Đại Kinh Khổ Uẩn (Mahādukkhakkhandhasutta, MN 13) ghi lại câu trả lời của Đức Thế Tôn khi các du sĩ ngoại đạo cho rằng họ cũng dạy sự liễu tri các dục, các sắc và các thọ như Sa-môn Gotama: điểm khác biệt nằm ở ba câu hỏi về vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly. Bài này đặt nguyên văn Pāli bản Chaṭṭha Saṅgāyana (VRI) song song với bản dịch tiếng Việt và tiếng Anh sát chữ cho trọn kinh (§163–174), kèm chú thích ngữ pháp, thuật ngữ và dị bản cho người học Pāli.
Hồ sơ bản văn
Tạng: Sutta Piṭaka › Majjhimanikāya › Mūlapaṇṇāsapāḷi › 2. Sīhanādavagga › 13. Mahādukkhakkhandhasutta
Nơi thuyết: Sāvatthī, Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika
Người thuyết: Đức Thế Tôn
Người nghe / nhân vật: nhóm đông các tỳ-khưu; các du sĩ ngoại đạo (được thuật lại)
Bản Pāli: Chaṭṭha Saṅgāyana Tipiṭaka, Vipassana Research Institute (tipitaka.org), đoạn §163–174
Bản dịch: Theravada.blog, dịch trực tiếp từ Pāli sang Việt và Anh, văn phong sát chữ
Tạng: Sutta Piṭaka › Majjhimanikāya › Mūlapaṇṇāsapāḷi › 2. Sīhanādavagga › 13. Mahādukkhakkhandhasutta
Nơi thuyết: Sāvatthī, Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika
Người thuyết: Đức Thế Tôn
Người nghe / nhân vật: nhóm đông các tỳ-khưu; các du sĩ ngoại đạo (được thuật lại)
Bản Pāli: Chaṭṭha Saṅgāyana Tipiṭaka, Vipassana Research Institute (tipitaka.org), đoạn §163–174
Bản dịch: Theravada.blog, dịch trực tiếp từ Pāli sang Việt và Anh, văn phong sát chữ
Mục lục
Quy ước trình bày · §163–164 – Câu hỏi của các du sĩ ngoại đạo · §165 – Ba câu hỏi đáp lại: vị ngọt, nguy hại, xuất ly · §166 – Vị ngọt của các dục: năm dục công đức · §167 – Sự nguy hại của các dục: mưu sinh và giữ của · §168 – Tranh chấp và chiến tranh · §169 – Hình phạt của vua và đọa xứ · §170 – Sự xuất ly khỏi các dục · §171–172 – Vị ngọt, nguy hại và xuất ly của các sắc · §173–174 – Vị ngọt, nguy hại và xuất ly của các thọ · Thuật ngữ · Nguồn
Quy ước trình bày · §163–164 – Câu hỏi của các du sĩ ngoại đạo · §165 – Ba câu hỏi đáp lại: vị ngọt, nguy hại, xuất ly · §166 – Vị ngọt của các dục: năm dục công đức · §167 – Sự nguy hại của các dục: mưu sinh và giữ của · §168 – Tranh chấp và chiến tranh · §169 – Hình phạt của vua và đọa xứ · §170 – Sự xuất ly khỏi các dục · §171–172 – Vị ngọt, nguy hại và xuất ly của các sắc · §173–174 – Vị ngọt, nguy hại và xuất ly của các thọ · Thuật ngữ · Nguồn
Quy ước trình bày
- Mỗi hàng gồm ba ô: Pāli (nền kem, in nghiêng) · Tiếng Việt · English. Trên điện thoại, ba ô tự xếp dọc theo thứ tự đó.
- Số đoạn (§) theo bản VRI; ví dụ “MN 13 §167.4” là ý thứ tư trong đoạn 167. Bản VRI đánh số liên tục trong cả Mūlapaṇṇāsa, nên MN 13 gồm §163–174. Dòng căn giữa cuối bảng là câu kết kinh của chính bản Pāli.
- Chữ nhỏ màu xám trong ngoặc vuông là dị bản hoặc ghi chú do chính bản VRI ghi: sī. (Tích Lan), syā. (Thái), kaṃ. (Campuchia), pī. (PTS), ka. (bản khác).
- Ký hiệu tỉnh lược …pe… của bản Pāli (§166, §173) được giữ nguyên; bản Việt ghi “… (như trên)…”, bản Anh “… (and so on)…”. Các đoạn lặp lại đầy đủ trong nguồn (điệp khúc “khối khổ do dục làm nhân…” ở §167–169, câu hỏi “vẻ đẹp trước kia đã biến mất…” ở §171–172) đều được dịch đầy đủ.
- Dịch sát chữ: giữ trật tự và hình thái của câu Pāli, không thêm chữ diễn giải vào thân bản dịch (chữ trong ngoặc đơn ( ) ở bản Việt và ngoặc vuông [ ] ở bản Anh là phần ngầm hiểu). Phần giải thích đặt riêng trong các dòng Chú thích.
Bản văn song ngữ Pāli – Việt – Anh
Pāli (VRI)
Tiếng Việt
English
§163–164 – Câu hỏi của các du sĩ ngoại đạo
Evaṃ me sutaṃ – ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Như vầy tôi nghe – một thời Đức Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika.
Thus have I heard – on one occasion the Blessed One was dwelling at Sāvatthī, in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s park.
Atha kho sambahulā bhikkhū pubbaṇhasamayaṃ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiṃ piṇḍāya pāvisiṃsu.
Rồi nhiều tỳ-khưu, vào buổi sáng, đắp y, mang bát và y, đi vào Sāvatthī để khất thực.
Then a number of bhikkhus, in the morning, having dressed, taking bowl and robe, entered Sāvatthī for alms.
Atha kho tesaṃ bhikkhūnaṃ etadahosi – ‘‘atippago kho tāva sāvatthiyaṃ piṇḍāya carituṃ, yaṃ nūna mayaṃ yena aññatitthiyānaṃ paribbājakānaṃ ārāmo tenupasaṅkameyyāmā’’ti.
Rồi các tỳ-khưu ấy khởi lên ý nghĩ này: “Nay còn quá sớm để đi khất thực ở Sāvatthī; vậy chúng ta hãy đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo.”
Then this occurred to those bhikkhus: “It is still too early to wander for alms in Sāvatthī; what if we were to go to the park of the wanderers of other sects?”
Atha kho te bhikkhū yena aññatitthiyānaṃ paribbājakānaṃ ārāmo tenupasaṅkamiṃsu; upasaṅkamitvā tehi aññatitthiyehi paribbājakehi saddhiṃ sammodiṃsu; sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā ekamantaṃ nisīdiṃsu.
Rồi các tỳ-khưu ấy đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo; sau khi đến, họ chào hỏi với các du sĩ ngoại đạo ấy; sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân hữu, họ ngồi xuống một bên.
Then those bhikkhus went to the park of the wanderers of other sects; having gone, they exchanged greetings with those wanderers of other sects; having concluded friendly and courteous talk, they sat down to one side.
Ekamantaṃ nisinne kho te bhikkhū te aññatitthiyā paribbājakā etadavocuṃ – ‘‘samaṇo, āvuso, gotamo kāmānaṃ pariññaṃ paññapeti, mayampi kāmānaṃ pariññaṃ paññapema; samaṇo, āvuso, gotamo rūpānaṃ pariññaṃ paññapeti, mayampi rūpānaṃ pariññaṃ paññapema; samaṇo, āvuso, gotamo vedanānaṃ pariññaṃ paññapeti, mayampi vedanānaṃ pariññaṃ paññapema;
Khi các tỳ-khưu ấy đang ngồi một bên, các du sĩ ngoại đạo ấy nói với họ như sau: “Này chư hiền, Sa-môn Gotama chủ trương sự liễu tri các dục, chúng tôi cũng chủ trương sự liễu tri các dục; này chư hiền, Sa-môn Gotama chủ trương sự liễu tri các sắc, chúng tôi cũng chủ trương sự liễu tri các sắc; này chư hiền, Sa-môn Gotama chủ trương sự liễu tri các thọ, chúng tôi cũng chủ trương sự liễu tri các thọ;
When those bhikkhus were seated to one side, those wanderers of other sects said this to them: “Friends, the recluse Gotama describes the full understanding of sensual pleasures, we too describe the full understanding of sensual pleasures; friends, the recluse Gotama describes the full understanding of forms, we too describe the full understanding of forms; friends, the recluse Gotama describes the full understanding of feelings, we too describe the full understanding of feelings;
idha no, āvuso, ko viseso, ko adhippayāso, kiṃ nānākaraṇaṃ samaṇassa vā gotamassa amhākaṃ vā – yadidaṃ dhammadesanāya vā dhammadesanaṃ, anusāsaniyā vā anusāsani’’nti?
vậy thì, này chư hiền, ở đây đâu là sự đặc biệt, đâu là sự khác biệt về chủ đích, đâu là sự sai khác giữa Sa-môn Gotama và chúng tôi – tức là giữa thuyết pháp với thuyết pháp, giữa giáo huấn với giáo huấn?”
here, friends, what is the distinction, what is the difference in aim, what is the disparity between the recluse Gotama and us – that is, as regards teaching of the Dhamma with teaching of the Dhamma, instruction with instruction?”
Atha kho te bhikkhū tesaṃ aññatitthiyānaṃ paribbājakānaṃ bhāsitaṃ neva abhinandiṃsu, nappaṭikkosiṃsu; anabhinanditvā appaṭikkositvā uṭṭhāyāsanā pakkamiṃsu – ‘‘bhagavato santike etassa bhāsitassa atthaṃ ājānissāmā’’ti.
