Kinh Niệm Xứ (Satipaṭṭhānasutta, MN 10) – Phần 2 khép lại bài kinh thứ mười của Trung Bộ Kinh: phần quán pháp đối với Bốn Thánh đế với lời giải thích chi tiết về khổ, tập, diệt, đạo, và lời bảo đảm của Đức Thế Tôn rằng ai tu tập bốn niệm xứ như vậy, dù chỉ bảy ngày, cũng có thể mong đợi chánh trí hoặc quả Bất lai. Bài này đặt nguyên văn Pāli bản Chaṭṭha Saṅgāyana (VRI) song song với bản dịch tiếng Việt và tiếng Anh sát chữ cho đoạn §119–138, kèm chú thích ngữ pháp và thuật ngữ cho người học Pāli.
Hồ sơ bản văn
Tạng: Sutta Piṭaka › Majjhimanikāya › Mūlapaṇṇāsapāḷi › 1. Mūlapariyāyavagga › 10. Satipaṭṭhānasutta (tiêu đề trong bản VRI: Mahāsatipaṭṭhānasuttaṃ)
Nơi thuyết: Kammāsadhamma, một thị trấn của dân chúng Kuru
Người thuyết: Đức Thế Tôn
Người nghe / nhân vật: các tỳ-khưu
Bản Pāli: Chaṭṭha Saṅgāyana Tipiṭaka, Vipassana Research Institute (tipitaka.org), đoạn §119–138 (Phần 2; toàn kinh §105–138; kèm dòng kết phẩm và bảng tóm lược của phẩm thứ nhất)
Bản dịch: Theravada.blog, dịch trực tiếp từ Pāli sang Việt và Anh, văn phong sát chữ
Tạng: Sutta Piṭaka › Majjhimanikāya › Mūlapaṇṇāsapāḷi › 1. Mūlapariyāyavagga › 10. Satipaṭṭhānasutta (tiêu đề trong bản VRI: Mahāsatipaṭṭhānasuttaṃ)
Nơi thuyết: Kammāsadhamma, một thị trấn của dân chúng Kuru
Người thuyết: Đức Thế Tôn
Người nghe / nhân vật: các tỳ-khưu
Bản Pāli: Chaṭṭha Saṅgāyana Tipiṭaka, Vipassana Research Institute (tipitaka.org), đoạn §119–138 (Phần 2; toàn kinh §105–138; kèm dòng kết phẩm và bảng tóm lược của phẩm thứ nhất)
Bản dịch: Theravada.blog, dịch trực tiếp từ Pāli sang Việt và Anh, văn phong sát chữ
Mục lục
Quy ước trình bày · §119 – Quán pháp: Bốn Thánh đế (phần nêu) · §120–125 – Khổ đế: sinh, già, chết, sầu, bi · §126–132 – Khổ đế: khổ, ưu, não, gặp gỡ và xa lìa, cầu không được, năm thủ uẩn · §133 – Tập đế: ái và nơi ái sinh khởi · §134 – Diệt đế: nơi ái được đoạn trừ · §135 – Đạo đế: Thánh đạo tám chi · §136–138 – Điệp khúc, lời bảo đảm và kết kinh · Thuật ngữ · Nguồn
Quy ước trình bày · §119 – Quán pháp: Bốn Thánh đế (phần nêu) · §120–125 – Khổ đế: sinh, già, chết, sầu, bi · §126–132 – Khổ đế: khổ, ưu, não, gặp gỡ và xa lìa, cầu không được, năm thủ uẩn · §133 – Tập đế: ái và nơi ái sinh khởi · §134 – Diệt đế: nơi ái được đoạn trừ · §135 – Đạo đế: Thánh đạo tám chi · §136–138 – Điệp khúc, lời bảo đảm và kết kinh · Thuật ngữ · Nguồn
Quy ước trình bày
- Mỗi hàng gồm ba ô: Pāli (nền kem, in nghiêng) · Tiếng Việt · English. Trên điện thoại, ba ô tự xếp dọc theo thứ tự đó.
- Số đoạn (§) theo bản VRI; ví dụ “MN 10 §133.5” là ý thứ năm trong đoạn 133. Bản VRI đánh số liên tục trong cả Mūlapaṇṇāsa, nên MN 10 gồm §105–138; Phần 1 trình bày §105–118. Các dòng căn giữa là tiêu đề phần và dòng kết phần của chính bản Pāli.
- Chữ nhỏ màu xám trong ngoặc vuông là dị bản hoặc ghi chú do chính bản VRI ghi: sī. (Tích Lan), syā. (Thái), kaṃ. (Campuchia), pī. (PTS), ka. (bản khác).
- …pe… là ký hiệu tỉnh lược của bản Pāli; bản dịch giữ nguyên chỗ lược, ghi “(như trên)” / “(and so on)”. Dấu “…” đơn trong chuỗi liệt kê cũng được giữ nguyên như nguồn.
