MN 11 Tiểu Kinh Sư Tử Hống – Song Ngữ Pāli Việt Anh (Cūḷasīhanādasutta)

Tiểu Kinh Sư Tử Hống (Cūḷasīhanādasutta, MN 11) mở đầu phẩm Sư Tử Hống của Trung Bộ Kinh: Đức Thế Tôn dạy các tỳ-khưu chân chánh rống tiếng rống sư tử rằng chỉ trong giáo pháp này mới có bốn hạng Sa-môn, và chỉ ra chỗ khác biệt với ngoại đạo nằm ở cứu cánh duy nhất, ở sự vượt qua hữu kiến và phi hữu kiến, và ở sự liễu tri trọn vẹn cả bốn thủ. Bài này đặt nguyên văn Pāli bản Chaṭṭha Saṅgāyana (VRI) song song với bản dịch tiếng Việt và tiếng Anh sát chữ cho toàn kinh §139–145, kèm chú thích ngữ pháp và thuật ngữ cho người học Pāli.

Hồ sơ bản văn
Tạng: Sutta Piṭaka › Majjhimanikāya › Mūlapaṇṇāsapāḷi › 2. Sīhanādavagga › 11. Cūḷasīhanādasutta
Nơi thuyết: Sāvatthī, Jetavana, khu vườn của Anāthapiṇḍika
Người thuyết: Đức Thế Tôn
Người nghe / nhân vật: các tỳ-khưu; các du sĩ ngoại đạo (trong các cuộc đối đáp giả định)
Bản Pāli: Chaṭṭha Saṅgāyana Tipiṭaka, Vipassana Research Institute (tipitaka.org), đoạn §139–145 (trọn kinh; kèm tiêu đề phẩm thứ hai)
Bản dịch: Theravada.blog, dịch trực tiếp từ Pāli sang Việt và Anh, văn phong sát chữ

Quy ước trình bày

  • Mỗi hàng gồm ba ô: Pāli (nền kem, in nghiêng) · Tiếng Việt · English. Trên điện thoại, ba ô tự xếp dọc theo thứ tự đó.
  • Số đoạn (§) theo bản VRI; ví dụ “MN 11 §141.3” là ý thứ ba trong đoạn 141. Bản VRI đánh số liên tục trong cả Mūlapaṇṇāsa, nên MN 11 gồm §139–145. Các dòng căn giữa là tiêu đề phẩm, tiêu đề kinh và dòng kết kinh của chính bản Pāli.
  • Chữ nhỏ màu xám trong ngoặc vuông là dị bản hoặc ghi chú do chính bản VRI ghi: sī. (Tích Lan), syā. (Thái), kaṃ. (Campuchia), pī. (PTS), ka. (bản khác); “(?)” là chỗ bản VRI tự đánh dấu còn nghi.
  • Trong kinh này bản Pāli không dùng ký hiệu tỉnh lược …pe…; mọi câu lặp lại đều được dịch đầy đủ như nguồn.
  • Dịch sát chữ: giữ trật tự và hình thái của câu Pāli, không thêm chữ diễn giải vào thân bản dịch (chữ trong ngoặc vuông [ ] ở bản dịch là phần ngầm hiểu). Phần giải thích đặt riêng trong các dòng Chú thích.

Bản văn song ngữ Pāli – Việt – Anh

Pāli (VRI)
Tiếng Việt
English
2. Sīhanādavaggo
2. Phẩm Sư Tử Hống
2. The Chapter on the Lion’s Roar
1. Cūḷasīhanādasuttaṃ
1. Tiểu Kinh Sư Tử Hống
1. The Shorter Discourse on the Lion’s Roar

§139 – Mở đầu: chỉ ở đây có Sa-môn

139. Evaṃ me sutaṃ – ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi – ‘‘bhikkhavo’’ti. ‘‘Bhadante’’ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṃ. Bhagavā etadavoca –
139. Như vầy tôi nghe – một thời Đức Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của Anāthapiṇḍika. Tại đó, Đức Thế Tôn gọi các tỳ-khưu: “Này các tỳ-khưu.” – “Bạch Thế Tôn,” các tỳ-khưu ấy đáp lời Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn nói điều này:
139. Thus have I heard – on one occasion the Blessed One was dwelling at Sāvatthī, in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s park. There the Blessed One addressed the bhikkhus: “Bhikkhus.” – “Venerable sir,” those bhikkhus replied to the Blessed One. The Blessed One said this:
‘‘Idheva, bhikkhave, samaṇo, idha dutiyo samaṇo, idha tatiyo samaṇo, idha catuttho samaṇo; suññā parappavādā samaṇebhi aññehīti [samaṇehi aññeti (sī. pī. ka.) ettha aññehīti sakāya paṭiññāya saccābhiññehīti attho veditabbo]. Evametaṃ [evameva (syā. ka.)], bhikkhave, sammā sīhanādaṃ nadatha.
“Này các tỳ-khưu, chỉ ở đây có Sa-môn, ở đây có Sa-môn thứ hai, ở đây có Sa-môn thứ ba, ở đây có Sa-môn thứ tư; các học thuyết khác thì trống không các Sa-môn khác. Này các tỳ-khưu, các ông hãy chân chánh rống tiếng rống sư tử như vậy.
“Only here, bhikkhus, is there an ascetic, here a second ascetic, here a third ascetic, here a fourth ascetic; the doctrines of others are empty of other ascetics. Thus, bhikkhus, rightly roar the lion’s roar.
Chú thích: Idheva = idha + eva “chỉ ở đây”. Theo Chú giải, “ở đây” là trong giáo pháp này, và bốn hạng Sa-môn là bậc Nhập lưu, Nhất lai, Bất lai và A-la-hán. Samaṇebhi là dạng cách công cụ số nhiều cổ (= samaṇehi), dùng với suññā “trống không [những]…”. Ghi chú trong ngoặc của bản VRI cho biết aññehi ở đây nên hiểu là “những vị biết đúng sự thật như lời mình tự xưng”. Sīhanāda “tiếng rống sư tử”: lời tuyên bố quả quyết, không sợ hãi.