Rồi các tỳ-khưu ấy không hoan hỷ cũng không bác bỏ lời nói của các du sĩ ngoại đạo ấy; không hoan hỷ, không bác bỏ, họ đứng dậy khỏi chỗ ngồi và ra đi, (nghĩ rằng): “Chúng ta sẽ hiểu ý nghĩa của lời nói này trước mặt Đức Thế Tôn.”
Then those bhikkhus neither delighted in nor rejected the statement of those wanderers of other sects; without delighting, without rejecting, they rose from their seats and departed, [thinking]: “We shall learn the meaning of this statement in the presence of the Blessed One.”
Chú thích: Pariññā (pari + √ñā) “liễu tri”, “biết trọn vẹn”; paññapeti (causative của pa + √ñā) “làm cho được biết, chủ trương, trình bày”. Theo Chú giải, các du sĩ ngoại đạo hiểu “liễu tri các dục” là sơ thiền, “liễu tri các sắc” là các cõi vô sắc, “liễu tri các thọ” là cõi vô tưởng – nên họ chỉ trùng với Thế Tôn về danh từ. Adhippayāsa: “sự khác biệt về chủ đích” (adhi + pa + √yas, “nỗ lực hướng tới”); cách hiểu chính xác của từ này còn được bàn luận.
Atha kho te bhikkhū sāvatthiyaṃ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṃ piṇḍapātapaṭikkantā yena bhagavā tenupasaṅkamiṃsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdiṃsu.
Rồi các tỳ-khưu ấy, sau khi khất thực ở Sāvatthī, sau bữa ăn, khi đi khất thực trở về, đi đến Đức Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Then those bhikkhus, having wandered for alms in Sāvatthī, after the meal, on returning from their alms round, went to the Blessed One; having gone, having paid homage to the Blessed One, they sat down to one side.
Ekamantaṃ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṃ etadavocuṃ – ‘‘idha mayaṃ, bhante, pubbaṇhasamayaṃ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiṃ piṇḍāya pāvisimha.
Ngồi xuống một bên, các tỳ-khưu ấy bạch Đức Thế Tôn như sau: “Ở đây, bạch Thế Tôn, vào buổi sáng, chúng con đắp y, mang bát và y, đi vào Sāvatthī để khất thực.
Seated to one side, those bhikkhus said this to the Blessed One: “Here, venerable sir, in the morning, having dressed, taking bowl and robe, we entered Sāvatthī for alms.
Tesaṃ no, bhante, amhākaṃ etadahosi – ‘atippago kho tāva sāvatthiyaṃ piṇḍāya carituṃ, yaṃ nūna mayaṃ yena aññatitthiyānaṃ paribbājakānaṃ ārāmo tenupasaṅkameyyāmā’ti.
Bạch Thế Tôn, chúng con khởi lên ý nghĩ này: ‘Nay còn quá sớm để đi khất thực ở Sāvatthī; vậy chúng ta hãy đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo.’
This occurred to us, venerable sir: ‘It is still too early to wander for alms in Sāvatthī; what if we were to go to the park of the wanderers of other sects?’
Atha kho mayaṃ, bhante, yena aññatitthiyānaṃ paribbājakānaṃ ārāmo tenupasaṅkamimha; upasaṅkamitvā tehi aññatitthiyehi paribbājakehi saddhiṃ sammodimha; sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā ekamantaṃ nisīdimha.
Rồi, bạch Thế Tôn, chúng con đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo; sau khi đến, chúng con chào hỏi với các du sĩ ngoại đạo ấy; sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân hữu, chúng con ngồi xuống một bên.
Then, venerable sir, we went to the park of the wanderers of other sects; having gone, we exchanged greetings with those wanderers of other sects; having concluded friendly and courteous talk, we sat down to one side.
Ekamantaṃ nisinne kho amhe, bhante, te aññatitthiyā paribbājakā etadavocuṃ – ‘samaṇo, āvuso, gotamo kāmānaṃ pariññaṃ paññapeti, mayampi kāmānaṃ pariññaṃ paññapema. Samaṇo, āvuso, gotamo rūpānaṃ pariññaṃ paññapeti, mayampi rūpānaṃ pariññaṃ paññapema. Samaṇo, āvuso, gotamo vedanānaṃ pariññaṃ paññapeti, mayampi vedanānaṃ pariññaṃ paññapema.
Bạch Thế Tôn, khi chúng con đang ngồi một bên, các du sĩ ngoại đạo ấy nói với chúng con như sau: ‘Này chư hiền, Sa-môn Gotama chủ trương sự liễu tri các dục, chúng tôi cũng chủ trương sự liễu tri các dục. Này chư hiền, Sa-môn Gotama chủ trương sự liễu tri các sắc, chúng tôi cũng chủ trương sự liễu tri các sắc. Này chư hiền, Sa-môn Gotama chủ trương sự liễu tri các thọ, chúng tôi cũng chủ trương sự liễu tri các thọ.
When we were seated to one side, venerable sir, those wanderers of other sects said this to us: ‘Friends, the recluse Gotama describes the full understanding of sensual pleasures, we too describe the full understanding of sensual pleasures. Friends, the recluse Gotama describes the full understanding of forms, we too describe the full understanding of forms. Friends, the recluse Gotama describes the full understanding of feelings, we too describe the full understanding of feelings.
Idha no, āvuso, ko viseso, ko adhippayāso, kiṃ nānākaraṇaṃ samaṇassa vā gotamassa amhākaṃ vā, yadidaṃ dhammadesanāya vā dhammadesanaṃ anusāsaniyā vā anusāsani’nti.
Vậy thì, này chư hiền, ở đây đâu là sự đặc biệt, đâu là sự khác biệt về chủ đích, đâu là sự sai khác giữa Sa-môn Gotama và chúng tôi, tức là giữa thuyết pháp với thuyết pháp, giữa giáo huấn với giáo huấn?’
Here, friends, what is the distinction, what is the difference in aim, what is the disparity between the recluse Gotama and us, that is, as regards teaching of the Dhamma with teaching of the Dhamma, instruction with instruction?’
Atha kho mayaṃ, bhante, tesaṃ aññatitthiyānaṃ paribbājakānaṃ bhāsitaṃ neva abhinandimha, nappaṭikkosimha; anabhinanditvā appaṭikkositvā uṭṭhāyāsanā pakkamimha – ‘bhagavato santike etassa bhāsitassa atthaṃ ājānissāmā’’’ti.
Rồi, bạch Thế Tôn, chúng con không hoan hỷ cũng không bác bỏ lời nói của các du sĩ ngoại đạo ấy; không hoan hỷ, không bác bỏ, chúng con đứng dậy khỏi chỗ ngồi và ra đi, (nghĩ rằng): ‘Chúng ta sẽ hiểu ý nghĩa của lời nói này trước mặt Đức Thế Tôn.’”
Then, venerable sir, we neither delighted in nor rejected the statement of those wanderers of other sects; without delighting, without rejecting, we rose from our seats and departed, [thinking]: ‘We shall learn the meaning of this statement in the presence of the Blessed One.’”
§165 – Ba câu hỏi đáp lại: vị ngọt, nguy hại, xuất ly
‘‘Evaṃvādino, bhikkhave, aññatitthiyā paribbājakā evamassu vacanīyā – ‘ko panāvuso, kāmānaṃ assādo, ko ādīnavo, kiṃ nissaraṇaṃ? Ko rūpānaṃ assādo, ko ādīnavo, kiṃ nissaraṇaṃ? Ko vedanānaṃ assādo, ko ādīnavo, kiṃ nissaraṇa’nti?
“Này các tỳ-khưu, các du sĩ ngoại đạo nói như vậy cần được hỏi như sau: ‘Nhưng này chư hiền, đâu là vị ngọt của các dục, đâu là sự nguy hại, đâu là sự xuất ly? Đâu là vị ngọt của các sắc, đâu là sự nguy hại, đâu là sự xuất ly? Đâu là vị ngọt của các thọ, đâu là sự nguy hại, đâu là sự xuất ly?’
“Bhikkhus, wanderers of other sects who speak thus should be asked thus: ‘But, friends, what is the gratification of sensual pleasures, what is the danger, what is the escape? What is the gratification of forms, what is the danger, what is the escape? What is the gratification of feelings, what is the danger, what is the escape?’
Evaṃ puṭṭhā, bhikkhave, aññatitthiyā paribbājakā na ceva sampāyissanti, uttariñca vighātaṃ āpajjissanti.
Này các tỳ-khưu, được hỏi như vậy, các du sĩ ngoại đạo sẽ không thể giải đáp, và hơn nữa sẽ rơi vào khốn quẫn.
Being asked thus, bhikkhus, the wanderers of other sects will not be able to answer, and moreover they will fall into vexation.
Taṃ kissa hetu? Yathā taṃ, bhikkhave, avisayasmiṃ.
Vì cớ sao? Này các tỳ-khưu, vì như vậy là (hỏi) điều không thuộc lãnh vực (của họ).
For what reason? Because, bhikkhus, that is [asking] what is outside their domain.
Nāhaṃ taṃ, bhikkhave, passāmi sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya yo imesaṃ pañhānaṃ veyyākaraṇena cittaṃ ārādheyya, aññatra tathāgatena vā tathāgatasāvakena vā, ito vā pana sutvā.
Này các tỳ-khưu, Ta không thấy một ai, trong thế giới cùng với chư thiên, cùng với Ma vương, cùng với Phạm thiên, trong chúng sinh cùng với Sa-môn và Bà-la-môn, cùng với chư thiên và loài người, có thể làm cho tâm (người hỏi) hài lòng bằng sự giải đáp những câu hỏi này, ngoại trừ Như Lai hay đệ tử của Như Lai, hoặc người đã được nghe từ nơi đây.
I do not see anyone, bhikkhus, in the world with its devas, its Māras and its Brahmās, in this generation with its recluses and brahmins, with its devas and humans, who could satisfy the mind with an answer to these questions, except the Tathāgata or a disciple of the Tathāgata, or one who has heard it from here.