- Dịch sát chữ: giữ trật tự và hình thái của câu Pāli, không thêm chữ diễn giải vào thân bản dịch (chữ trong ngoặc vuông [ ] ở bản dịch là phần ngầm hiểu). Phần giải thích đặt riêng trong các dòng Chú thích.
Bản văn song ngữ Pāli – Việt – Anh
Pāli (VRI)
Tiếng Việt
English
§119 – Quán pháp: Bốn Thánh đế (phần nêu)
Dhammānupassanā saccapabbaṃ
Quán pháp: phần các sự thật
Contemplation of phenomena: the section on the truths
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhu dhammesu dhammānupassī viharati catūsu ariyasaccesu. Kathañca pana, bhikkhave, bhikkhu dhammesu dhammānupassī viharati catūsu ariyasaccesu?
“Lại nữa, này các tỳ-khưu, tỳ-khưu trú quán pháp trên các pháp đối với bốn Thánh đế. Và này các tỳ-khưu, thế nào là tỳ-khưu trú quán pháp trên các pháp đối với bốn Thánh đế?
“Again, bhikkhus, a bhikkhu dwells contemplating phenomena in phenomena in terms of the four noble truths. And how, bhikkhus, does a bhikkhu dwell contemplating phenomena in phenomena in terms of the four noble truths?
Idha, bhikkhave, bhikkhu ‘idaṃ dukkha’nti yathābhūtaṃ pajānāti, ‘ayaṃ dukkhasamudayo’ti yathābhūtaṃ pajānāti, ‘ayaṃ dukkhanirodho’ti yathābhūtaṃ pajānāti, ‘ayaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṃ pajānāti.
Ở đây, này các tỳ-khưu, tỳ-khưu tuệ tri như thật: ‘Đây là khổ’; tuệ tri như thật: ‘Đây là khổ tập’; tuệ tri như thật: ‘Đây là khổ diệt’; tuệ tri như thật: ‘Đây là con đường đưa đến khổ diệt’.
Here, bhikkhus, a bhikkhu understands as it really is: ‘This is suffering’; he understands as it really is: ‘This is the origin of suffering’; he understands as it really is: ‘This is the cessation of suffering’; he understands as it really is: ‘This is the way leading to the cessation of suffering’.
Chú thích: ‘idaṃ dukkha’nti = idaṃ dukkhaṃ + iti (niggahīta đổi thành n trước ti); yathābhūtaṃ là trạng từ “đúng như đã thành”, bổ nghĩa cho pajānāti. Bản VRI đặt dòng “Paṭhamabhāṇavāro niṭṭhito” (dứt tụng phần thứ nhất) ngay sau §119, còn dị bản syā. đặt sau phần giác chi (xem cuối Phần 1). Phần giải thích chi tiết Tứ Thánh đế §120–135 trùng với DN 22; trong bản PTS (và SuttaCentral) MN 10 chỉ có câu tóm lược ở §119 rồi chuyển thẳng sang điệp khúc §136.
Paṭhamabhāṇavāro niṭṭhito.
Dứt tụng phần thứ nhất.
The first recitation section is finished.
§120–125 – Khổ đế: sinh, già, chết, sầu, bi
Dukkhasaccaniddeso
Phần giải thích Khổ đế
Exposition of the truth of suffering
‘‘Katamañca, bhikkhave, dukkhaṃ ariyasaccaṃ? Jātipi dukkhā, jarāpi dukkhā, maraṇampi dukkhaṃ, sokaparidevadukkhadomanassupāyāsāpi dukkhā, appiyehi sampayogopi dukkho, piyehi vippayogopi dukkho [‘‘appiyehi…pe… vippayogopi dukkho’’ti pāṭho ceva taṃniddeso ca sī. pī. potthakesu na dissati, sumaṅgalavilāsiniyaṃpi taṃsaṃvaṇṇanā natthi], yampicchaṃ na labhati tampi dukkhaṃ, saṃkhittena pañcupādānakkhandhā [pañcupādānakkhandhāpi (ka.)] dukkhā.
“Và này các tỳ-khưu, thế nào là Khổ Thánh đế? Sinh cũng là khổ, già cũng là khổ, chết cũng là khổ, sầu, bi, khổ, ưu, não cũng là khổ, gặp gỡ những gì không thương cũng là khổ, xa lìa những gì thương cũng là khổ, điều gì mong cầu mà không được, điều ấy cũng là khổ; tóm lại, năm thủ uẩn là khổ.
“And what, bhikkhus, is the noble truth of suffering? Birth too is suffering, ageing too is suffering, death too is suffering, sorrow, lamentation, pain, displeasure and despair too are suffering, union with the unloved too is suffering, separation from the loved too is suffering, not to get what one wishes, that too is suffering; in brief, the five aggregates subject to clinging are suffering.