§140 – Bốn pháp làm chỗ dựa: tịnh tín, giới, bạn đồng pháp

140. ‘‘Ṭhānaṃ kho panetaṃ, bhikkhave, vijjati yaṃ aññatitthiyā paribbājakā evaṃ vadeyyuṃ – ‘ko panāyasmantānaṃ assāso, kiṃ balaṃ, yena tumhe āyasmanto evaṃ vadetha – idheva samaṇo, idha dutiyo samaṇo, idha tatiyo samaṇo, idha catuttho samaṇo; suññā parappavādā samaṇebhi aññehī’ti?
140. “Này các tỳ-khưu, có trường hợp này: các du sĩ ngoại đạo có thể nói như sau: ‘Nhưng các tôn giả có sự an tâm gì, có sức mạnh gì, mà do đó các tôn giả nói như vậy: chỉ ở đây có Sa-môn, ở đây có Sa-môn thứ hai, ở đây có Sa-môn thứ ba, ở đây có Sa-môn thứ tư; các học thuyết khác thì trống không các Sa-môn khác?’
140. “It is possible, bhikkhus, that wanderers of other sects might speak thus: ‘But what assurance do the venerable ones have, what strength, by which you venerable ones speak thus: only here is there an ascetic, here a second ascetic, here a third ascetic, here a fourth ascetic; the doctrines of others are empty of other ascetics?’
Evaṃvādino, bhikkhave, aññatitthiyā paribbājakā evamassu vacanīyā – ‘atthi kho no, āvuso, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena cattāro dhammā akkhātā ye mayaṃ attani sampassamānā evaṃ vadema – idheva samaṇo, idha dutiyo samaṇo, idha tatiyo samaṇo, idha catuttho samaṇo; suññā parappavādā samaṇebhi aññehīti.
Này các tỳ-khưu, các du sĩ ngoại đạo nói như vậy cần được nói như sau: ‘Này chư hiền, có bốn pháp đã được Đức Thế Tôn ấy, bậc biết, bậc thấy, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác tuyên thuyết cho chúng tôi, mà chúng tôi, khi thấy rõ [chúng] nơi chính mình, nói như vậy: chỉ ở đây có Sa-môn, ở đây có Sa-môn thứ hai, ở đây có Sa-môn thứ ba, ở đây có Sa-môn thứ tư; các học thuyết khác thì trống không các Sa-môn khác.
Wanderers of other sects who speak thus, bhikkhus, should be spoken to thus: ‘There are, friends, four things declared to us by that Blessed One who knows, who sees, the arahant, the perfectly Enlightened One, seeing which in ourselves we speak thus: only here is there an ascetic, here a second ascetic, here a third ascetic, here a fourth ascetic; the doctrines of others are empty of other ascetics.
Katame cattāro? Atthi kho no, āvuso, satthari pasādo, atthi dhamme pasādo, atthi sīlesu paripūrakāritā; sahadhammikā kho pana piyā manāpā – gahaṭṭhā ceva pabbajitā ca. Ime kho no, āvuso, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena cattāro dhammā akkhātā ye mayaṃ attani sampassamānā evaṃ vadema – idheva samaṇo, idha dutiyo samaṇo, idha tatiyo samaṇo, idha catuttho samaṇo; suññā parappavādā samaṇebhi aññehī’ti.
Thế nào là bốn? Này chư hiền, chúng tôi có tịnh tín nơi bậc Đạo Sư, có tịnh tín nơi pháp, có sự làm viên mãn các giới; và các bạn đồng pháp thì thân ái, dễ mến – cả người tại gia lẫn người xuất gia. Này chư hiền, đây là bốn pháp đã được Đức Thế Tôn ấy, bậc biết, bậc thấy, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác tuyên thuyết cho chúng tôi, mà chúng tôi, khi thấy rõ [chúng] nơi chính mình, nói như vậy: chỉ ở đây có Sa-môn, ở đây có Sa-môn thứ hai, ở đây có Sa-môn thứ ba, ở đây có Sa-môn thứ tư; các học thuyết khác thì trống không các Sa-môn khác.’
What four? We have, friends, confidence in the Teacher, we have confidence in the Dhamma, we have fulfilment of the virtues; and our fellows in the Dhamma are dear and agreeable – both householders and those gone forth. These, friends, are the four things declared to us by that Blessed One who knows, who sees, the arahant, the perfectly Enlightened One, seeing which in ourselves we speak thus: only here is there an ascetic, here a second ascetic, here a third ascetic, here a fourth ascetic; the doctrines of others are empty of other ascetics.’
Chú thích: Ṭhānaṃ kho panetaṃ vijjati yaṃ… (lit. “có chỗ đứng này, rằng…”) là thành ngữ chỉ khả năng: “có thể xảy ra là…”. Evamassu vacanīyā: assu là cầu khiến (optative) ngôi 3 số nhiều của atthi, vacanīya là phân từ tương lai bị động “cần được nói”. Các từ jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena đều ở cách công cụ, đồng vị với bhagavatā – tác nhân của akkhātā “đã được tuyên thuyết”. Assāsa: hơi thở vào, nghĩa bóng là chỗ an tâm, chỗ dựa tin tưởng.