Chú thích: Ba phạm trù assāda (vị ngọt, sự thỏa thích), ādīnava (sự nguy hại, hiểm họa) và nissaraṇa (sự xuất ly, lối thoát) là khung sườn của toàn bài kinh, được áp dụng lần lượt cho dục (§166–170), sắc (§171–172) và thọ (§173–174). Yathā taṃ … avisayasmiṃ: thành ngữ “như vậy là ở nơi không phải lãnh vực”, tức câu hỏi vượt ngoài tầm hiểu biết của họ. Sampāyissanti (tương lai của sampāyati) “sẽ giải đáp được”.
§166 – Vị ngọt của các dục: năm dục công đức
‘‘Ko ca, bhikkhave, kāmānaṃ assādo? Pañcime, bhikkhave, kāmaguṇā. Katame pañca?
“Và này các tỳ-khưu, đâu là vị ngọt của các dục? Này các tỳ-khưu, có năm dục công đức này. Thế nào là năm?
“And what, bhikkhus, is the gratification of sensual pleasures? Bhikkhus, there are these five cords of sensual pleasure. What five?
Cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā rajanīyā, sotaviññeyyā saddā…pe… ghānaviññeyyā gandhā … jivhāviññeyyā rasā… kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā rajanīyā – ime kho, bhikkhave, pañca kāmaguṇā.
Các sắc do mắt nhận thức, khả lạc, khả ái, khả ý, có dáng dấp dễ thương, liên hệ đến dục, hấp dẫn; các tiếng do tai nhận thức… (như trên)… các hương do mũi nhận thức… các vị do lưỡi nhận thức… các xúc do thân nhận thức, khả lạc, khả ái, khả ý, có dáng dấp dễ thương, liên hệ đến dục, hấp dẫn – này các tỳ-khưu, đây là năm dục công đức.
Forms cognizable by the eye that are desirable, agreeable, pleasing, likeable, connected with sensual desire, enticing; sounds cognizable by the ear… (and so on)… odours cognizable by the nose… flavours cognizable by the tongue… tangibles cognizable by the body that are desirable, agreeable, pleasing, likeable, connected with sensual desire, enticing – these, bhikkhus, are the five cords of sensual pleasure.
Yaṃ kho, bhikkhave, ime pañca kāmaguṇe paṭicca uppajjati sukhaṃ somanassaṃ – ayaṃ kāmānaṃ assādo.
Này các tỳ-khưu, lạc và hỷ nào khởi lên do duyên năm dục công đức này – đây là vị ngọt của các dục.
Whatever pleasure and joy arise, bhikkhus, dependent on these five cords of sensual pleasure – this is the gratification of sensual pleasures.
§167 – Sự nguy hại của các dục: mưu sinh và giữ của
‘‘Ko ca, bhikkhave, kāmānaṃ ādīnavo? Idha, bhikkhave, kulaputto yena sippaṭṭhānena jīvikaṃ kappeti – yadi muddāya yadi gaṇanāya yadi saṅkhānena [saṅkhāya (ka.)] yadi kasiyā yadi vaṇijjāya yadi gorakkhena yadi issatthena yadi rājaporisena yadi sippaññatarena – sītassa purakkhato uṇhassa purakkhato ḍaṃsamakasavātātapasarīṃsapasamphassehi rissamāno [īrayamāno (ka.), samphassamāno (cūḷani. khaggavisāṇasutta 136)] khuppipāsāya mīyamāno;
“Và này các tỳ-khưu, đâu là sự nguy hại của các dục? Ở đây, này các tỳ-khưu, một thiện gia nam tử nuôi sống bằng một nghề nghiệp – hoặc bằng ấn toán, hoặc bằng kế toán, hoặc bằng tính toán, hoặc bằng nông nghiệp, hoặc bằng thương mại, hoặc bằng chăn bò, hoặc bằng nghề cung tên, hoặc bằng việc phục vụ vua, hoặc bằng một nghề nào khác – phải đương đầu với lạnh, phải đương đầu với nóng, bị khổ sở vì sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, nắng và loài bò sát, bị chết mòn vì đói khát;
“And what, bhikkhus, is the danger in sensual pleasures? Here, bhikkhus, a clansman earns his living by some craft – whether by reckoning on the fingers, by computation, by calculation, by farming, by trading, by cattle-keeping, by archery, by royal service, or by some other craft – he has to face cold, he has to face heat, he is afflicted by contact with gadflies, mosquitoes, wind, sun and creeping things, he is dying from hunger and thirst;
ayampi, bhikkhave, kāmānaṃ ādīnavo sandiṭṭhiko, dukkhakkhandho kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu.
này các tỳ-khưu, đây cũng là sự nguy hại của các dục, thiết thực hiện tại, là khối khổ do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm duyên khởi, chính do nhân các dục.
this too, bhikkhus, is a danger in sensual pleasures, visible here and now, a mass of suffering having sensual pleasures as its cause, sensual pleasures as its source, sensual pleasures as its basis, the cause being simply sensual pleasures.
Chú thích: Dukkhakkhandha = dukkha + khandha “khối, đống khổ” – từ đây có tên kinh Mahādukkhakkhandha (Đại Kinh Khổ Uẩn). Bốn cụm kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu được giữ nguyên trật tự: nhân, nguồn gốc, duyên khởi (adhikaraṇa, “nền tảng, cớ sự”), và nhấn mạnh “chính do nhân các dục”. Sandiṭṭhika “thiết thực hiện tại” (thấy được ngay đời này) đối lập với samparāyika “thuộc đời sau” ở §169. Ba nghề đầu muddā, gaṇanā, saṅkhāna là các lối tính toán; ranh giới chính xác giữa chúng còn được bàn luận. Rissamāno có dị bản samphassamāno như ghi trong ngoặc vuông.
‘‘Tassa ce, bhikkhave, kulaputtassa evaṃ uṭṭhahato ghaṭato vāyamato te bhogā nābhinipphajjanti.
“Này các tỳ-khưu, nếu thiện gia nam tử ấy, dù nỗ lực, cố gắng, tinh tấn như vậy, mà các tài sản ấy không thành tựu.
“If, bhikkhus, while that clansman strives, exerts himself and makes effort thus, those possessions do not come to fruition,
So socati kilamati paridevati urattāḷiṃ kandati, sammohaṃ āpajjati – ‘moghaṃ vata me uṭṭhānaṃ, aphalo vata me vāyāmo’ti.
Người ấy sầu muộn, mệt mỏi, than vãn, đấm ngực khóc lóc, rơi vào mê loạn: ‘Thật vô ích sự nỗ lực của ta, thật không kết quả sự tinh tấn của ta!’
he sorrows, grieves and laments, he weeps beating his breast and becomes distraught: ‘My striving is in vain indeed, my effort is fruitless indeed!’
Ayampi, bhikkhave, kāmānaṃ ādīnavo sandiṭṭhiko dukkhakkhandho kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu.
Này các tỳ-khưu, đây cũng là sự nguy hại của các dục, thiết thực hiện tại, là khối khổ do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm duyên khởi, chính do nhân các dục.
This too, bhikkhus, is a danger in sensual pleasures, visible here and now, a mass of suffering having sensual pleasures as its cause, sensual pleasures as its source, sensual pleasures as its basis, the cause being simply sensual pleasures.
‘‘Tassa ce, bhikkhave, kulaputtassa evaṃ uṭṭhahato ghaṭato vāyamato te bhogā abhinipphajjanti. So tesaṃ bhogānaṃ ārakkhādhikaraṇaṃ dukkhaṃ domanassaṃ paṭisaṃvedeti – ‘kinti me bhoge neva rājāno hareyyuṃ, na corā hareyyuṃ, na aggi daheyya, na udakaṃ vaheyya [vāheyya (ka.)], na appiyā dāyādā hareyyu’nti.
“Này các tỳ-khưu, nếu thiện gia nam tử ấy, nỗ lực, cố gắng, tinh tấn như vậy, mà các tài sản ấy thành tựu. Người ấy cảm thọ khổ và ưu do việc bảo vệ các tài sản ấy: ‘Làm sao để các vua không đoạt lấy tài sản của ta, các kẻ trộm không đoạt lấy, lửa không thiêu đốt, nước không cuốn trôi, những kẻ thừa tự không ưa thích không đoạt lấy?’
“If, bhikkhus, while that clansman strives, exerts himself and makes effort thus, those possessions come to fruition, he experiences pain and grief on account of guarding those possessions: ‘How can kings not seize my possessions, nor thieves seize them, nor fire burn them, nor water sweep them away, nor hateful heirs seize them?’
Tassa evaṃ ārakkhato gopayato te bhoge rājāno vā haranti, corā vā haranti, aggi vā dahati, udakaṃ vā vahati, appiyā vā dāyādā haranti.
Trong khi người ấy bảo vệ, canh giữ như vậy, các vua đoạt lấy, hoặc các kẻ trộm đoạt lấy, hoặc lửa thiêu đốt, hoặc nước cuốn trôi, hoặc những kẻ thừa tự không ưa thích đoạt lấy các tài sản ấy.
While he guards and protects them thus, kings seize those possessions, or thieves seize them, or fire burns them, or water sweeps them away, or hateful heirs seize them.
So socati kilamati paridevati urattāḷiṃ kandati, sammohaṃ āpajjati – ‘yampi me ahosi tampi no natthī’ti.
Người ấy sầu muộn, mệt mỏi, than vãn, đấm ngực khóc lóc, rơi vào mê loạn: ‘Cái gì của ta trước đây, nay cái ấy không còn nữa!’
He sorrows, grieves and laments, he weeps beating his breast and becomes distraught: ‘Even what I had is no longer mine!’