Chú thích: Về giống ngữ pháp: jāti, jarā (giống cái) đi với dukkhā; maraṇaṃ (giống trung) đi với dukkhaṃ; sampayogo, vippayogo (giống đực) đi với dukkho – vị ngữ hợp giống với chủ ngữ. Dị bản trong ngoặc ghi rằng câu “gặp gỡ những gì không thương… xa lìa những gì thương” và phần giải thích của nó (§129–130) không thấy trong các bản sī. và pī., và Chú giải Sumaṅgalavilāsinī (của Trường Bộ) cũng không giải thích các câu này. Tương tự, ghi chú [sumaṅgalavilāsinī oloketabbā] ở §123 là lời người biên tập: “nên xem Sumaṅgalavilāsinī”, tức Chú giải Trường Bộ, nơi giải thích cùng đoạn văn của DN 22.
‘‘Katamā ca, bhikkhave, jāti? Yā tesaṃ tesaṃ sattānaṃ tamhi tamhi sattanikāye jāti sañjāti okkanti abhinibbatti khandhānaṃ pātubhāvo āyatanānaṃ paṭilābho, ayaṃ vuccati, bhikkhave, jāti.
“Và này các tỳ-khưu, thế nào là sinh? Phàm nơi những chúng sinh này chúng sinh kia, trong loài hữu tình này loài hữu tình kia, có sự sinh, sự sinh ra, sự nhập thai, sự phát sinh, sự xuất hiện của các uẩn, sự thủ đắc các xứ – này các tỳ-khưu, đây gọi là sinh.
“And what, bhikkhus, is birth? Whatever birth, being born, descent, production, manifestation of the aggregates, obtaining of the sense bases there is for these and those beings in this and that order of beings – this, bhikkhus, is called birth.
‘‘Katamā ca, bhikkhave, jarā? Yā tesaṃ tesaṃ sattānaṃ tamhi tamhi sattanikāye jarā jīraṇatā khaṇḍiccaṃ pāliccaṃ valittacatā āyuno saṃhāni indriyānaṃ paripāko, ayaṃ vuccati, bhikkhave, jarā.
“Và này các tỳ-khưu, thế nào là già? Phàm nơi những chúng sinh này chúng sinh kia, trong loài hữu tình này loài hữu tình kia, có sự già, sự già nua, [tình trạng] răng gãy, [tình trạng] tóc bạc, [tình trạng] da nhăn, sự suy giảm tuổi thọ, sự chín muồi của các căn – này các tỳ-khưu, đây gọi là già.
“And what, bhikkhus, is ageing? Whatever ageing, decrepitude, brokenness [of teeth], greyness [of hair], wrinkledness of skin, decline of the life span, ripening of the faculties there is for these and those beings in this and that order of beings – this, bhikkhus, is called ageing.
‘‘Katamañca, bhikkhave, maraṇaṃ? Yaṃ [sumaṅgalavilāsinī oloketabbā] tesaṃ tesaṃ sattānaṃ tamhā tamhā sattanikāyā cuti cavanatā bhedo antaradhānaṃ maccu maraṇaṃ kālaṅkiriyā khandhānaṃ bhedo kaḷevarassa nikkhepo jīvitindriyassupacchedo, idaṃ vuccati, bhikkhave, maraṇaṃ.
“Và này các tỳ-khưu, thế nào là chết? Phàm nơi những chúng sinh này chúng sinh kia, từ loài hữu tình này loài hữu tình kia, có sự mệnh chung, sự rời bỏ, sự tan rã, sự biến mất, sự tử vong, sự chết, sự mạng chung, sự tan rã của các uẩn, sự vứt bỏ thân xác, sự đoạn dứt mạng quyền – này các tỳ-khưu, đây gọi là chết.
“And what, bhikkhus, is death? Whatever decease, passing away, breaking up, disappearance, dying, death, completion of time, breaking up of the aggregates, laying down of the carcass, cutting off of the life faculty there is for these and those beings from this and that order of beings – this, bhikkhus, is called death.
‘‘Katamo ca, bhikkhave, soko? Yo kho, bhikkhave, aññataraññatarena byasanena samannāgatassa aññataraññatarena dukkhadhammena phuṭṭhassa soko socanā socitattaṃ antosoko antoparisoko, ayaṃ vuccati, bhikkhave, soko.
“Và này các tỳ-khưu, thế nào là sầu? Này các tỳ-khưu, phàm nơi người gặp phải một tai họa nào đó, bị một pháp khổ nào đó xúc chạm, có sự sầu, sự sầu muộn, trạng thái sầu muộn, sự sầu bên trong, sự sầu khắp bên trong – này các tỳ-khưu, đây gọi là sầu.
“And what, bhikkhus, is sorrow? Bhikkhus, whatever sorrow, sorrowing, sorrowfulness, inner sorrow, inner sorrow all around there is in one who meets with some misfortune or other, who is touched by some painful state or other – this, bhikkhus, is called sorrow.