§141 – Cứu cánh là một: tám cặp câu hỏi

141. ‘‘Ṭhānaṃ kho panetaṃ, bhikkhave, vijjati yaṃ aññatitthiyā paribbājakā evaṃ vadeyyuṃ – ‘amhākampi kho, āvuso, atthi satthari pasādo yo amhākaṃ satthā, amhākampi atthi dhamme pasādo yo amhākaṃ dhammo, mayampi sīlesu paripūrakārino yāni amhākaṃ sīlāni, amhākampi sahadhammikā piyā manāpā – gahaṭṭhā ceva pabbajitā ca. Idha no, āvuso, ko viseso ko adhippayāso [adhippāyo (ka. sī. syā. pī.), adhippayogo (ka.)] kiṃ nānākaraṇaṃ yadidaṃ tumhākañceva amhākañcā’ti?
141. “Này các tỳ-khưu, có trường hợp này: các du sĩ ngoại đạo có thể nói như sau: ‘Này chư hiền, chúng tôi cũng có tịnh tín nơi bậc Đạo Sư – vị là Đạo Sư của chúng tôi; chúng tôi cũng có tịnh tín nơi pháp – pháp là pháp của chúng tôi; chúng tôi cũng là người làm viên mãn các giới – những giới là giới của chúng tôi; các bạn đồng pháp của chúng tôi cũng thân ái, dễ mến – cả người tại gia lẫn người xuất gia. Vậy ở đây, này chư hiền, đâu là điểm đặc biệt, đâu là điểm vượt trội, đâu là sự sai khác, tức là giữa các ông và chúng tôi?’
141. “It is possible, bhikkhus, that wanderers of other sects might speak thus: ‘We too, friends, have confidence in the Teacher – the one who is our teacher; we too have confidence in the Dhamma – that which is our Dhamma; we too are fulfillers of the virtues – those which are our virtues; our fellows in the Dhamma too are dear and agreeable – both householders and those gone forth. What here, friends, is the distinction, what the special striving, what the difference, that is, between you and us?’
‘‘Evaṃvādino, bhikkhave, aññatitthiyā paribbājakā evamassu vacanīyā – ‘kiṃ panāvuso, ekā niṭṭhā, udāhu puthu niṭṭhā’ti? Sammā byākaramānā, bhikkhave, aññatitthiyā paribbājakā evaṃ byākareyyuṃ – ‘ekāvuso, niṭṭhā, na puthu niṭṭhā’ti.
“Này các tỳ-khưu, các du sĩ ngoại đạo nói như vậy cần được nói như sau: ‘Nhưng này chư hiền, cứu cánh là một, hay cứu cánh là nhiều?’ Này các tỳ-khưu, khi trả lời một cách chân chánh, các du sĩ ngoại đạo sẽ trả lời như sau: ‘Này chư hiền, cứu cánh là một, cứu cánh không phải là nhiều.’
“Wanderers of other sects who speak thus, bhikkhus, should be spoken to thus: ‘But, friends, is the goal one, or is the goal many?’ Answering rightly, bhikkhus, wanderers of other sects would answer thus: ‘Friends, the goal is one, the goal is not many.’
‘‘‘Sā panāvuso, niṭṭhā sarāgassa udāhu vītarāgassā’ti? Sammā byākaramānā, bhikkhave, aññatitthiyā paribbājakā evaṃ byākareyyuṃ – ‘vītarāgassāvuso, sā niṭṭhā, na sā niṭṭhā sarāgassā’ti.
‘Này chư hiền, cứu cánh ấy là của người còn tham hay của người đã ly tham?’ Này các tỳ-khưu, khi trả lời một cách chân chánh, các du sĩ ngoại đạo sẽ trả lời như sau: ‘Này chư hiền, cứu cánh ấy là của người đã ly tham, cứu cánh ấy không phải của người còn tham.’
‘But, friends, is that goal for one with lust or for one without lust?’ Answering rightly, bhikkhus, wanderers of other sects would answer thus: ‘Friends, that goal is for one without lust, that goal is not for one with lust.’
‘‘‘Sā panāvuso, niṭṭhā sadosassa udāhu vītadosassā’ti? Sammā byākaramānā, bhikkhave, aññatitthiyā paribbājakā evaṃ byākareyyuṃ – ‘vītadosassāvuso, sā niṭṭhā, na sā niṭṭhā sadosassā’ti.
‘Này chư hiền, cứu cánh ấy là của người còn sân hay của người đã ly sân?’ Này các tỳ-khưu, khi trả lời một cách chân chánh, các du sĩ ngoại đạo sẽ trả lời như sau: ‘Này chư hiền, cứu cánh ấy là của người đã ly sân, cứu cánh ấy không phải của người còn sân.’
‘But, friends, is that goal for one with hatred or for one without hatred?’ Answering rightly, bhikkhus, wanderers of other sects would answer thus: ‘Friends, that goal is for one without hatred, that goal is not for one with hatred.’
‘‘‘Sā panāvuso, niṭṭhā samohassa udāhu vītamohassā’ti? Sammā byākaramānā, bhikkhave, aññatitthiyā paribbājakā evaṃ byākareyyuṃ – ‘vītamohassāvuso, sā niṭṭhā, na sā niṭṭhā samohassā’ti.
‘Này chư hiền, cứu cánh ấy là của người còn si hay của người đã ly si?’ Này các tỳ-khưu, khi trả lời một cách chân chánh, các du sĩ ngoại đạo sẽ trả lời như sau: ‘Này chư hiền, cứu cánh ấy là của người đã ly si, cứu cánh ấy không phải của người còn si.’
‘But, friends, is that goal for one with delusion or for one without delusion?’ Answering rightly, bhikkhus, wanderers of other sects would answer thus: ‘Friends, that goal is for one without delusion, that goal is not for one with delusion.’
‘‘‘Sā panāvuso, niṭṭhā sataṇhassa udāhu vītataṇhassā’ti? Sammā byākaramānā, bhikkhave, aññatitthiyā paribbājakā evaṃ byākareyyuṃ – ‘vītataṇhassāvuso, sā niṭṭhā, na sā niṭṭhā sataṇhassā’ti.
‘Này chư hiền, cứu cánh ấy là của người còn ái hay của người đã ly ái?’ Này các tỳ-khưu, khi trả lời một cách chân chánh, các du sĩ ngoại đạo sẽ trả lời như sau: ‘Này chư hiền, cứu cánh ấy là của người đã ly ái, cứu cánh ấy không phải của người còn ái.’
‘But, friends, is that goal for one with craving or for one without craving?’ Answering rightly, bhikkhus, wanderers of other sects would answer thus: ‘Friends, that goal is for one without craving, that goal is not for one with craving.’
‘‘‘Sā panāvuso, niṭṭhā saupādānassa udāhu anupādānassā’ti? Sammā byākaramānā, bhikkhave, aññatitthiyā paribbājakā evaṃ byākareyyuṃ – ‘anupādānassāvuso, sā niṭṭhā, na sā niṭṭhā saupādānassā’ti.
‘Này chư hiền, cứu cánh ấy là của người còn thủ hay của người không còn thủ?’ Này các tỳ-khưu, khi trả lời một cách chân chánh, các du sĩ ngoại đạo sẽ trả lời như sau: ‘Này chư hiền, cứu cánh ấy là của người không còn thủ, cứu cánh ấy không phải của người còn thủ.’
‘But, friends, is that goal for one with clinging or for one without clinging?’ Answering rightly, bhikkhus, wanderers of other sects would answer thus: ‘Friends, that goal is for one without clinging, that goal is not for one with clinging.’
‘‘‘Sā panāvuso, niṭṭhā viddasuno udāhu aviddasuno’ti? Sammā byākaramānā, bhikkhave, aññatitthiyā paribbājakā evaṃ byākareyyuṃ – ‘viddasuno, āvuso, sā niṭṭhā, na sā niṭṭhā aviddasuno’ti.
‘Này chư hiền, cứu cánh ấy là của người có trí hay của người không có trí?’ Này các tỳ-khưu, khi trả lời một cách chân chánh, các du sĩ ngoại đạo sẽ trả lời như sau: ‘Này chư hiền, cứu cánh ấy là của người có trí, cứu cánh ấy không phải của người không có trí.’
‘But, friends, is that goal for one who is wise or for one who is unwise?’ Answering rightly, bhikkhus, wanderers of other sects would answer thus: ‘That goal, friends, is for one who is wise, that goal is not for one who is unwise.’
‘‘‘Sā panāvuso, niṭṭhā anuruddhappaṭiviruddhassa udāhu ananuruddhaappaṭiviruddhassā’ti? Sammā byākaramānā, bhikkhave, aññatitthiyā paribbājakā evaṃ byākareyyuṃ – ‘ananuruddhaappaṭiviruddhassāvuso, sā niṭṭhā, na sā niṭṭhā anuruddhappaṭiviruddhassā’ti.
‘Này chư hiền, cứu cánh ấy là của người còn thuận ưa và chống đối hay của người không thuận ưa, không chống đối?’ Này các tỳ-khưu, khi trả lời một cách chân chánh, các du sĩ ngoại đạo sẽ trả lời như sau: ‘Này chư hiền, cứu cánh ấy là của người không thuận ưa, không chống đối, cứu cánh ấy không phải của người còn thuận ưa và chống đối.’
‘But, friends, is that goal for one who favours and opposes or for one who neither favours nor opposes?’ Answering rightly, bhikkhus, wanderers of other sects would answer thus: ‘Friends, that goal is for one who neither favours nor opposes, that goal is not for one who favours and opposes.’
‘‘‘Sā panāvuso, niṭṭhā papañcārāmassa papañcaratino udāhu nippapañcārāmassa nippapañcaratino’ti? Sammā byākaramānā, bhikkhave, aññatitthiyā paribbājakā evaṃ byākareyyuṃ – ‘nippapañcārāmassāvuso, sā niṭṭhā nippapañcaratino, na sā niṭṭhā papañcārāmassa papañcaratino’ti.
‘Này chư hiền, cứu cánh ấy là của người ưa thích hý luận, thích thú hý luận, hay của người ưa thích vô hý luận, thích thú vô hý luận?’ Này các tỳ-khưu, khi trả lời một cách chân chánh, các du sĩ ngoại đạo sẽ trả lời như sau: ‘Này chư hiền, cứu cánh ấy là của người ưa thích vô hý luận, thích thú vô hý luận, cứu cánh ấy không phải của người ưa thích hý luận, thích thú hý luận.’
‘But, friends, is that goal for one who delights in proliferation, who takes pleasure in proliferation, or for one who delights in non-proliferation, who takes pleasure in non-proliferation?’ Answering rightly, bhikkhus, wanderers of other sects would answer thus: ‘Friends, that goal is for one who delights in non-proliferation, who takes pleasure in non-proliferation; that goal is not for one who delights in proliferation, who takes pleasure in proliferation.’
Chú thích: Niṭṭhā (từ ni + √sthā) là “chỗ dừng cuối cùng”, “cứu cánh”, “mục tiêu tối hậu”. Adhippayāsa là từ hiếm, nghĩa chính xác còn được bàn luận; bản dịch theo nghĩa “sự nỗ lực vượt trội”, còn dị bản ghi adhippāyo (“ý hướng”) và adhippayogo (“sự gia hành đặc biệt”). Viddasu (gen. viddasuno) = người hiểu biết, có trí. Theo Chú giải, anuruddha là bị lôi kéo bởi tham ái, paṭiviruddha là chống đối bởi sân hận; và papañca (hý luận, sự triển khai, lan man của tâm) được Chú giải giải thích là ái, mạn và tà kiến.