Ayampi, bhikkhave, kāmānaṃ ādīnavo sandiṭṭhiko, dukkhakkhandho kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu.
Này các tỳ-khưu, đây cũng là sự nguy hại của các dục, thiết thực hiện tại, là khối khổ do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm duyên khởi, chính do nhân các dục.
This too, bhikkhus, is a danger in sensual pleasures, visible here and now, a mass of suffering having sensual pleasures as its cause, sensual pleasures as its source, sensual pleasures as its basis, the cause being simply sensual pleasures.
§168 – Tranh chấp và chiến tranh
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu rājānopi rājūhi vivadanti, khattiyāpi khattiyehi vivadanti, brāhmaṇāpi brāhmaṇehi vivadanti, gahapatīpi gahapatīhi vivadanti, mātāpi puttena vivadati, puttopi mātarā vivadati, pitāpi puttena vivadati, puttopi pitarā vivadati, bhātāpi bhātarā vivadati, bhātāpi bhaginiyā vivadati, bhaginīpi bhātarā vivadati, sahāyopi sahāyena vivadati.
“Lại nữa, này các tỳ-khưu, do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm duyên khởi, chính do nhân các dục, vua tranh chấp với vua, Sát-đế-lỵ tranh chấp với Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn tranh chấp với Bà-la-môn, gia chủ tranh chấp với gia chủ, mẹ tranh chấp với con, con tranh chấp với mẹ, cha tranh chấp với con, con tranh chấp với cha, anh em tranh chấp với anh em, anh tranh chấp với chị em, chị em tranh chấp với anh em, bạn tranh chấp với bạn.
“Again, bhikkhus, with sensual pleasures as the cause, sensual pleasures as the source, sensual pleasures as the basis, the cause being simply sensual pleasures, kings quarrel with kings, khattiyas quarrel with khattiyas, brahmins quarrel with brahmins, householders quarrel with householders, a mother quarrels with her son, a son quarrels with his mother, a father quarrels with his son, a son quarrels with his father, brother quarrels with brother, brother quarrels with sister, sister quarrels with brother, friend quarrels with friend.
Te tattha kalahaviggahavivādāpannā aññamaññaṃ pāṇīhipi upakkamanti, leḍḍūhipi upakkamanti, daṇḍehipi upakkamanti, satthehipi upakkamanti.
Ở đấy, họ rơi vào cãi lộn, xung đột, tranh chấp, tấn công nhau bằng tay, tấn công bằng cục đất, tấn công bằng gậy, tấn công bằng dao kiếm.
There, having fallen into quarrels, brawls and disputes, they attack one another with fists, they attack with clods, they attack with sticks, they attack with knives.
Te tattha maraṇampi nigacchanti, maraṇamattampi dukkhaṃ. Ayampi, bhikkhave, kāmānaṃ ādīnavo sandiṭṭhiko, dukkhakkhandho kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu.
Ở đấy, họ đi đến cái chết, hoặc đau khổ gần như chết. Này các tỳ-khưu, đây cũng là sự nguy hại của các dục, thiết thực hiện tại, là khối khổ do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm duyên khởi, chính do nhân các dục.
There they incur death, or suffering close to death. This too, bhikkhus, is a danger in sensual pleasures, visible here and now, a mass of suffering having sensual pleasures as its cause, sensual pleasures as its source, sensual pleasures as its basis, the cause being simply sensual pleasures.
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu asicammaṃ gahetvā, dhanukalāpaṃ sannayhitvā, ubhatobyūḷhaṃ saṅgāmaṃ pakkhandanti usūsupi khippamānesu, sattīsupi khippamānāsu, asīsupi vijjotalantesu.
“Lại nữa, này các tỳ-khưu, do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm duyên khởi, chính do nhân các dục, họ cầm kiếm và khiên, đeo cung và ống tên, xông vào trận chiến dàn quân hai mặt, trong khi tên đang bắn tới, giáo đang phóng tới, kiếm đang chớp lóe.
“Again, bhikkhus, with sensual pleasures as the cause, sensual pleasures as the source, sensual pleasures as the basis, the cause being simply sensual pleasures, taking sword and shield, girding on bow and quiver, they charge into battle massed on both sides, while arrows are being shot, spears are being hurled, swords are flashing.
Te tattha usūhipi vijjhanti, sattiyāpi vijjhanti, asināpi sīsaṃ chindanti. Te tattha maraṇampi nigacchanti, maraṇamattampi dukkhaṃ. Ayampi, bhikkhave, kāmānaṃ ādīnavo sandiṭṭhiko, dukkhakkhandho kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu.
Ở đấy, họ bị trúng tên, bị trúng giáo, bị kiếm chặt đầu. Ở đấy, họ đi đến cái chết, hoặc đau khổ gần như chết. Này các tỳ-khưu, đây cũng là sự nguy hại của các dục, thiết thực hiện tại, là khối khổ do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm duyên khởi, chính do nhân các dục.
There they are pierced by arrows, pierced by spears, and their heads are cut off by swords. There they incur death, or suffering close to death. This too, bhikkhus, is a danger in sensual pleasures, visible here and now, a mass of suffering having sensual pleasures as its cause, sensual pleasures as its source, sensual pleasures as its basis, the cause being simply sensual pleasures.
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu asicammaṃ gahetvā, dhanukalāpaṃ sannayhitvā, addāvalepanā [aṭṭāvalepanā (syā. ka.)] upakāriyo pakkhandanti usūsupi khippamānesu, sattīsupi khippamānāsu, asīsupi vijjotalantesu.
“Lại nữa, này các tỳ-khưu, do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm duyên khởi, chính do nhân các dục, họ cầm kiếm và khiên, đeo cung và ống tên, xông vào các thành lũy trát ướt, trong khi tên đang bắn tới, giáo đang phóng tới, kiếm đang chớp lóe.
“Again, bhikkhus, with sensual pleasures as the cause, sensual pleasures as the source, sensual pleasures as the basis, the cause being simply sensual pleasures, taking sword and shield, girding on bow and quiver, they charge the wet-plastered bastions, while arrows are being shot, spears are being hurled, swords are flashing.
Te tattha usūhipi vijjhanti, sattiyāpi vijjhanti, chakaṇakāyapi [pakaṭṭhiyāpi (sī.)] osiñcanti, abhivaggenapi omaddanti, asināpi sīsaṃ chindanti. Te tattha maraṇampi nigacchanti, maraṇamattampi dukkhaṃ. Ayampi, bhikkhave, kāmānaṃ ādīnavo sandiṭṭhiko, dukkhakkhandho kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu.
Ở đấy, họ bị trúng tên, bị trúng giáo, bị tạt phân bò (sôi), bị đè nát bởi vật nặng, bị kiếm chặt đầu. Ở đấy, họ đi đến cái chết, hoặc đau khổ gần như chết. Này các tỳ-khưu, đây cũng là sự nguy hại của các dục, thiết thực hiện tại, là khối khổ do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm duyên khởi, chính do nhân các dục.
There they are pierced by arrows, pierced by spears, splashed with [boiling] cow dung, crushed with a heavy weight, and their heads are cut off by swords. There they incur death, or suffering close to death. This too, bhikkhus, is a danger in sensual pleasures, visible here and now, a mass of suffering having sensual pleasures as its cause, sensual pleasures as its source, sensual pleasures as its basis, the cause being simply sensual pleasures.
Chú thích: Ubhatobyūḷhaṃ saṅgāmaṃ: “trận chiến được dàn quân ở cả hai phía”. Addāvalepanā upakāriyo: “các thành lũy (công sự) được trát ướt”, để kẻ leo lên bị trơn trượt; dị bản aṭṭāvalepanā. Chakaṇaka là phân bò; theo Chú giải, đó là phân bò được nấu sôi tạt xuống người công thành – chữ “(sôi)” trong bản dịch là phần ngầm hiểu theo Chú giải; dị bản sī. đọc pakaṭṭhiyā. Abhivagga được hiểu là một vật nặng thả xuống để đè.
§169 – Hình phạt của vua và đọa xứ
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu sandhimpi chindanti, nillopampi haranti, ekāgārikampi karonti, paripanthepi tiṭṭhanti, paradārampi gacchanti.
“Lại nữa, này các tỳ-khưu, do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm duyên khởi, chính do nhân các dục, họ đục tường khoét vách, cướp đoạt tài sản, đánh cướp từng nhà, phục kích trên đường, đi đến vợ người.
“Again, bhikkhus, with sensual pleasures as the cause, sensual pleasures as the source, sensual pleasures as the basis, the cause being simply sensual pleasures, they break into houses, carry off plunder, commit burglary on a single house, lie in ambush on the highways, go with others’ wives.