‘‘Katamo ca, bhikkhave, paridevo? Yo kho, bhikkhave, aññataraññatarena byasanena samannāgatassa aññataraññatarena dukkhadhammena phuṭṭhassa ādevo paridevo ādevanā paridevanā ādevitattaṃ paridevitattaṃ, ayaṃ vuccati, bhikkhave, paridevo.
“Và này các tỳ-khưu, thế nào là bi? Này các tỳ-khưu, phàm nơi người gặp phải một tai họa nào đó, bị một pháp khổ nào đó xúc chạm, có sự than, sự khóc than, hành động than, hành động khóc than, trạng thái than, trạng thái khóc than – này các tỳ-khưu, đây gọi là bi.
“And what, bhikkhus, is lamentation? Bhikkhus, whatever wailing, lamenting, act of wailing, act of lamenting, state of wailing, state of lamenting there is in one who meets with some misfortune or other, who is touched by some painful state or other – this, bhikkhus, is called lamentation.
§126–132 – Khổ đế: khổ, ưu, não, gặp gỡ và xa lìa, cầu không được, năm thủ uẩn
‘‘Katamañca, bhikkhave, dukkhaṃ? Yaṃ kho, bhikkhave, kāyikaṃ dukkhaṃ kāyikaṃ asātaṃ kāyasamphassajaṃ dukkhaṃ asātaṃ vedayitaṃ, idaṃ vuccati, bhikkhave, dukkhaṃ.
“Và này các tỳ-khưu, thế nào là khổ? Này các tỳ-khưu, phàm cái gì là khổ thuộc thân, không khoái thuộc thân, là cảm thọ khổ, không khoái sinh từ thân xúc – này các tỳ-khưu, đây gọi là khổ.
“And what, bhikkhus, is pain? Bhikkhus, whatever is bodily pain, bodily disagreeableness, painful, disagreeable feeling born of body-contact – this, bhikkhus, is called pain.
‘‘Katamañca, bhikkhave, domanassaṃ? Yaṃ kho, bhikkhave, cetasikaṃ dukkhaṃ cetasikaṃ asātaṃ manosamphassajaṃ dukkhaṃ asātaṃ vedayitaṃ, idaṃ vuccati, bhikkhave, domanassaṃ.
“Và này các tỳ-khưu, thế nào là ưu? Này các tỳ-khưu, phàm cái gì là khổ thuộc tâm, không khoái thuộc tâm, là cảm thọ khổ, không khoái sinh từ ý xúc – này các tỳ-khưu, đây gọi là ưu.
“And what, bhikkhus, is displeasure? Bhikkhus, whatever is mental pain, mental disagreeableness, painful, disagreeable feeling born of mind-contact – this, bhikkhus, is called displeasure.
Chú thích: Ở §126 dukkha được dùng theo nghĩa hẹp: cảm thọ đau đớn nơi thân (kāyikaṃ, sinh từ kāyasamphassa), nên bản Anh dịch là “pain”; domanassa ở §127 là khổ thọ thuộc tâm (cetasikaṃ, sinh từ manosamphassa). Ở §120 và trong tên Thánh đế, dukkha mang nghĩa rộng “khổ / suffering”. Các chuỗi đồng nghĩa ở §121–128 (vd. soko socanā socitattaṃ) theo lối danh từ – danh động từ – danh từ trừu tượng (-tta), nên bản dịch giữ đủ từng chữ dù nghe trùng lặp.
‘‘Katamo ca, bhikkhave, upāyāso? Yo kho, bhikkhave, aññataraññatarena byasanena samannāgatassa aññataraññatarena dukkhadhammena phuṭṭhassa āyāso upāyāso āyāsitattaṃ upāyāsitattaṃ, ayaṃ vuccati, bhikkhave, upāyāso.
“Và này các tỳ-khưu, thế nào là não? Này các tỳ-khưu, phàm nơi người gặp phải một tai họa nào đó, bị một pháp khổ nào đó xúc chạm, có sự phiền, sự não, trạng thái phiền, trạng thái não – này các tỳ-khưu, đây gọi là não.
“And what, bhikkhus, is despair? Bhikkhus, whatever trouble, despair, troubledness, despairing there is in one who meets with some misfortune or other, who is touched by some painful state or other – this, bhikkhus, is called despair.
‘‘Katamo ca, bhikkhave, appiyehi sampayogo dukkho? Idha yassa te honti aniṭṭhā akantā amanāpā rūpā saddā gandhā rasā phoṭṭhabbā dhammā, ye vā panassa te honti anatthakāmā ahitakāmā aphāsukakāmā ayogakkhemakāmā, yā tehi saddhiṃ saṅgati samāgamo samodhānaṃ missībhāvo, ayaṃ vuccati, bhikkhave, appiyehi sampayogo dukkho.