§142 – Hai kiến: hữu kiến và phi hữu kiến

142. ‘‘Dvemā, bhikkhave, diṭṭhiyo – bhavadiṭṭhi ca vibhavadiṭṭhi ca. Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā bhavadiṭṭhiṃ allīnā bhavadiṭṭhiṃ upagatā bhavadiṭṭhiṃ ajjhositā, vibhavadiṭṭhiyā te paṭiviruddhā. Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā vibhavadiṭṭhiṃ allīnā vibhavadiṭṭhiṃ upagatā vibhavadiṭṭhiṃ ajjhositā, bhavadiṭṭhiyā te paṭiviruddhā.
142. “Này các tỳ-khưu, có hai kiến này: hữu kiến và phi hữu kiến. Này các tỳ-khưu, phàm những Sa-môn hay Bà-la-môn nào bám vào hữu kiến, đi đến hữu kiến, chấp chặt hữu kiến, những vị ấy chống đối phi hữu kiến. Này các tỳ-khưu, phàm những Sa-môn hay Bà-la-môn nào bám vào phi hữu kiến, đi đến phi hữu kiến, chấp chặt phi hữu kiến, những vị ấy chống đối hữu kiến.
142. “There are, bhikkhus, these two views: the view of existence and the view of non-existence. Whatever ascetics or brahmins, bhikkhus, cling to the view of existence, have taken up the view of existence, are attached to the view of existence, they are opposed to the view of non-existence. Whatever ascetics or brahmins, bhikkhus, cling to the view of non-existence, have taken up the view of non-existence, are attached to the view of non-existence, they are opposed to the view of existence.
Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā imāsaṃ dvinnaṃ diṭṭhīnaṃ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṃ nappajānanti, ‘te sarāgā te sadosā te samohā te sataṇhā te saupādānā te aviddasuno te anuruddhappaṭiviruddhā te papañcārāmā papañcaratino; te na parimuccanti jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi; na parimuccanti dukkhasmā’ti vadāmi.
Này các tỳ-khưu, phàm những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không tuệ tri như thật sự tập khởi, sự diệt mất, vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly của hai kiến này, Ta nói rằng: ‘Họ còn tham, họ còn sân, họ còn si, họ còn ái, họ còn thủ, họ không có trí, họ còn thuận ưa và chống đối, họ ưa thích hý luận, thích thú hý luận; họ không thoát khỏi sinh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não; họ không thoát khỏi khổ.’
Whatever ascetics or brahmins, bhikkhus, do not understand as it really is the origin, the passing away, the gratification, the danger and the escape in regard to these two views, of them I say: ‘They are with lust, they are with hatred, they are with delusion, they are with craving, they are with clinging, they are unwise, they favour and oppose, they delight in proliferation, take pleasure in proliferation; they are not freed from birth, ageing, death, sorrows, lamentations, pains, griefs, despairs; they are not freed from suffering.’
Ye ca kho keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā imāsaṃ dvinnaṃ diṭṭhīnaṃ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṃ pajānanti, ‘te vītarāgā te vītadosā te vītamohā te vītataṇhā te anupādānā te viddasuno te ananuruddhaappaṭiviruddhā te nippapañcārāmā nippapañcaratino; te parimuccanti jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi; parimuccanti dukkhasmā’ti vadāmi.
Còn này các tỳ-khưu, phàm những Sa-môn hay Bà-la-môn nào tuệ tri như thật sự tập khởi, sự diệt mất, vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly của hai kiến này, Ta nói rằng: ‘Họ đã ly tham, họ đã ly sân, họ đã ly si, họ đã ly ái, họ không còn thủ, họ có trí, họ không thuận ưa, không chống đối, họ ưa thích vô hý luận, thích thú vô hý luận; họ thoát khỏi sinh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não; họ thoát khỏi khổ.’
But whatever ascetics or brahmins, bhikkhus, understand as it really is the origin, the passing away, the gratification, the danger and the escape in regard to these two views, of them I say: ‘They are without lust, they are without hatred, they are without delusion, they are without craving, they are without clinging, they are wise, they neither favour nor oppose, they delight in non-proliferation, take pleasure in non-proliferation; they are freed from birth, ageing, death, sorrows, lamentations, pains, griefs, despairs; they are freed from suffering.’
Chú thích: Theo Chú giải, bhavadiṭṭhi (hữu kiến) là thường kiến (sassatadiṭṭhi), vibhavadiṭṭhi (phi hữu kiến) là đoạn kiến (ucchedadiṭṭhi). Ba động từ quá khứ phân từ allīna (bám vào), upagata (đi đến, chấp nhận), ajjhosita (chìm đắm, chấp chặt) diễn tả các mức độ dính mắc tăng dần. Năm phương diện samudaya – atthaṅgama – assāda – ādīnava – nissaraṇa là khuôn mẫu quán xét thường gặp trong kinh.

