhagavato, hessati aggasāvako.” (Mahāvaṃsa 32, kệ 81)
“Vua Duṭṭhagāmaṇī ấy, vị vua lớn xứng với danh hiệu vua, sẽ là đại đệ tử của Đức Thế Tôn Metteyya.”
Lưu ý: đây là truyền thống riêng của Mahāvaṃsa, khác với danh sách đại đệ tử trong Anāgatavaṃsa (Asoka và Brahmadeva). Hai nguồn hậu kinh điển không nhất thiết khớp nhau, và người đọc nên ghi nhận sự khác biệt ấy thay vì cố hòa giải.
Đi kèm với niềm hy vọng là ý thức về sự suy tàn. Chú giải Aṅguttara (Manorathapūraṇī) nêu năm sự biến mất của giáo pháp:
“tattha pañca antaradhānāni nāma adhigamaantaradhānaṃ, paṭipattiantaradhānaṃ, pariyattiantaradhānaṃ, liṅgaantaradhānaṃ, dhātuantaradhānanti.” (Manorathapūraṇī, Dutiyapamādādivaggavaṇṇanā)
“Năm sự biến mất là: biến mất sự chứng đắc, biến mất sự thực hành, biến mất kinh điển học tập, biến mất hình tướng [tăng sĩ], biến mất xá-lợi.”
Ở các nước Theravāda, ý niệm này giải thích vì sao Anāgatavaṃsa được tụng đọc và giảng: giáo pháp của Đức Phật Gotama rồi sẽ mờ dần, và phước báu hôm nay là duyên để gặp Đức Phật kế tiếp.
Năm từ Pāli cần nhớ
| Từ Pāli | Nghĩa | Ngữ cảnh |
|---|---|---|
| anāgata | chưa đến, tương lai | nhan đề tác phẩm |
| Metteyya | tên Đức Phật tương lai, liên hệ với mettā (tâm từ) | DN 26, Buddhavaṃsa 28 |
| Ketumatī | kinh đô tương lai, tức Bārāṇasī | DN 26, đoạn 106 |
| cakkavattī | vua Chuyển luân | vua Saṅkha |
| antaradhāna | sự biến mất | năm sự biến mất của giáo pháp |
Một điểm dễ hiểu sai
Nhiều người nghĩ rằng toàn bộ câu chuyện về Phật Metteyya, từ tên vợ con đến cây Bồ-đề, đều là lời Phật dạy trong kinh. Thực ra Kinh tạng chỉ cho biết vài điểm: tên Metteyya, thời tuổi thọ tám vạn năm, kinh đô Ketumatī, vua Saṅkha xuất gia, và một tăng đoàn đông đảo. Phần còn lại đến từ Anāgatavaṃsa và chú giải của nó, là những tác phẩm hậu kinh điển. Điều này không làm giảm giá trị của tác phẩm, nhưng giúp ta biết câu nào là kinh, câu nào là truyền thống.
Điểm thứ hai: Metteyya của Theravāda khác với hình tượng Phật Di Lặc bụng phệ, cười vui trong văn hóa Đông Á. Hình tượng sau gắn với truyền thuyết về một vị tăng Trung Hoa, không có trong văn học Pāli.
Ứng dụng trong đời sống
- Đọc kinh trước, truyện sau: khi nghe kể về Phật tương lai, mở DN 26 đọc đoạn 106–108 để biết phần nào là lời kinh.
- Không trì hoãn: lời kết của Anāgatavaṃsa khuyên tinh tấn ngay bây giờ; hy vọng vào tương lai không thay được việc tu tập hôm nay, như tinh thần của bài Telakaṭāhagāthā.
- Nuôi tâm từ: tên Metteyya gợi đến mettā; có thể dùng việc tưởng niệm Phật tương lai làm duyên rải tâm từ mỗi ngày.
- Tôn trọng giáo pháp hiện tại: ý niệm năm sự biến mất nhắc ta học và giữ kinh điển khi chúng còn đầy đủ.
Ba câu hỏi ôn tập
- Theo DN 26, Đức Phật Metteyya xuất hiện khi tuổi thọ loài người là bao nhiêu?
- Gandhavaṃsa ghi ai là tác giả Anāgatavaṃsa và ai soạn chú giải?
- Theo Mahāvaṃsa, vị vua Sri Lanka nào sẽ là đại đệ tử của Metteyya?
Đáp án: (1) Tám vạn năm. (2) Trưởng lão Kassapa soạn tác phẩm, Trưởng lão Upatissa soạn chú giải. (3) Vua Duṭṭhagāmaṇī.
Câu hỏi thường gặp
Anāgatavaṃsa có thuộc Tam Tạng Pāli không?
Không. Đây là tác phẩm hậu kinh điển, không có trong bộ Chaṭṭha Saṅgāyana của VRI. Các đoạn kinh về Metteyya trong Tam Tạng nằm ở DN 26 và Buddhavaṃsa.
Có thể đọc Anāgatavaṃsa ở đâu?
Bản Pāli do Minayeff biên tập đăng trên JPTS 1886; bản dịch Anh có trong sách The Coming Buddha, Ariya Metteyya của Saya U Chit Tin do BPS phát hành, và H.C. Warren (Buddhism in Translations, §102) dịch một bản chép tay văn xuôi xen kệ mà Minayeff đã dùng.
Một câu ghi nhớ
“Nay Ta là bậc Chánh Giác, và Metteyya cũng sẽ là Phật.” (Buddhavaṃsa 28, kệ 19)
Nguồn tham khảo
- Cakkavattisīhanāda Sutta (DN 26), bản Pāli VRI: s0103m.mul2.xml; bản Pāli và dịch Anh: SuttaCentral DN 26
- Buddhavaṃsa, chương 28, bản VRI: s0511m.mul27.xml
- Gandhavaṃsa (Cūḷaganthavaṃsa), bản VRI: e0701n.nrf1.xml
- Manorathapūraṇī (chú giải Aṅguttara, Ekakanipāta), bản VRI: s0401a.att10.xml
- Saya U Chit Tin, The Coming Buddha, Ariya Metteyya, Wheel 381, BPS: bps.lk
- G.P. Malalasekera, Dictionary of Pāli Proper Names, mục “Anāgatavaṃsa”: aimwell.org/DPPN