“Và này các tỳ-khưu, thế nào là gặp gỡ những gì không thương là khổ? Ở đây, người nào có những sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp không đáng ưa, không đáng thích, không vừa ý; hoặc có những người muốn điều bất lợi, muốn điều không lợi ích, muốn điều không thoải mái, muốn điều không an ổn khỏi các ách cho người ấy – sự hội ngộ, sự gặp gỡ, sự tụ hợp, sự hòa lẫn với những thứ ấy, này các tỳ-khưu, đây gọi là gặp gỡ những gì không thương là khổ.
“And what, bhikkhus, is union with the unloved as suffering? Here, whoever has unwanted, undesired, disagreeable forms, sounds, odours, flavours, tangibles, mind-objects; or those who wish him harm, wish him ill, wish him discomfort, wish him no security from bondage – the meeting, coming together, association, intermingling with them, this, bhikkhus, is called union with the unloved as suffering.
‘‘Katamo ca, bhikkhave, piyehi vippayogo dukkho? Idha yassa te honti iṭṭhā kantā manāpā rūpā saddā gandhā rasā phoṭṭhabbā dhammā, ye vā panassa te honti atthakāmā hitakāmā phāsukakāmā yogakkhemakāmā mātā vā pitā vā bhātā vā bhaginī vā mittā vā amaccā vā ñātisālohitā vā, yā tehi saddhiṃ asaṅgati asamāgamo asamodhānaṃ amissībhāvo, ayaṃ vuccati, bhikkhave, piyehi vippayogo dukkho.
“Và này các tỳ-khưu, thế nào là xa lìa những gì thương là khổ? Ở đây, người nào có những sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp đáng ưa, đáng thích, vừa ý; hoặc có những người muốn điều lợi, muốn điều lợi ích, muốn điều thoải mái, muốn điều an ổn khỏi các ách cho người ấy – mẹ, hay cha, hay anh em trai, hay chị em gái, hay bạn bè, hay đồng liêu, hay bà con huyết thống – sự không hội ngộ, sự không gặp gỡ, sự không tụ hợp, sự không hòa lẫn với những thứ ấy, này các tỳ-khưu, đây gọi là xa lìa những gì thương là khổ.
“And what, bhikkhus, is separation from the loved as suffering? Here, whoever has wanted, desired, agreeable forms, sounds, odours, flavours, tangibles, mind-objects; or those who wish him good, wish him well, wish him comfort, wish him security from bondage – mother or father or brother or sister or friends or colleagues or kinsmen of the same blood – the not meeting, not coming together, not associating, not intermingling with them, this, bhikkhus, is called separation from the loved as suffering.
‘‘Katamañca, bhikkhave, yampicchaṃ na labhati tampi dukkhaṃ? Jātidhammānaṃ, bhikkhave, sattānaṃ evaṃ icchā uppajjati – ‘aho vata mayaṃ na jātidhammā assāma, na ca vata no jāti āgaccheyyā’ti. Na kho panetaṃ icchāya pattabbaṃ, idampi yampicchaṃ na labhati tampi dukkhaṃ.
“Và này các tỳ-khưu, thế nào là ‘điều gì mong cầu mà không được, điều ấy cũng là khổ’? Này các tỳ-khưu, nơi các chúng sinh có tính chất bị sinh, khởi lên ước muốn như vầy: ‘Ôi, mong rằng chúng ta không phải là những kẻ có tính chất bị sinh, và mong rằng sinh không đến với chúng ta!’ Nhưng điều này không thể đạt được bằng ước muốn; đây cũng là ‘điều gì mong cầu mà không được, điều ấy cũng là khổ’.
“And what, bhikkhus, is ‘not to get what one wishes, that too is suffering’? Bhikkhus, in beings subject to birth such a wish arises: ‘Oh, may we not be subject to birth, and may birth not come to us!’ But this is not to be attained by wishing; this too is ‘not to get what one wishes, that too is suffering’.
Jarādhammānaṃ, bhikkhave, sattānaṃ evaṃ icchā uppajjati – ‘aho vata mayaṃ na jarādhammā assāma, na ca vata no jarā āgaccheyyā’ti. Na kho panetaṃ icchāya pattabbaṃ, idampi yampicchaṃ na labhati tampi dukkhaṃ.
Này các tỳ-khưu, nơi các chúng sinh có tính chất bị già, khởi lên ước muốn như vầy: ‘Ôi, mong rằng chúng ta không phải là những kẻ có tính chất bị già, và mong rằng già không đến với chúng ta!’ Nhưng điều này không thể đạt được bằng ước muốn; đây cũng là ‘điều gì mong cầu mà không được, điều ấy cũng là khổ’.
Bhikkhus, in beings subject to ageing such a wish arises: ‘Oh, may we not be subject to ageing, and may ageing not come to us!’ But this is not to be attained by wishing; this too is ‘not to get what one wishes, that too is suffering’.
Byādhidhammānaṃ, bhikkhave, sattānaṃ evaṃ icchā uppajjati – ‘aho vata mayaṃ na byādhidhammā assāma, na ca vata no byādhi āgaccheyyā’ti. Na kho panetaṃ icchāya pattabbaṃ, idampi yampicchaṃ na labhati tampi dukkhaṃ.