§143–144 – Bốn thủ và sự liễu tri tất cả thủ

143. ‘‘Cattārimāni, bhikkhave, upādānāni. Katamāni cattāri? Kāmupādānaṃ, diṭṭhupādānaṃ, sīlabbatupādānaṃ, attavādupādānaṃ.
143. “Này các tỳ-khưu, có bốn thủ này. Thế nào là bốn? Dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ, ngã luận thủ.
143. “There are, bhikkhus, these four kinds of clinging. What four? Clinging to sensual pleasures, clinging to views, clinging to rules and observances, clinging to a doctrine of self.
Santi, bhikkhave, eke samaṇabrāhmaṇā sabbupādānapariññāvādā paṭijānamānā. Te na sammā sabbupādānapariññaṃ paññapenti – kāmupādānassa pariññaṃ paññapenti, na diṭṭhupādānassa pariññaṃ paññapenti, na sīlabbatupādānassa pariññaṃ paññapenti, na attavādupādānassa pariññaṃ paññapenti.
“Này các tỳ-khưu, có một số Sa-môn, Bà-la-môn tự xưng là người chủ trương liễu tri tất cả thủ. Họ không chân chánh trình bày sự liễu tri tất cả thủ – trình bày sự liễu tri dục thủ, không trình bày sự liễu tri kiến thủ, không trình bày sự liễu tri giới cấm thủ, không trình bày sự liễu tri ngã luận thủ.
“There are, bhikkhus, some ascetics and brahmins who claim to propound the full understanding of all clinging. They do not rightly describe the full understanding of all clinging – they describe the full understanding of clinging to sensual pleasures, they do not describe the full understanding of clinging to views, they do not describe the full understanding of clinging to rules and observances, they do not describe the full understanding of clinging to a doctrine of self.
Taṃ kissa hetu? Imāni hi te bhonto samaṇabrāhmaṇā tīṇi ṭhānāni yathābhūtaṃ nappajānanti. Tasmā te bhonto samaṇabrāhmaṇā sabbupādānapariññāvādā paṭijānamānā; te na sammā sabbupādānapariññaṃ paññapenti – kāmupādānassa pariññaṃ paññapenti, na diṭṭhupādānassa pariññaṃ paññapenti, na sīlabbatupādānassa pariññaṃ paññapenti, na attavādupādānassa pariññaṃ paññapenti.
Vì sao vậy? Vì các vị Sa-môn, Bà-la-môn ấy không tuệ tri như thật ba trường hợp này. Do vậy, các vị Sa-môn, Bà-la-môn ấy tuy tự xưng là người chủ trương liễu tri tất cả thủ, họ không chân chánh trình bày sự liễu tri tất cả thủ – trình bày sự liễu tri dục thủ, không trình bày sự liễu tri kiến thủ, không trình bày sự liễu tri giới cấm thủ, không trình bày sự liễu tri ngã luận thủ.
For what reason? Because those good ascetics and brahmins do not understand these three cases as they really are. Therefore, though those good ascetics and brahmins claim to propound the full understanding of all clinging, they do not rightly describe the full understanding of all clinging – they describe the full understanding of clinging to sensual pleasures, they do not describe the full understanding of clinging to views, they do not describe the full understanding of clinging to rules and observances, they do not describe the full understanding of clinging to a doctrine of self.
‘‘Santi, bhikkhave, eke samaṇabrāhmaṇā sabbupādānapariññāvādā paṭijānamānā. Te na sammā sabbupādānapariññaṃ paññapenti – kāmupādānassa pariññaṃ paññapenti, diṭṭhupādānassa pariññaṃ paññapenti, na sīlabbatupādānassa pariññaṃ paññapenti, na attavādupādānassa pariññaṃ paññapenti.
“Này các tỳ-khưu, có một số Sa-môn, Bà-la-môn tự xưng là người chủ trương liễu tri tất cả thủ. Họ không chân chánh trình bày sự liễu tri tất cả thủ – trình bày sự liễu tri dục thủ, trình bày sự liễu tri kiến thủ, không trình bày sự liễu tri giới cấm thủ, không trình bày sự liễu tri ngã luận thủ.
“There are, bhikkhus, some ascetics and brahmins who claim to propound the full understanding of all clinging. They do not rightly describe the full understanding of all clinging – they describe the full understanding of clinging to sensual pleasures, they describe the full understanding of clinging to views, they do not describe the full understanding of clinging to rules and observances, they do not describe the full understanding of clinging to a doctrine of self.
Taṃ kissa hetu? Imāni hi te bhonto samaṇabrāhmaṇā dve ṭhānāni yathābhūtaṃ nappajānanti. Tasmā te bhonto samaṇabrāhmaṇā sabbupādānapariññāvādā paṭijānamānā; te na sammā [paṭijānamānā na sammā (?)] sabbupādānapariññaṃ paññapenti – kāmupādānassa pariññaṃ paññapenti, diṭṭhupādānassa pariññaṃ paññapenti, na sīlabbatupādānassa pariññaṃ paññapenti, na attavādupādānassa pariññaṃ paññapenti.
Vì sao vậy? Vì các vị Sa-môn, Bà-la-môn ấy không tuệ tri như thật hai trường hợp này. Do vậy, các vị Sa-môn, Bà-la-môn ấy tuy tự xưng là người chủ trương liễu tri tất cả thủ, họ không chân chánh trình bày sự liễu tri tất cả thủ – trình bày sự liễu tri dục thủ, trình bày sự liễu tri kiến thủ, không trình bày sự liễu tri giới cấm thủ, không trình bày sự liễu tri ngã luận thủ.
For what reason? Because those good ascetics and brahmins do not understand these two cases as they really are. Therefore, though those good ascetics and brahmins claim to propound the full understanding of all clinging, they do not rightly describe the full understanding of all clinging – they describe the full understanding of clinging to sensual pleasures, they describe the full understanding of clinging to views, they do not describe the full understanding of clinging to rules and observances, they do not describe the full understanding of clinging to a doctrine of self.
‘‘Santi, bhikkhave, eke samaṇabrāhmaṇā sabbupādānapariññāvādā paṭijānamānā. Te na sammā sabbupādānapariññaṃ paññapenti – kāmupādānassa pariññaṃ paññapenti, diṭṭhupādānassa pariññaṃ paññapenti, sīlabbatupādānassa pariññaṃ paññapenti, na attavādupādānassa pariññaṃ paññapenti.
“Này các tỳ-khưu, có một số Sa-môn, Bà-la-môn tự xưng là người chủ trương liễu tri tất cả thủ. Họ không chân chánh trình bày sự liễu tri tất cả thủ – trình bày sự liễu tri dục thủ, trình bày sự liễu tri kiến thủ, trình bày sự liễu tri giới cấm thủ, không trình bày sự liễu tri ngã luận thủ.
“There are, bhikkhus, some ascetics and brahmins who claim to propound the full understanding of all clinging. They do not rightly describe the full understanding of all clinging – they describe the full understanding of clinging to sensual pleasures, they describe the full understanding of clinging to views, they describe the full understanding of clinging to rules and observances, they do not describe the full understanding of clinging to a doctrine of self.