Tamenaṃ rājāno gahetvā vividhā kammakāraṇā kārenti – kasāhipi tāḷenti, vettehipi tāḷenti, aḍḍhadaṇḍakehipi tāḷenti; hatthampi chindanti, pādampi chindanti, hatthapādampi chindanti, kaṇṇampi chindanti, nāsampi chindanti, kaṇṇanāsampi chindanti;
Các vua bắt người ấy và cho thi hành nhiều loại hình phạt – đánh bằng roi, đánh bằng gậy mây, đánh bằng gậy ngắn; chặt tay, chặt chân, chặt tay chân, cắt tai, cắt mũi, cắt tai mũi;
Kings, having arrested such a one, have various kinds of punishment inflicted – they flog him with whips, flog him with canes, flog him with half-rods; they cut off his hand, cut off his foot, cut off hand and foot, cut off his ear, cut off his nose, cut off ear and nose;
bilaṅgathālikampi karonti, saṅkhamuṇḍikampi karonti, rāhumukhampi karonti, jotimālikampi karonti, hatthapajjotikampi karonti, erakavattikampi karonti, cīrakavāsikampi karonti, eṇeyyakampi karonti, baḷisamaṃsikampi karonti, kahāpaṇikampi karonti, khārāpatacchikampi karonti, palighaparivattikampi karonti, palālapīṭhakampi karonti, tattenapi telena osiñcanti, sunakhehipi khādāpenti, jīvantampi sūle uttāsenti, asināpi sīsaṃ chindanti.
họ làm hình phạt “nồi cháo”, làm hình phạt “cạo đầu vỏ ốc”, làm hình phạt “miệng Rāhu”, làm hình phạt “vòng hoa lửa”, làm hình phạt “đuốc tay”, làm hình phạt “dải cỏ eraka”, làm hình phạt “áo vỏ cây”, làm hình phạt “con linh dương”, làm hình phạt “móc thịt”, làm hình phạt “đồng tiền”, làm hình phạt “xát nước tro”, làm hình phạt “xoay chốt sắt”, làm hình phạt “đệm rơm”, tưới bằng dầu sôi, cho chó ăn thịt, đặt sống lên cọc nhọn, lấy kiếm chặt đầu.
they do the “porridge pot”, do the “conch-shell shave”, do the “Rāhu’s mouth”, do the “fiery wreath”, do the “flaming hand”, do the “eraka grass strips”, do the “bark dress”, do the “antelope”, do the “meat hooks”, do the “coins”, do the “lye pickling”, do the “pivoting pin”, do the “straw mat”; they splash him with boiling oil, have him devoured by dogs, impale him alive on stakes, cut off his head with a sword.
Te tattha maraṇampi nigacchanti, maraṇamattampi dukkhaṃ. Ayampi, bhikkhave, kāmānaṃ ādīnavo sandiṭṭhiko, dukkhakkhandho kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu.
Ở đấy, họ đi đến cái chết, hoặc đau khổ gần như chết. Này các tỳ-khưu, đây cũng là sự nguy hại của các dục, thiết thực hiện tại, là khối khổ do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm duyên khởi, chính do nhân các dục.
There they incur death, or suffering close to death. This too, bhikkhus, is a danger in sensual pleasures, visible here and now, a mass of suffering having sensual pleasures as its cause, sensual pleasures as its source, sensual pleasures as its basis, the cause being simply sensual pleasures.
Chú thích: Danh sách mười ba hình phạt từ bilaṅgathālika đến palālapīṭhaka là các thuật ngữ cổ, ở đây được dịch theo nghĩa đen của từng tên gọi (đặt trong ngoặc kép). Cách thức thi hành cụ thể của mỗi hình phạt chỉ được biết qua Chú giải, ví dụ theo Chú giải, bilaṅgathālika (“nồi cháo”) là mở sọ rồi bỏ hòn sắt nung vào cho óc sôi lên như cháo. Ekāgārika: “việc (cướp) một nhà”, tức vây một nhà mà cướp. Sūle uttāseti: “đặt lên cọc nhọn”.
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu kāyena duccaritaṃ caranti, vācāya duccaritaṃ caranti, manasā duccaritaṃ caranti.
“Lại nữa, này các tỳ-khưu, do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm duyên khởi, chính do nhân các dục, họ làm ác hạnh bằng thân, làm ác hạnh bằng lời, làm ác hạnh bằng ý.
“Again, bhikkhus, with sensual pleasures as the cause, sensual pleasures as the source, sensual pleasures as the basis, the cause being simply sensual pleasures, they engage in misconduct by body, misconduct by speech, misconduct by mind.
Te kāyena duccaritaṃ caritvā, vācāya duccaritaṃ caritvā, manasā duccaritaṃ caritvā, kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapajjanti. Ayampi, bhikkhave, kāmānaṃ ādīnavo samparāyiko, dukkhakkhandho kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu.
Sau khi làm ác hạnh bằng thân, làm ác hạnh bằng lời, làm ác hạnh bằng ý, khi thân hoại mạng chung, họ sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này các tỳ-khưu, đây cũng là sự nguy hại của các dục, thuộc về đời sau, là khối khổ do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm duyên khởi, chính do nhân các dục.
Having engaged in misconduct by body, misconduct by speech, misconduct by mind, with the breakup of the body, after death, they reappear in a state of deprivation, an unhappy destination, the nether world, hell. This too, bhikkhus, is a danger in sensual pleasures, pertaining to the life to come, a mass of suffering having sensual pleasures as its cause, sensual pleasures as its source, sensual pleasures as its basis, the cause being simply sensual pleasures.
§170 – Sự xuất ly khỏi các dục
‘‘Kiñca, bhikkhave, kāmānaṃ nissaraṇaṃ? Yo kho, bhikkhave, kāmesu chandarāgavinayo chandarāgappahānaṃ – idaṃ kāmānaṃ nissaraṇaṃ.
“Và này các tỳ-khưu, đâu là sự xuất ly khỏi các dục? Này các tỳ-khưu, sự nhiếp phục dục tham, sự đoạn trừ dục tham đối với các dục – đây là sự xuất ly khỏi các dục.
“And what, bhikkhus, is the escape from sensual pleasures? Bhikkhus, the removal of desire and lust for sensual pleasures, the abandoning of desire and lust – this is the escape from sensual pleasures.
‘‘Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā evaṃ kāmānaṃ assādañca assādato ādīnavañca ādīnavato nissaraṇañca nissaraṇato yathābhūtaṃ nappajānanti te vata sāmaṃ vā kāme parijānissanti, paraṃ vā tathattāya samādapessanti yathā paṭipanno kāme parijānissatīti – netaṃ ṭhānaṃ vijjati.
“Này các tỳ-khưu, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không như thật tuệ tri vị ngọt của các dục là vị ngọt, sự nguy hại là sự nguy hại, sự xuất ly là sự xuất ly như vậy, mà những vị ấy sẽ tự mình liễu tri các dục, hoặc sẽ khích lệ người khác đến trạng thái ấy để người thực hành như vậy sẽ liễu tri các dục – sự kiện này không xảy ra.
“Bhikkhus, that those recluses or brahmins who do not understand as it actually is the gratification of sensual pleasures as gratification, the danger as danger and the escape as escape in this way, could themselves fully understand sensual pleasures, or could instruct another to that state so that, practising accordingly, he would fully understand sensual pleasures – that is impossible.
Ye ca kho keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā evaṃ kāmānaṃ assādañca assādato ādīnavañca ādīnavato nissaraṇañca nissaraṇato yathābhūtaṃ pajānanti, te vata sāmaṃ vā kāme parijānissanti paraṃ vā tathattāya samādapessantntti yathā paṭipanno kāme parijānissatīti – ṭhānametaṃ vijjati.
Còn những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các tỳ-khưu, như thật tuệ tri vị ngọt của các dục là vị ngọt, sự nguy hại là sự nguy hại, sự xuất ly là sự xuất ly như vậy, thì những vị ấy sẽ tự mình liễu tri các dục, hoặc sẽ khích lệ người khác đến trạng thái ấy để người thực hành như vậy sẽ liễu tri các dục – sự kiện này có xảy ra.
But that those recluses or brahmins, bhikkhus, who understand as it actually is the gratification of sensual pleasures as gratification, the danger as danger and the escape as escape in this way, could themselves fully understand sensual pleasures, or could instruct another to that state so that, practising accordingly, he would fully understand sensual pleasures – that is possible.
Chú thích: Chandarāgavinaya: “sự nhiếp phục (loại trừ) dục tham”; chandarāga là ước muốn đi kèm tham ái. Cấu trúc … te vata … parijānissanti … netaṃ ṭhānaṃ vijjati: “rằng họ quả sẽ liễu tri… – trường hợp này không có” là lối khẳng định bất khả. Tathattāya samādapeti: “khích lệ, khiến chấp nhận để đạt đến trạng thái ấy”. Ở câu thứ hai, bản VRI chúng tôi dùng ghi samādapessantntti – có vẻ là lỗi đánh máy của bản số (so với samādapessanti ở câu trước và ở §172, §174); chúng tôi giữ nguyên văn nguồn và dịch theo nghĩa “sẽ khích lệ”.
§171–172 – Vị ngọt, nguy hại và xuất ly của các sắc
‘‘Ko ca, bhikkhave, rūpānaṃ assādo? Seyyathāpi, bhikkhave, khattiyakaññā vā brāhmaṇakaññā vā gahapatikaññā vā pannarasavassuddesikā vā soḷasavassuddesikā vā, nātidīghā nātirassā nātikisā nātithūlā nātikāḷī nāccodātā paramā sā, bhikkhave, tasmiṃ samaye subhā vaṇṇanibhāti? ‘Evaṃ, bhante’.
“Và này các tỳ-khưu, đâu là vị ngọt của các sắc? Ví như, này các tỳ-khưu, một thiếu nữ dòng Sát-đế-lỵ, hay thiếu nữ dòng Bà-la-môn, hay thiếu nữ dòng gia chủ, mười lăm tuổi hay mười sáu tuổi, không quá cao, không quá thấp, không quá gầy, không quá mập, không quá đen, không quá trắng – này các tỳ-khưu, phải chăng vào lúc ấy, vẻ đẹp và dung sắc của cô ấy là tối thượng?” – “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”
“And what, bhikkhus, is the gratification of forms? Suppose, bhikkhus, there were a girl of the khattiya caste, or a girl of the brahmin caste, or a girl of the householder caste, fifteen or sixteen years of age, neither too tall nor too short, neither too thin nor too stout, neither too dark nor too fair – is her beauty and loveliness, bhikkhus, at its height at that time?” – “Yes, venerable sir.”
Yaṃ kho, bhikkhave, subhaṃ vaṇṇanibhaṃ paṭicca uppajjati sukhaṃ somanassaṃ – ayaṃ rūpānaṃ assādo.
“Này các tỳ-khưu, lạc và hỷ nào khởi lên do duyên vẻ đẹp và dung sắc ấy – đây là vị ngọt của các sắc.