Này các tỳ-khưu, nơi các chúng sinh có tính chất bị bệnh, khởi lên ước muốn như vầy: ‘Ôi, mong rằng chúng ta không phải là những kẻ có tính chất bị bệnh, và mong rằng bệnh không đến với chúng ta!’ Nhưng điều này không thể đạt được bằng ước muốn; đây cũng là ‘điều gì mong cầu mà không được, điều ấy cũng là khổ’.
Bhikkhus, in beings subject to illness such a wish arises: ‘Oh, may we not be subject to illness, and may illness not come to us!’ But this is not to be attained by wishing; this too is ‘not to get what one wishes, that too is suffering’.
Maraṇadhammānaṃ, bhikkhave, sattānaṃ evaṃ icchā uppajjati – ‘aho vata mayaṃ na maraṇadhammā assāma, na ca vata no maraṇaṃ āgaccheyyā’ti. Na kho panetaṃ icchāya pattabbaṃ, idampi yampicchaṃ na labhati tampi dukkhaṃ.
Này các tỳ-khưu, nơi các chúng sinh có tính chất bị chết, khởi lên ước muốn như vầy: ‘Ôi, mong rằng chúng ta không phải là những kẻ có tính chất bị chết, và mong rằng chết không đến với chúng ta!’ Nhưng điều này không thể đạt được bằng ước muốn; đây cũng là ‘điều gì mong cầu mà không được, điều ấy cũng là khổ’.
Bhikkhus, in beings subject to death such a wish arises: ‘Oh, may we not be subject to death, and may death not come to us!’ But this is not to be attained by wishing; this too is ‘not to get what one wishes, that too is suffering’.
Sokaparidevadukkhadomanassupāyāsadhammānaṃ, bhikkhave, sattānaṃ evaṃ icchā uppajjati – ‘aho vata mayaṃ na sokaparidevadukkhadomanassupāyāsadhammā assāma, na ca vata no sokaparidevadukkhadomanassupāyāsadhammā āgaccheyyu’nti. Na kho panetaṃ icchāya pattabbaṃ, idampi yampicchaṃ na labhati tampi dukkhaṃ.
Này các tỳ-khưu, nơi các chúng sinh có tính chất bị sầu, bi, khổ, ưu, não, khởi lên ước muốn như vầy: ‘Ôi, mong rằng chúng ta không phải là những kẻ có tính chất bị sầu, bi, khổ, ưu, não, và mong rằng các pháp sầu, bi, khổ, ưu, não không đến với chúng ta!’ Nhưng điều này không thể đạt được bằng ước muốn; đây cũng là ‘điều gì mong cầu mà không được, điều ấy cũng là khổ’.
Bhikkhus, in beings subject to sorrow, lamentation, pain, displeasure and despair such a wish arises: ‘Oh, may we not be subject to sorrow, lamentation, pain, displeasure and despair, and may states of sorrow, lamentation, pain, displeasure and despair not come to us!’ But this is not to be attained by wishing; this too is ‘not to get what one wishes, that too is suffering’.
Chú thích: Icchāya pattabbaṃ: pattabba là động tính từ tương lai thụ động (gerundive) của pāpuṇāti, “cần/có thể được đạt”, với icchāya ở cách công cụ: “đạt được bằng ước muốn”. Đáng chú ý, §131 nêu thêm byādhi (bệnh), vốn không có trong danh sách khổ ở §120 của bản này. Āgaccheyyu’nti là số nhiều vì chủ ngữ là các pháp sầu, bi… (số nhiều).
‘‘Katame ca, bhikkhave, saṃkhittena pañcupādānakkhandhā dukkhā? Seyyathidaṃ – rūpupādānakkhandho, vedanupādānakkhandho, saññupādānakkhandho, saṅkhārupādānakkhandho, viññāṇupādānakkhandho. Ime vuccanti, bhikkhave, saṃkhittena pañcupādānakkhandhā dukkhā. Idaṃ vuccati, bhikkhave, dukkhaṃ ariyasaccaṃ.
“Và này các tỳ-khưu, thế nào là ‘tóm lại, năm thủ uẩn là khổ’? Tức là: sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này các tỳ-khưu, những cái này được gọi là ‘tóm lại, năm thủ uẩn là khổ’. Này các tỳ-khưu, đây gọi là Khổ Thánh đế.
“And what, bhikkhus, are ‘in brief, the five aggregates subject to clinging are suffering’? Namely: the form aggregate subject to clinging, the feeling aggregate subject to clinging, the perception aggregate subject to clinging, the volitional-formations aggregate subject to clinging, the consciousness aggregate subject to clinging. These, bhikkhus, are called ‘in brief, the five aggregates subject to clinging are suffering’. This, bhikkhus, is called the noble truth of suffering.