Taṃ kissa hetu? Imañhi te bhonto samaṇabrāhmaṇā ekaṃ ṭhānaṃ yathābhūtaṃ nappajānanti. Tasmā te bhonto samaṇabrāhmaṇā sabbupādānapariññāvādā paṭijānamānā; te na sammā [paṭijānamānā na sammā (?)] sabbupādānapariññaṃ paññapenti – kāmupādānassa pariññaṃ paññapenti, diṭṭhupādānassa pariññaṃ paññapenti, sīlabbatupādānassa pariññaṃ paññapenti, na attavādupādānassa pariññaṃ paññapenti.
Vì sao vậy? Vì các vị Sa-môn, Bà-la-môn ấy không tuệ tri như thật một trường hợp này. Do vậy, các vị Sa-môn, Bà-la-môn ấy tuy tự xưng là người chủ trương liễu tri tất cả thủ, họ không chân chánh trình bày sự liễu tri tất cả thủ – trình bày sự liễu tri dục thủ, trình bày sự liễu tri kiến thủ, trình bày sự liễu tri giới cấm thủ, không trình bày sự liễu tri ngã luận thủ.
For what reason? Because those good ascetics and brahmins do not understand this one case as it really is. Therefore, though those good ascetics and brahmins claim to propound the full understanding of all clinging, they do not rightly describe the full understanding of all clinging – they describe the full understanding of clinging to sensual pleasures, they describe the full understanding of clinging to views, they describe the full understanding of clinging to rules and observances, they do not describe the full understanding of clinging to a doctrine of self.
‘‘Evarūpe kho, bhikkhave, dhammavinaye yo satthari pasādo so na sammaggato akkhāyati; yo dhamme pasādo so na sammaggato akkhāyati; yā sīlesu paripūrakāritā sā na sammaggatā akkhāyati; yā sahadhammikesu piyamanāpatā sā na sammaggatā akkhāyati.
“Này các tỳ-khưu, trong một pháp và luật như vậy, tịnh tín nơi bậc Đạo Sư, tịnh tín ấy được nói là không đi đúng hướng; tịnh tín nơi pháp, tịnh tín ấy được nói là không đi đúng hướng; sự làm viên mãn các giới, sự ấy được nói là không đi đúng hướng; sự thân ái, dễ mến giữa các bạn đồng pháp, sự ấy được nói là không đi đúng hướng.
“In such a Dhamma and discipline, bhikkhus, whatever confidence there is in the Teacher, that is declared not to be rightly directed; whatever confidence there is in the Dhamma, that is declared not to be rightly directed; whatever fulfilment of the virtues there is, that is declared not to be rightly directed; whatever affection and agreeableness there is among fellows in the Dhamma, that is declared not to be rightly directed.
Taṃ kissa hetu? Evañhetaṃ, bhikkhave, hoti yathā taṃ durakkhāte dhammavinaye duppavedite aniyyānike anupasamasaṃvattanike asammāsambuddhappavedite.
Vì sao vậy? Này các tỳ-khưu, điều ấy là như vậy, như thường xảy ra trong một pháp và luật bị thuyết sai, bị tuyên bố sai, không dẫn đến xuất ly, không đưa đến an tịnh, được tuyên bố bởi vị không phải là bậc Chánh Đẳng Giác.
For what reason? So it is, bhikkhus, as is the case in a Dhamma and discipline that is badly proclaimed, badly made known, not emancipating, not conducive to peace, made known by one who is not perfectly enlightened.
144. ‘‘Tathāgato ca kho, bhikkhave, arahaṃ sammāsambuddho sabbupādānapariññāvādo paṭijānamāno sammā sabbupādānapariññaṃ paññapeti – kāmupādānassa pariññaṃ paññapeti, diṭṭhupādānassa pariññaṃ paññapeti, sīlabbatupādānassa pariññaṃ paññapeti, attavādupādānassa pariññaṃ paññapeti.
144. “Còn này các tỳ-khưu, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, tự xưng là người chủ trương liễu tri tất cả thủ, chân chánh trình bày sự liễu tri tất cả thủ – trình bày sự liễu tri dục thủ, trình bày sự liễu tri kiến thủ, trình bày sự liễu tri giới cấm thủ, trình bày sự liễu tri ngã luận thủ.
144. “But the Tathāgata, bhikkhus, the arahant, the perfectly Enlightened One, claiming to propound the full understanding of all clinging, rightly describes the full understanding of all clinging – he describes the full understanding of clinging to sensual pleasures, he describes the full understanding of clinging to views, he describes the full understanding of clinging to rules and observances, he describes the full understanding of clinging to a doctrine of self.
Evarūpe kho, bhikkhave, dhammavinaye yo satthari pasādo so sammaggato akkhāyati; yo dhamme pasādo so sammaggato akkhāyati; yā sīlesu paripūrakāritā sā sammaggatā akkhāyati; yā sahadhammikesu piyamanāpatā sā sammaggatā akkhāyati.
Này các tỳ-khưu, trong một pháp và luật như vậy, tịnh tín nơi bậc Đạo Sư, tịnh tín ấy được nói là đi đúng hướng; tịnh tín nơi pháp, tịnh tín ấy được nói là đi đúng hướng; sự làm viên mãn các giới, sự ấy được nói là đi đúng hướng; sự thân ái, dễ mến giữa các bạn đồng pháp, sự ấy được nói là đi đúng hướng.
In such a Dhamma and discipline, bhikkhus, whatever confidence there is in the Teacher, that is declared to be rightly directed; whatever confidence there is in the Dhamma, that is declared to be rightly directed; whatever fulfilment of the virtues there is, that is declared to be rightly directed; whatever affection and agreeableness there is among fellows in the Dhamma, that is declared to be rightly directed.
Taṃ kissa hetu? Evañhetaṃ, bhikkhave, hoti yathā taṃ svākkhāte dhammavinaye suppavedite niyyānike upasamasaṃvattanike sammāsambuddhappavedite.
Vì sao vậy? Này các tỳ-khưu, điều ấy là như vậy, như thường xảy ra trong một pháp và luật được khéo thuyết, được khéo tuyên bố, dẫn đến xuất ly, đưa đến an tịnh, được tuyên bố bởi bậc Chánh Đẳng Giác.
For what reason? So it is, bhikkhus, as is the case in a Dhamma and discipline that is well proclaimed, well made known, emancipating, conducive to peace, made known by one who is perfectly enlightened.
Chú thích: Bốn thủ: kāmupādāna (dục thủ), diṭṭhupādāna (kiến thủ), sīlabbatupādāna (giới cấm thủ – chấp vào giới và cấm hạnh như con đường thanh tịnh), attavādupādāna (ngã luận thủ – chấp vào thuyết có tự ngã). Sabbupādānapariññāvāda là hợp từ “người có thuyết về sự liễu tri tất cả thủ”; paṭijānamāna là hiện tại phân từ trung bị “tự xưng”. Ý chung của Chú giải: ngoài giáo pháp của Đức Phật, không ai trình bày được sự liễu tri ngã luận thủ, vì họ còn chấp có tự ngã. Sammaggata (sammā + gata) “đi đúng [đường]”, tức hướng đúng đến mục tiêu.