“Whatever pleasure and joy arise, bhikkhus, dependent on that beauty and loveliness – this is the gratification of forms.
‘‘Ko ca, bhikkhave, rūpānaṃ ādīnavo? Idha, bhikkhave, tameva bhaginiṃ passeyya aparena samayena āsītikaṃ vā nāvutikaṃ vā vassasatikaṃ vā jātiyā, jiṇṇaṃ gopānasivaṅkaṃ bhoggaṃ daṇḍaparāyanaṃ pavedhamānaṃ gacchantiṃ āturaṃ gatayobbanaṃ khaṇḍadantaṃ [khaṇḍadantiṃ (sī. pī.)] palitakesaṃ [palitakesiṃ], vilūnaṃ khalitasiraṃ valinaṃ tilakāhatagattaṃ [tilakāhatagattiṃ (bahūsu) aṭṭhakathā ṭīkā oloketabbā].
“Và này các tỳ-khưu, đâu là sự nguy hại của các sắc? Ở đây, này các tỳ-khưu, có thể thấy chính người chị em ấy vào một thời gian sau, tám mươi, chín mươi hay một trăm tuổi, già yếu, cong như kèo mái nhà, lưng còng, chống gậy, run rẩy bước đi, ốm đau, tuổi xuân đã qua, răng rụng, tóc bạc, (tóc) thưa rụng, đầu hói, da nhăn, chân tay đầy đốm đồi mồi.
“And what, bhikkhus, is the danger in forms? Here, bhikkhus, one might see that same sister at a later time, at eighty, ninety or a hundred years of age, aged, crooked as a roof rafter, bent, leaning on a stick, going along trembling, ailing, her youth gone, her teeth broken, her hair grey, scanty, her head bald, wrinkled, her limbs blotched.
Taṃ kiṃ maññatha, bhikkhave, yā purimā subhā vaṇṇanibhā sā antarahitā, ādīnavo pātubhūtoti? ‘Evaṃ, bhante’. Ayampi, bhikkhave, rūpānaṃ ādīnavo.
Các ông nghĩ thế nào, này các tỳ-khưu, vẻ đẹp và dung sắc trước kia đã biến mất, và sự nguy hại đã hiện ra?” – “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.” – “Này các tỳ-khưu, đây cũng là sự nguy hại của các sắc.
What do you think, bhikkhus, has her former beauty and loveliness vanished and the danger become evident?” – “Yes, venerable sir.” – “This too, bhikkhus, is a danger in forms.
Chú thích: Pannarasavassuddesikā: “được kể là mười lăm tuổi” (uddesika, “được chỉ định, được tính là”). Câu paramā sā … subhā vaṇṇanibhā là câu hỏi (kết bằng -ti), và các tỳ-khưu đáp ‘Evaṃ, bhante’. Đức Phật gọi người thiếu nữ ấy là bhaginī “người chị em”. Gopānasivaṅka: “cong như cây kèo (gopānasī) đỡ mái”. Ghi chú trong ngoặc vuông (bahūsu) aṭṭhakathā ṭīkā oloketabbā là của chính bản VRI: “(trong nhiều bản) [như vậy]; nên tham khảo Chú giải và Phụ chú giải”.
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, tameva bhaginiṃ passeyya ābādhikaṃ dukkhitaṃ bāḷhagilānaṃ, sake muttakarīse palipannaṃ semānaṃ [seyyamānaṃ (ka.)], aññehi vuṭṭhāpiyamānaṃ, aññehi saṃvesiyamānaṃ.
“Lại nữa, này các tỳ-khưu, có thể thấy chính người chị em ấy bị bệnh, đau khổ, bệnh nặng, nằm lăn lóc trong phân và nước tiểu của chính mình, phải có người khác đỡ dậy, phải có người khác đặt nằm xuống.
“Again, bhikkhus, one might see that same sister afflicted, suffering, gravely ill, lying fouled in her own urine and excrement, lifted up by others, laid down by others.
Taṃ kiṃ maññatha, bhikkhave, yā purimā subhā vaṇṇanibhā sā antarahitā, ādīnavo pātubhūtoti? ‘Evaṃ, bhante’. Ayampi, bhikkhave, rūpānaṃ ādīnavo.
Các ông nghĩ thế nào, này các tỳ-khưu, vẻ đẹp và dung sắc trước kia đã biến mất, và sự nguy hại đã hiện ra?” – “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.” – “Này các tỳ-khưu, đây cũng là sự nguy hại của các sắc.
What do you think, bhikkhus, has her former beauty and loveliness vanished and the danger become evident?” – “Yes, venerable sir.” – “This too, bhikkhus, is a danger in forms.
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, tameva bhaginiṃ passeyya sarīraṃ sivathikāya chaḍḍitaṃ – ekāhamataṃ vā dvīhamataṃ vā tīhamataṃ vā, uddhumātakaṃ vinīlakaṃ vipubbakajātaṃ.
“Lại nữa, này các tỳ-khưu, có thể thấy chính người chị em ấy, thân bị vất bỏ trong nghĩa địa – chết một ngày, hay chết hai ngày, hay chết ba ngày, sình trướng, xanh bầm, mưng mủ.
“Again, bhikkhus, one might see that same sister as a body thrown aside in a charnel ground – one day dead, or two days dead, or three days dead, bloated, livid, oozing with matter.
Taṃ kiṃ maññatha, bhikkhave, yā purimā subhā vaṇṇanibhā sā antarahitā, ādīnavo pātubhūtoti? ‘Evaṃ, bhante’. Ayampi, bhikkhave, rūpānaṃ ādīnavo.
Các ông nghĩ thế nào, này các tỳ-khưu, vẻ đẹp và dung sắc trước kia đã biến mất, và sự nguy hại đã hiện ra?” – “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.” – “Này các tỳ-khưu, đây cũng là sự nguy hại của các sắc.
What do you think, bhikkhus, has her former beauty and loveliness vanished and the danger become evident?” – “Yes, venerable sir.” – “This too, bhikkhus, is a danger in forms.
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, tameva bhaginiṃ passeyya sarīraṃ sivathikāya chaḍḍitaṃ – kākehi vā khajjamānaṃ, kulalehi vā khajjamānaṃ, gijjhehi vā khajjamānaṃ, kaṅkehi vā khajjamānaṃ, sunakhehi vā khajjamānaṃ, byagghehi vā khajjamānaṃ, dīpīhi vā khajjamānaṃ, siṅgālehi vā khajjamānaṃ, vividhehi vā pāṇakajātehi khajjamānaṃ.
“Lại nữa, này các tỳ-khưu, có thể thấy chính người chị em ấy, thân bị vất bỏ trong nghĩa địa – bị quạ ăn, hay bị diều hâu ăn, hay bị kên kên ăn, hay bị diệc ăn, hay bị chó ăn, hay bị cọp ăn, hay bị báo ăn, hay bị chó rừng ăn, hay bị các loài sinh vật khác nhau ăn.
“Again, bhikkhus, one might see that same sister as a body thrown aside in a charnel ground – being devoured by crows, or being devoured by hawks, or being devoured by vultures, or being devoured by herons, or being devoured by dogs, or being devoured by tigers, or being devoured by leopards, or being devoured by jackals, or being devoured by various kinds of creatures.
Taṃ kiṃ maññatha, bhikkhave, yā purimā subhā vaṇṇanibhā sā antarahitā, ādīnavo pātubhūtoti? ‘Evaṃ, bhante’. Ayampi, bhikkhave, rūpānaṃ ādīnavo.
Các ông nghĩ thế nào, này các tỳ-khưu, vẻ đẹp và dung sắc trước kia đã biến mất, và sự nguy hại đã hiện ra?” – “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.” – “Này các tỳ-khưu, đây cũng là sự nguy hại của các sắc.
What do you think, bhikkhus, has her former beauty and loveliness vanished and the danger become evident?” – “Yes, venerable sir.” – “This too, bhikkhus, is a danger in forms.
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, tameva bhaginiṃ passeyya sarīraṃ sivathikāya chaḍḍitaṃ – aṭṭhikasaṅkhalikaṃ samaṃsalohitaṃ nhārusambandhaṃ, aṭṭhikasaṅkhalikaṃ nimaṃsalohitamakkhitaṃ nhārusambandhaṃ, aṭṭhikasaṅkhalikaṃ apagatamaṃsalohitaṃ nhārusambandhaṃ, aṭṭhikāni apagatasambandhāni disāvidisāvikkhittāni – aññena hatthaṭṭhikaṃ, aññena pādaṭṭhikaṃ, aññena gopphakaṭṭhikaṃ, aññena jaṅghaṭṭhikaṃ, aññena ūruṭṭhikaṃ, aññena kaṭiṭṭhikaṃ, aññena phāsukaṭṭhikaṃ, aññena piṭṭhiṭṭhikaṃ, aññena khandhaṭṭhikaṃ, aññena gīvaṭṭhikaṃ, aññena hanukaṭṭhikaṃ, aññena dantaṭṭhikaṃ, aññena sīsakaṭāhaṃ.
“Lại nữa, này các tỳ-khưu, có thể thấy chính người chị em ấy, thân bị vất bỏ trong nghĩa địa – một bộ xương còn dính thịt và máu, được các đường gân cột lại; một bộ xương không còn thịt nhưng còn vấy máu, được các đường gân cột lại; một bộ xương không còn thịt và máu, được các đường gân cột lại; các xương không còn được cột lại, rơi rải rác đây đó, các hướng chính và hướng phụ – chỗ này xương tay, chỗ kia xương chân, chỗ này xương mắt cá, chỗ kia xương ống chân, chỗ này xương đùi, chỗ kia xương hông, chỗ này xương sườn, chỗ kia xương lưng, chỗ này xương vai, chỗ kia xương cổ, chỗ này xương hàm, chỗ kia xương răng, chỗ này sọ đầu.