§133 – Tập đế: ái và nơi ái sinh khởi
Samudayasaccaniddeso
Phần giải thích Tập đế
Exposition of the truth of the origin
‘‘Katamañca, bhikkhave, dukkhasamudayaṃ [dukkhasamudayo (syā.)] ariyasaccaṃ? Yāyaṃ taṇhā ponobbhavikā [ponobhavikā (sī. pī.)] nandīrāgasahagatā [nandirāgasahagatā (sī. syā. pī.)] tatratatrābhinandinī. Seyyathidaṃ – kāmataṇhā bhavataṇhā vibhavataṇhā.
“Và này các tỳ-khưu, thế nào là Khổ tập Thánh đế? Chính là ái này, đưa đến tái hữu, đi kèm với hỷ và tham, tìm hoan hỷ chỗ này chỗ kia, tức là: dục ái, hữu ái, phi hữu ái.
“And what, bhikkhus, is the noble truth of the origin of suffering? It is this craving, which leads to renewed existence, accompanied by delight and lust, delighting here and there, namely: craving for sensual pleasures, craving for existence, craving for non-existence.
‘‘Sā kho panesā, bhikkhave, taṇhā kattha uppajjamānā uppajjati, kattha nivisamānā nivisati? Yaṃ loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā uppajjamānā uppajjati, ettha nivisamānā nivisati.
“Nhưng này các tỳ-khưu, ái ấy khi sinh khởi thì sinh khởi ở đâu, khi an trú thì an trú ở đâu? Cái gì ở đời có vẻ khả ái, có vẻ khả lạc, ái này khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.
“But where, bhikkhus, does this craving, when arising, arise; where, when settling, does it settle? Whatever in the world is of a dear nature, of an agreeable nature – there this craving, when arising, arises; there, when settling, it settles.
‘‘Kiñca loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ? Cakkhu loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā uppajjamānā uppajjati, ettha nivisamānā nivisati. Sotaṃ loke…pe… ghānaṃ loke… jivhā loke… kāyo loke… mano loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā uppajjamānā uppajjati, ettha nivisamānā nivisati.
“Và cái gì ở đời có vẻ khả ái, có vẻ khả lạc? Mắt ở đời có vẻ khả ái, có vẻ khả lạc, ái này khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy. Tai ở đời… (như trên)… mũi ở đời… lưỡi ở đời… thân ở đời… ý ở đời có vẻ khả ái, có vẻ khả lạc, ái này khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.
“And what in the world is of a dear nature, of an agreeable nature? The eye in the world is of a dear nature, of an agreeable nature; there this craving, when arising, arises; there, when settling, it settles. The ear in the world… (and so on)… the nose in the world… the tongue in the world… the body in the world… the mind in the world is of a dear nature, of an agreeable nature; there this craving, when arising, arises; there, when settling, it settles.
Chú thích: Uppajjamānā uppajjati: hiện tại phân từ đi với động từ cùng gốc – “khi sinh khởi thì sinh khởi [ở đây]”; tương tự nivisamānā nivisati (từ ni + visati, “đi vào, an trú, bám rễ”). Theo Chú giải, bhavataṇhā là tham ái đi kèm thường kiến, vibhavataṇhā là tham ái đi kèm đoạn kiến. Ponobbhavika (từ punabbhava, tái hữu) và tatratatrābhinandinī (“tìm hoan hỷ chỗ này chỗ kia”) là hai tính từ bổ nghĩa cho taṇhā.
‘‘Rūpā loke… saddā loke… gandhā loke… rasā loke… phoṭṭhabbā loke… dhammā loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā uppajjamānā uppajjati, ettha nivisamānā nivisati.
“Các sắc ở đời… các tiếng ở đời… các hương ở đời… các vị ở đời… các xúc chạm ở đời… các pháp ở đời có vẻ khả ái, có vẻ khả lạc, ái này khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.
“Forms in the world… sounds in the world… odours in the world… flavours in the world… tangibles in the world… mind-objects in the world are of a dear nature, of an agreeable nature; there this craving, when arising, arises; there, when settling, it settles.
‘‘Cakkhuviññāṇaṃ loke… sotaviññāṇaṃ loke… ghānaviññāṇaṃ loke… jivhāviññāṇaṃ loke… kāyaviññāṇaṃ loke… manoviññāṇaṃ loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā uppajjamānā uppajjati, ettha nivisamānā nivisati.
“Nhãn thức ở đời… nhĩ thức ở đời… tỷ thức ở đời… thiệt thức ở đời… thân thức ở đời… ý thức ở đời có vẻ khả ái, có vẻ khả lạc, ái này khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.
“Eye-consciousness in the world… ear-consciousness in the world… nose-consciousness in the world… tongue-consciousness in the world… body-consciousness in the world… mind-consciousness in the world is of a dear nature, of an agreeable nature; there this craving, when arising, arises; there, when settling, it settles.