§145 – Nguồn gốc của thủ và sự giải thoát

145. ‘‘Ime ca, bhikkhave, cattāro upādānā. Kiṃnidānā kiṃsamudayā kiṃjātikā kiṃpabhavā? Ime cattāro upādānā taṇhānidānā taṇhāsamudayā taṇhājātikā taṇhāpabhavā.
145. “Và này các tỳ-khưu, bốn thủ này lấy gì làm nhân duyên, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm chỗ sinh, lấy gì làm nguồn gốc? Bốn thủ này lấy ái làm nhân duyên, lấy ái làm tập khởi, lấy ái làm chỗ sinh, lấy ái làm nguồn gốc.
145. “And these four kinds of clinging, bhikkhus – what is their source, what is their origin, from what are they born, what is their provenance? These four kinds of clinging have craving as their source, craving as their origin, are born from craving, have craving as their provenance.
Taṇhā cāyaṃ, bhikkhave, kiṃnidānā kiṃsamudayā kiṃjātikā kiṃpabhavā? Taṇhā vedanānidānā vedanāsamudayā vedanājātikā vedanāpabhavā.
Và này các tỳ-khưu, ái này lấy gì làm nhân duyên, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm chỗ sinh, lấy gì làm nguồn gốc? Ái lấy thọ làm nhân duyên, lấy thọ làm tập khởi, lấy thọ làm chỗ sinh, lấy thọ làm nguồn gốc.
And this craving, bhikkhus – what is its source, what is its origin, from what is it born, what is its provenance? Craving has feeling as its source, feeling as its origin, is born from feeling, has feeling as its provenance.
Vedanā cāyaṃ, bhikkhave, kiṃnidānā kiṃsamudayā kiṃjātikā kiṃpabhavā? Vedanā phassanidānā phassasamudayā phassajātikā phassapabhavā.
Và này các tỳ-khưu, thọ này lấy gì làm nhân duyên, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm chỗ sinh, lấy gì làm nguồn gốc? Thọ lấy xúc làm nhân duyên, lấy xúc làm tập khởi, lấy xúc làm chỗ sinh, lấy xúc làm nguồn gốc.
And this feeling, bhikkhus – what is its source, what is its origin, from what is it born, what is its provenance? Feeling has contact as its source, contact as its origin, is born from contact, has contact as its provenance.
Phasso cāyaṃ, bhikkhave, kiṃnidāno kiṃsamudayo kiṃjātiko kiṃpabhavo? Phasso saḷāyatananidāno saḷāyatanasamudayo saḷāyatanajātiko saḷāyatanapabhavo.
Và này các tỳ-khưu, xúc này lấy gì làm nhân duyên, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm chỗ sinh, lấy gì làm nguồn gốc? Xúc lấy sáu xứ làm nhân duyên, lấy sáu xứ làm tập khởi, lấy sáu xứ làm chỗ sinh, lấy sáu xứ làm nguồn gốc.
And this contact, bhikkhus – what is its source, what is its origin, from what is it born, what is its provenance? Contact has the sixfold base as its source, the sixfold base as its origin, is born from the sixfold base, has the sixfold base as its provenance.
Saḷāyatanañcidaṃ, bhikkhave, kiṃnidānaṃ kiṃsamudayaṃ kiṃjātikaṃ kiṃpabhavaṃ? Saḷāyatanaṃ nāmarūpanidānaṃ nāmarūpasamudayaṃ nāmarūpajātikaṃ nāmarūpapabhavaṃ.
Và này các tỳ-khưu, sáu xứ này lấy gì làm nhân duyên, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm chỗ sinh, lấy gì làm nguồn gốc? Sáu xứ lấy danh sắc làm nhân duyên, lấy danh sắc làm tập khởi, lấy danh sắc làm chỗ sinh, lấy danh sắc làm nguồn gốc.
And this sixfold base, bhikkhus – what is its source, what is its origin, from what is it born, what is its provenance? The sixfold base has name-and-form as its source, name-and-form as its origin, is born from name-and-form, has name-and-form as its provenance.
Nāmarūpañcidaṃ, bhikkhave, kiṃnidānaṃ kiṃsamudayaṃ kiṃjātikaṃ kiṃpabhavaṃ? Nāmarūpaṃ viññāṇanidānaṃ viññāṇasamudayaṃ viññāṇajātikaṃ viññāṇapabhavaṃ.
Và này các tỳ-khưu, danh sắc này lấy gì làm nhân duyên, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm chỗ sinh, lấy gì làm nguồn gốc? Danh sắc lấy thức làm nhân duyên, lấy thức làm tập khởi, lấy thức làm chỗ sinh, lấy thức làm nguồn gốc.
And this name-and-form, bhikkhus – what is its source, what is its origin, from what is it born, what is its provenance? Name-and-form has consciousness as its source, consciousness as its origin, is born from consciousness, has consciousness as its provenance.
Viññāṇañcidaṃ, bhikkhave, kiṃnidānaṃ kiṃsamudayaṃ kiṃjātikaṃ kiṃpabhavaṃ? Viññāṇaṃ saṅkhāranidānaṃ saṅkhārasamudayaṃ saṅkhārajātikaṃ saṅkhārapabhavaṃ.
Và này các tỳ-khưu, thức này lấy gì làm nhân duyên, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm chỗ sinh, lấy gì làm nguồn gốc? Thức lấy hành làm nhân duyên, lấy hành làm tập khởi, lấy hành làm chỗ sinh, lấy hành làm nguồn gốc.
And this consciousness, bhikkhus – what is its source, what is its origin, from what is it born, what is its provenance? Consciousness has volitional formations as its source, volitional formations as its origin, is born from volitional formations, has volitional formations as its provenance.
Saṅkhārā cime, bhikkhave, kiṃnidānā kiṃsamudayā kiṃjātikā kiṃpabhavā? Saṅkhārā avijjānidānā avijjāsamudayā avijjājātikā avijjāpabhavā.
Và này các tỳ-khưu, các hành này lấy gì làm nhân duyên, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm chỗ sinh, lấy gì làm nguồn gốc? Các hành lấy vô minh làm nhân duyên, lấy vô minh làm tập khởi, lấy vô minh làm chỗ sinh, lấy vô minh làm nguồn gốc.
And these volitional formations, bhikkhus – what is their source, what is their origin, from what are they born, what is their provenance? Volitional formations have ignorance as their source, ignorance as their origin, are born from ignorance, have ignorance as their provenance.
‘‘Yato ca kho, bhikkhave, bhikkhuno avijjā pahīnā hoti vijjā uppannā, so avijjāvirāgā vijjuppādā neva kāmupādānaṃ upādiyati, na diṭṭhupādānaṃ upādiyati, na sīlabbatupādānaṃ upādiyati, na attavādupādānaṃ upādiyati.
“Và này các tỳ-khưu, khi nào nơi một tỳ-khưu vô minh đã được đoạn trừ, minh đã sinh khởi, thì vị ấy, do vô minh phai diệt, do minh sinh khởi, không chấp lấy dục thủ, không chấp lấy kiến thủ, không chấp lấy giới cấm thủ, không chấp lấy ngã luận thủ.
“And when, bhikkhus, in a bhikkhu ignorance has been abandoned and true knowledge has arisen, then, with the fading away of ignorance and the arising of true knowledge, he does not take up clinging to sensual pleasures, does not take up clinging to views, does not take up clinging to rules and observances, does not take up clinging to a doctrine of self.
Anupādiyaṃ na paritassati, aparitassaṃ paccattaññeva parinibbāyati. ‘Khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā’ti pajānātī’’ti.
Không chấp thủ, vị ấy không dao động; không dao động, vị ấy tự chính mình hoàn toàn tịch diệt. Vị ấy tuệ tri: ‘Sinh đã tận, Phạm hạnh đã sống, việc cần làm đã làm, không còn [trở lại] trạng thái này nữa.’”
Not clinging, he is not agitated; not being agitated, he attains final Nibbāna within himself. He understands: ‘Destroyed is birth, the holy life has been lived, done is what had to be done, there is no more for this state of being.’”
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṃ abhinandunti.
Đức Thế Tôn đã nói điều này. Hoan hỷ, các tỳ-khưu ấy hoan hỷ tán thán lời dạy của Đức Thế Tôn.
This the Blessed One said. Elated, those bhikkhus delighted in the Blessed One’s words.
Chú thích: Trong §145, upādānā mang hình thức nam tính số nhiều (ime cattāro upādānā), trong khi ở §143 là trung tính (cattārimāni upādānāni) – cả hai đều có trong nguồn. Bốn từ nidāna – samudaya – jātika – pabhava là hợp từ sở hữu (bahubbīhi): “có … làm nhân duyên / tập khởi / chỗ sinh / nguồn gốc”. Chuỗi đi ngược từ thủ về vô minh là các chi của Duyên khởi (paṭiccasamuppāda). Anupādiyaṃ, aparitassaṃ là hiện tại phân từ phủ định; paritassati “dao động, khắc khoải” (vì ái và tà kiến); paccattaññeva parinibbāyati “tự chính mình hoàn toàn tịch diệt [phiền não]”.
Cūḷasīhanādasuttaṃ niṭṭhitaṃ paṭhamaṃ.
Tiểu Kinh Sư Tử Hống, thứ nhất, đã xong.
The Shorter Discourse on the Lion’s Roar, the first, is finished.