“Again, bhikkhus, one might see that same sister as a body thrown aside in a charnel ground – a skeleton with flesh and blood, held together with sinews; a fleshless skeleton smeared with blood, held together with sinews; a skeleton without flesh and blood, held together with sinews; bones disconnected, scattered in the main and intermediate directions – here a hand-bone, there a foot-bone, here an ankle-bone, there a shin-bone, here a thigh-bone, there a hip-bone, here a rib-bone, there a back-bone, here a shoulder-bone, there a neck-bone, here a jaw-bone, there a tooth-bone, here the skull.
Taṃ kiṃ maññatha, bhikkhave, yā purimā subhā vaṇṇanibhā sā antarahitā, ādīnavo pātubhūtoti? ‘Evaṃ, bhante’. Ayampi, bhikkhave, rūpānaṃ ādīnavo.
Các ông nghĩ thế nào, này các tỳ-khưu, vẻ đẹp và dung sắc trước kia đã biến mất, và sự nguy hại đã hiện ra?” – “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.” – “Này các tỳ-khưu, đây cũng là sự nguy hại của các sắc.
What do you think, bhikkhus, has her former beauty and loveliness vanished and the danger become evident?” – “Yes, venerable sir.” – “This too, bhikkhus, is a danger in forms.
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, tameva bhaginiṃ passeyya sarīraṃ sivathikāya chaḍḍitaṃ – aṭṭhikāni setāni saṅkhavaṇṇapaṭibhāgāni, aṭṭhikāni puñjakitāni terovassikāni, aṭṭhikāni pūtīni cuṇṇakajātāni.
“Lại nữa, này các tỳ-khưu, có thể thấy chính người chị em ấy, thân bị vất bỏ trong nghĩa địa – các xương trắng màu vỏ ốc, các xương chất đống lại hơn một năm, các xương đã mục nát thành bột.
“Again, bhikkhus, one might see that same sister as a body thrown aside in a charnel ground – bones bleached white, the colour of shells; bones heaped up, more than a year old; bones rotted and crumbled to powder.
Taṃ kiṃ maññatha, bhikkhave, yā purimā subhā vaṇṇanibhā sā antarahitā, ādīnavo pātubhūtoti? ‘Evaṃ, bhante’. Ayampi, bhikkhave, rūpānaṃ ādīnavo.
Các ông nghĩ thế nào, này các tỳ-khưu, vẻ đẹp và dung sắc trước kia đã biến mất, và sự nguy hại đã hiện ra?” – “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.” – “Này các tỳ-khưu, đây cũng là sự nguy hại của các sắc.
What do you think, bhikkhus, has her former beauty and loveliness vanished and the danger become evident?” – “Yes, venerable sir.” – “This too, bhikkhus, is a danger in forms.
‘‘Kiñca, bhikkhave, rūpānaṃ nissaraṇaṃ? Yo, bhikkhave, rūpesu chandarāgavinayo chandarāgappahānaṃ – idaṃ rūpānaṃ nissaraṇaṃ.
“Và này các tỳ-khưu, đâu là sự xuất ly khỏi các sắc? Này các tỳ-khưu, sự nhiếp phục dục tham, sự đoạn trừ dục tham đối với các sắc – đây là sự xuất ly khỏi các sắc.
“And what, bhikkhus, is the escape from forms? Bhikkhus, the removal of desire and lust for forms, the abandoning of desire and lust – this is the escape from forms.
‘‘Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā evaṃ rūpānaṃ assādañca assādato ādīnavañca ādīnavato nissaraṇañca nissaraṇato yathābhūtaṃ nappajānanti te vata sāmaṃ vā rūpe parijānissanti, paraṃ vā tathattāya samādapessanti yathā paṭipanno rūpe parijānissatīti – netaṃ ṭhānaṃ vijjati.
“Này các tỳ-khưu, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không như thật tuệ tri vị ngọt của các sắc là vị ngọt, sự nguy hại là sự nguy hại, sự xuất ly là sự xuất ly như vậy, mà những vị ấy sẽ tự mình liễu tri các sắc, hoặc sẽ khích lệ người khác đến trạng thái ấy để người thực hành như vậy sẽ liễu tri các sắc – sự kiện này không xảy ra.
“Bhikkhus, that those recluses or brahmins who do not understand as it actually is the gratification of forms as gratification, the danger as danger and the escape as escape in this way, could themselves fully understand forms, or could instruct another to that state so that, practising accordingly, he would fully understand forms – that is impossible.
Ye ca kho keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā evaṃ rūpānaṃ assādañca assādato ādīnavañca ādīnavato nissaraṇañca nissaraṇato yathābhūtaṃ pajānanti te vata sāmaṃ vā rūpe parijānissanti paraṃ vā tathattāya samādapessanti yathā paṭipanno rūpe parijānissatīti – ṭhānametaṃ vijjati.
Còn những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các tỳ-khưu, như thật tuệ tri vị ngọt của các sắc là vị ngọt, sự nguy hại là sự nguy hại, sự xuất ly là sự xuất ly như vậy, thì những vị ấy sẽ tự mình liễu tri các sắc, hoặc sẽ khích lệ người khác đến trạng thái ấy để người thực hành như vậy sẽ liễu tri các sắc – sự kiện này có xảy ra.
But that those recluses or brahmins, bhikkhus, who understand as it actually is the gratification of forms as gratification, the danger as danger and the escape as escape in this way, could themselves fully understand forms, or could instruct another to that state so that, practising accordingly, he would fully understand forms – that is possible.
§173–174 – Vị ngọt, nguy hại và xuất ly của các thọ
‘‘Ko ca, bhikkhave, vedanānaṃ assādo? Idha, bhikkhave, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṃ savicāraṃ vivekajaṃ pītisukhaṃ paṭhamaṃ jhānaṃ upasampajja viharati.
“Và này các tỳ-khưu, đâu là vị ngọt của các thọ? Ở đây, này các tỳ-khưu, vị tỳ-khưu ly các dục, ly các pháp bất thiện, chứng đạt và an trú sơ thiền, có tầm, có tứ, có hỷ và lạc sinh từ viễn ly.
“And what, bhikkhus, is the gratification of feelings? Here, bhikkhus, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unwholesome states, a bhikkhu enters and dwells in the first jhāna, which is accompanied by applied and sustained thought, with rapture and pleasure born of seclusion.
Yasmiṃ samaye, bhikkhave, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṃ savicāraṃ vivekajaṃ pītisukhaṃ paṭhamaṃ jhānaṃ upasampajja viharati, neva tasmiṃ samaye attabyābādhāyapi ceteti, na parabyābādhāyapi ceteti, na ubhayabyābādhāyapi ceteti; abyābajjhaṃyeva tasmiṃ samaye vedanaṃ vedeti.
Này các tỳ-khưu, vào lúc vị tỳ-khưu ly các dục, ly các pháp bất thiện, chứng đạt và an trú sơ thiền, có tầm, có tứ, có hỷ và lạc sinh từ viễn ly, vào lúc ấy vị ấy không tác ý để tự hại, không tác ý để hại người, không tác ý để hại cả hai; vào lúc ấy vị ấy cảm thọ chính cảm thọ không có não hại.
At the time, bhikkhus, when quite secluded from sensual pleasures, secluded from unwholesome states, a bhikkhu enters and dwells in the first jhāna, which is accompanied by applied and sustained thought, with rapture and pleasure born of seclusion, at that time he does not intend his own affliction, nor intend the affliction of others, nor intend the affliction of both; at that time he feels only feeling that is free from affliction.
Abyābajjhaparamāhaṃ, bhikkhave, vedanānaṃ assādaṃ vadāmi.
Này các tỳ-khưu, Ta nói rằng vị ngọt của các thọ có sự không não hại là tối thượng.
The highest gratification of feelings, bhikkhus, I say, is freedom from affliction.
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu vitakkavicārānaṃ vūpasamā ajjhattaṃ sampasādanaṃ cetaso ekodibhāvaṃ avitakkaṃ avicāraṃ samādhijaṃ pītisukhaṃ dutiyaṃ jhānaṃ upasampajja viharati…pe…
“Lại nữa, này các tỳ-khưu, vị tỳ-khưu do tầm và tứ lắng dịu, chứng đạt và an trú nhị thiền, nội tĩnh nhất tâm, không tầm, không tứ, có hỷ và lạc sinh từ định… (như trên)…
“Again, bhikkhus, with the stilling of applied and sustained thought, a bhikkhu enters and dwells in the second jhāna, which has inner tranquillity and unification of mind, without applied and sustained thought, with rapture and pleasure born of concentration… (and so on)…
yasmiṃ samaye, bhikkhave, bhikkhu pītiyā ca virāgā, upekkhako ca viharati, sato ca sampajāno sukhañca kāyena paṭisaṃvedeti yaṃ taṃ ariyā ācikkhanti – ‘upekkhako satimā sukhavihārī’ti tatiyaṃ jhānaṃ upasampajja viharati…pe…
vào lúc, này các tỳ-khưu, vị tỳ-khưu ly hỷ, trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm thọ lạc mà các bậc Thánh gọi là ‘xả, chánh niệm, lạc trú’, chứng đạt và an trú tam thiền… (như trên)…
at the time, bhikkhus, when with the fading away of rapture a bhikkhu dwells equanimous, mindful and clearly comprehending, experiencing pleasure with the body, he enters and dwells in the third jhāna, on account of which the noble ones declare: ‘He is equanimous, mindful, one who dwells in pleasure’… (and so on)…
yasmiṃ samaye, bhikkhave, bhikkhu sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṃ atthaṅgamā adukkhamasukhaṃ upekkhāsatipārisuddhiṃ catutthaṃ jhānaṃ upasampajja viharati, neva tasmiṃ samaye attabyābādhāyapi ceteti, na parabyābādhāyapi ceteti, na ubhayabyābādhāyapi ceteti; abyābajjhaṃyeva tasmiṃ samaye vedanaṃ vedeti.
vào lúc, này các tỳ-khưu, vị tỳ-khưu do đoạn trừ lạc, đoạn trừ khổ, và do hỷ ưu đã diệt trước đó, chứng đạt và an trú tứ thiền, không khổ không lạc, có xả và niệm thanh tịnh, vào lúc ấy vị ấy không tác ý để tự hại, không tác ý để hại người, không tác ý để hại cả hai; vào lúc ấy vị ấy cảm thọ chính cảm thọ không có não hại.
at the time, bhikkhus, when with the abandoning of pleasure and the abandoning of pain, and with the previous disappearance of joy and grief, a bhikkhu enters and dwells in the fourth jhāna, which is neither painful nor pleasant and has purity of mindfulness due to equanimity, at that time he does not intend his own affliction, nor intend the affliction of others, nor intend the affliction of both; at that time he feels only feeling that is free from affliction.