Thuật ngữ then chốt trong MN 11

PāliTiếng ViệtEnglishGhi chú
sīhanādatiếng rống sư tửlion’s roarLời tuyên bố quả quyết, không sợ hãi (§139).
samaṇaSa-mônasceticTheo Chú giải, bốn Sa-môn là bốn bậc Thánh quả (§139).
pasādatịnh tínconfidenceNơi bậc Đạo Sư và nơi pháp (§140).
niṭṭhācứu cánhgoal“Cứu cánh là một, không phải nhiều” (§141).
papañcahý luậnproliferationTheo Chú giải: ái, mạn, tà kiến (§141–142).
bhavadiṭṭhi / vibhavadiṭṭhihữu kiến / phi hữu kiếnview of existence / view of non-existenceTheo Chú giải: thường kiến / đoạn kiến (§142).
upādānathủclingingBốn thủ: dục, kiến, giới cấm, ngã luận (§143).
pariññāliễu trifull understandingSabbupādānapariññā: liễu tri tất cả thủ (§143–144).
sammaggatađi đúng hướngrightly directedTịnh tín, giới… chỉ đúng hướng trong pháp được khéo thuyết (§143–144).
paritassatidao độngis agitatedKhông chấp thủ thì không dao động (§145).
Một câu ghi nhớ: Chỗ khác biệt không nằm ở chỗ có lòng tin hay có giới, mà ở chỗ cứu cánh là một – của người đã ly tham, ly sân, ly si, không còn thủ – và chỉ ai liễu tri cả bốn thủ, tận gốc đến vô minh, mới không còn dao động mà tự mình tịch diệt.

Đọc tiếp

Nguồn tham khảo

  1. Bản Pāli: Chaṭṭha Saṅgāyana Tipiṭaka, Majjhimanikāya, Mūlapaṇṇāsapāḷi, Cūḷasīhanādasutta (MN 11) – Vipassana Research Institute: tipitaka.org
  2. Đối chiếu đoạn văn: SuttaCentral – MN 11
  3. Chú giải: Papañcasūdanī (Majjhimanikāya-aṭṭhakathā), phần Cūḷasīhanādasuttavaṇṇanā – bản VRI tại tipitaka.org
  4. Đối chiếu nghĩa (không trích lời dịch): HT. Thích Minh Châu; Bhikkhu Ñāṇamoli & Bhikkhu Bodhi; Bhikkhu Sujato.
Bản dịch Việt – Anh trên trang này do Theravada.blog thực hiện trực tiếp từ Pāli, theo lối sát chữ dành cho người học. Nếu quý độc giả phát hiện chỗ cần sửa, xin để lại bình luận.
Tải bản song ngữ Pāli – Việt – Anh (MN 11)
Toàn bộ bản văn ba cột Pāli – Tiếng Việt – English của bài này, kèm chú thích và bảng thuật ngữ: bản PDF khổ ngang để in và đọc ngoại tuyến, bản Excel để tra cứu, lọc và học theo từng đoạn.
Tải PDF (11 trang · 109 KB)Tải Excel (.xlsx · 21 KB)