Abyābajjhaparamāhaṃ, bhikkhave, vedanānaṃ assādaṃ vadāmi.
Này các tỳ-khưu, Ta nói rằng vị ngọt của các thọ có sự không não hại là tối thượng.
The highest gratification of feelings, bhikkhus, I say, is freedom from affliction.
Chú thích: Abyābajjhaparamāhaṃ = abyābajjha-paramaṃ + ahaṃ: “Ta (nói vị ngọt của các thọ) có sự không não hại làm tối thượng” – tính từ ghép -parama bổ nghĩa cho assādaṃ. Ceteti (√cit) “tác ý, có ý định”; attabyābādhāya là tặng cách chỉ mục đích: “để tự hại”. Ở phần thọ, Đức Phật lấy các tầng thiền làm ví dụ cho vị ngọt, rồi ở §174 vẫn chỉ ra rằng chính các thọ ấy cũng vô thường, khổ, chịu biến hoại.
‘‘Ko ca, bhikkhave, vedanānaṃ ādīnavo? Yaṃ, bhikkhave, vedanā aniccā dukkhā vipariṇāmadhammā – ayaṃ vedanānaṃ ādīnavo.
“Và này các tỳ-khưu, đâu là sự nguy hại của các thọ? Này các tỳ-khưu, việc các thọ là vô thường, khổ, có tính chất biến hoại – đây là sự nguy hại của các thọ.
“And what, bhikkhus, is the danger in feelings? Bhikkhus, that feelings are impermanent, suffering and subject to change – this is the danger in feelings.
‘‘Kiñca, bhikkhave, vedanānaṃ nissaraṇaṃ? Yo, bhikkhave, vedanāsu chandarāgavinayo, chandarāgappahānaṃ – idaṃ vedanānaṃ nissaraṇaṃ.
“Và này các tỳ-khưu, đâu là sự xuất ly khỏi các thọ? Này các tỳ-khưu, sự nhiếp phục dục tham, sự đoạn trừ dục tham đối với các thọ – đây là sự xuất ly khỏi các thọ.
“And what, bhikkhus, is the escape from feelings? Bhikkhus, the removal of desire and lust for feelings, the abandoning of desire and lust – this is the escape from feelings.
‘‘Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā evaṃ vedanānaṃ assādañca assādato ādīnavañca ādīnavato nissaraṇañca nissaraṇato yathābhūtaṃ nappajānanti, te vata sāmaṃ vā vedanaṃ parijānissanti, paraṃ vā tathattāya samādapessanti yathā paṭipanno vedanaṃ parijānissatīti – netaṃ ṭhānaṃ vijjati.
“Này các tỳ-khưu, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không như thật tuệ tri vị ngọt của các thọ là vị ngọt, sự nguy hại là sự nguy hại, sự xuất ly là sự xuất ly như vậy, mà những vị ấy sẽ tự mình liễu tri thọ, hoặc sẽ khích lệ người khác đến trạng thái ấy để người thực hành như vậy sẽ liễu tri thọ – sự kiện này không xảy ra.
“Bhikkhus, that those recluses or brahmins who do not understand as it actually is the gratification of feelings as gratification, the danger as danger and the escape as escape in this way, could themselves fully understand feeling, or could instruct another to that state so that, practising accordingly, he would fully understand feeling – that is impossible.
Ye ca kho keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā evaṃ vedanānaṃ assādañca assādato ādīnavañca ādīnavato nissaraṇañca nissaraṇato yathābhūtaṃ pajānanti te vata sāmaṃ vā vedanaṃ parijānissanti, paraṃ vā tathattāya samādapessanti yathā paṭipanno vedanaṃ parijānissatīti – ṭhānametaṃ vijjatī’’ti.
Còn những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các tỳ-khưu, như thật tuệ tri vị ngọt của các thọ là vị ngọt, sự nguy hại là sự nguy hại, sự xuất ly là sự xuất ly như vậy, thì những vị ấy sẽ tự mình liễu tri thọ, hoặc sẽ khích lệ người khác đến trạng thái ấy để người thực hành như vậy sẽ liễu tri thọ – sự kiện này có xảy ra.”
But that those recluses or brahmins, bhikkhus, who understand as it actually is the gratification of feelings as gratification, the danger as danger and the escape as escape in this way, could themselves fully understand feeling, or could instruct another to that state so that, practising accordingly, he would fully understand feeling – that is possible.”
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṃ abhinandunti.
Đức Thế Tôn đã nói như vậy. Các tỳ-khưu ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Đức Thế Tôn.
This is what the Blessed One said. Satisfied, those bhikkhus delighted in the Blessed One’s words.
Mahādukkhakkhandhasuttaṃ niṭṭhitaṃ tatiyaṃ.
Đại Kinh Khổ Uẩn, kinh thứ ba, chấm dứt.
The Greater Discourse on the Mass of Suffering, the third, is finished.
Thuật ngữ then chốt trong MN 13
| Pāli | Tiếng Việt | English | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| pariññā | sự liễu tri | full understanding | Điều mà cả ngoại đạo lẫn Thế Tôn đều “chủ trương” (§163); kinh chỉ ra nội dung khác nhau. |
| assāda | vị ngọt | gratification | Lạc và hỷ khởi lên do duyên đối tượng (§166, §171); với thọ: sự không não hại (§173). |
| ādīnava | sự nguy hại | danger | Với dục: khối khổ đời này và đời sau; với sắc: già, bệnh, chết; với thọ: vô thường, khổ, biến hoại. |
| nissaraṇa | sự xuất ly | escape | Ở cả ba trường hợp đều là nhiếp phục và đoạn trừ dục tham (§170, §172, §174). |
| kāmaguṇa | dục công đức | cord of sensual pleasure | Năm đối tượng khả ái của năm căn (§166). |
| dukkhakkhandha | khối khổ | mass of suffering | Tên kinh lấy từ điệp khúc ở §167–169. |
| sandiṭṭhika / samparāyika | thiết thực hiện tại / thuộc đời sau | visible here and now / pertaining to the life to come | Hai loại nguy hại của dục (§167–169). |
| chandarāga | dục tham | desire and lust | Đối tượng cần nhiếp phục để xuất ly. |
| abyābajjha | không não hại | freedom from affliction | Mức tối thượng của vị ngọt nơi các thọ (§173). |
| vipariṇāmadhamma | có tính chất biến hoại | subject to change | Một trong ba đặc tính nguy hại của thọ (§174). |
Một câu ghi nhớ: Liễu tri dục, sắc và thọ không chỉ là nói đến chúng, mà là thấy đúng như thật vị ngọt là vị ngọt, nguy hại là nguy hại, và xuất ly là sự nhiếp phục, đoạn trừ dục tham đối với chúng.
Đọc tiếp
- Bài song ngữ trước: MN 12 Đại Kinh Sư Tử Hống – Song Ngữ Pāli Việt Anh – Phần 2 (§153–162)
- Bài song ngữ kế tiếp: MN 14 Tiểu Kinh Khổ Uẩn (Cūḷadukkhakkhandhasutta) – sẽ đăng trong kỳ tới.
- Bài giảng giải nội dung: MN 13 – Đại Kinh Khổ Uẩn (Mahādukkhakkhandhasutta)
- Toàn bộ Trung Bộ song ngữ: Trung Bộ Song Ngữ Pāli – Việt – Anh
- Trang tổng: Dashboard Song Ngữ Pāli – Việt – Anh
- Loạt giảng giải: Blog Kinh Trung Bộ
Nguồn tham khảo
- Bản Pāli: Chaṭṭha Saṅgāyana Tipiṭaka, Majjhimanikāya, Mūlapaṇṇāsapāḷi, Mahādukkhakkhandhasutta (MN 13) – Vipassana Research Institute: tipitaka.org
- Đối chiếu đoạn văn: SuttaCentral – MN 13
- Chú giải: Papañcasūdanī (Majjhimanikāya-aṭṭhakathā), phần Mahādukkhakkhandhasuttavaṇṇanā – bản VRI tại tipitaka.org
- Đối chiếu nghĩa (không trích lời dịch): HT. Thích Minh Châu; Bhikkhu Ñāṇamoli & Bhikkhu Bodhi; Bhikkhu Sujato.
Bản dịch Việt – Anh trên trang này do Theravada.blog thực hiện trực tiếp từ Pāli, theo lối sát chữ dành cho người học Pāli. Nếu quý độc giả phát hiện chỗ cần sửa, xin để lại bình luận.
Tải bản song ngữ Pāli – Việt – Anh (MN 13)
Toàn bộ bản văn ba cột Pāli – Tiếng Việt – English của bài này, kèm chú thích và bảng thuật ngữ: bản PDF khổ ngang để in và đọc ngoại tuyến, bản Excel để tra cứu, lọc và học theo từng đoạn.