‘‘Cakkhusamphasso loke… sotasamphasso loke… ghānasamphasso loke… jivhāsamphasso loke… kāyasamphasso loke… manosamphasso loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā uppajjamānā uppajjati, ettha nivisamānā nivisati.
“Nhãn xúc ở đời… nhĩ xúc ở đời… tỷ xúc ở đời… thiệt xúc ở đời… thân xúc ở đời… ý xúc ở đời có vẻ khả ái, có vẻ khả lạc, ái này khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.
“Eye-contact in the world… ear-contact in the world… nose-contact in the world… tongue-contact in the world… body-contact in the world… mind-contact in the world is of a dear nature, of an agreeable nature; there this craving, when arising, arises; there, when settling, it settles.
‘‘Cakkhusamphassajā vedanā loke… sotasamphassajā vedanā loke… ghānasamphassajā vedanā loke… jivhāsamphassajā vedanā loke… kāyasamphassajā vedanā loke… manosamphassajā vedanā loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā uppajjamānā uppajjati, ettha nivisamānā nivisati.
“Thọ sinh từ nhãn xúc ở đời… thọ sinh từ nhĩ xúc ở đời… thọ sinh từ tỷ xúc ở đời… thọ sinh từ thiệt xúc ở đời… thọ sinh từ thân xúc ở đời… thọ sinh từ ý xúc ở đời có vẻ khả ái, có vẻ khả lạc, ái này khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.
“Feeling born of eye-contact in the world… feeling born of ear-contact in the world… feeling born of nose-contact in the world… feeling born of tongue-contact in the world… feeling born of body-contact in the world… feeling born of mind-contact in the world is of a dear nature, of an agreeable nature; there this craving, when arising, arises; there, when settling, it settles.
‘‘Rūpasaññā loke… saddasaññā loke… gandhasaññā loke… rasasaññā loke… phoṭṭhabbasaññā loke… dhammasaññā loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā uppajjamānā uppajjati, ettha nivisamānā nivisati.
“Sắc tưởng ở đời… thanh tưởng ở đời… hương tưởng ở đời… vị tưởng ở đời… xúc tưởng ở đời… pháp tưởng ở đời có vẻ khả ái, có vẻ khả lạc, ái này khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.
“Perception of forms in the world… perception of sounds in the world… perception of odours in the world… perception of flavours in the world… perception of tangibles in the world… perception of mind-objects in the world is of a dear nature, of an agreeable nature; there this craving, when arising, arises; there, when settling, it settles.
‘‘Rūpasañcetanā loke… saddasañcetanā loke… gandhasañcetanā loke… rasasañcetanā loke… phoṭṭhabbasañcetanā loke… dhammasañcetanā loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā uppajjamānā uppajjati, ettha nivisamānā nivisati.
“Sắc tư ở đời… thanh tư ở đời… hương tư ở đời… vị tư ở đời… xúc tư ở đời… pháp tư ở đời có vẻ khả ái, có vẻ khả lạc, ái này khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.
“Intention regarding forms in the world… intention regarding sounds in the world… intention regarding odours in the world… intention regarding flavours in the world… intention regarding tangibles in the world… intention regarding mind-objects in the world is of a dear nature, of an agreeable nature; there this craving, when arising, arises; there, when settling, it settles.
‘‘Rūpataṇhā loke… saddataṇhā loke… gandhataṇhā loke… rasataṇhā loke… phoṭṭhabbataṇhā loke… dhammataṇhā loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā uppajjamānā uppajjati, ettha nivisamānā nivisati.
“Sắc ái ở đời… thanh ái ở đời… hương ái ở đời… vị ái ở đời… xúc ái ở đời… pháp ái ở đời có vẻ khả ái, có vẻ khả lạc, ái này khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.
“Craving for forms in the world… craving for sounds in the world… craving for odours in the world… craving for flavours in the world… craving for tangibles in the world… craving for mind-objects in the world is of a dear nature, of an agreeable nature; there this craving, when arising, arises; there, when settling, it settles.
‘‘Rūpavitakko loke… saddavitakko loke… gandhavitakko loke… rasavitakko loke… phoṭṭhabbavitakko loke… dhammavitakko loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā uppajjamānā uppajjati, ettha nivisamānā nivisati.
“Sắc tầm ở đời… thanh tầm ở đời… hương tầm ở đời… vị tầm ở đời… xúc tầm ở đời… pháp tầm ở đời có vẻ khả ái, có vẻ khả lạc, ái này khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.
“Thought about forms in the world… thought about sounds in the world… thought about odours in the world… thought about flavours in the world… thought about tangibles in the world… thought about mind-objects in the world is of a dear nature, of an agreeable nature; there this craving, when arising, arises; there, when settling, it settles.
‘‘Rūpavicāro loke… saddavicāro loke… gandhavicāro loke… rasavicāro loke… phoṭṭhabbavicāro loke… dhammavicāro loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā uppajjamānā uppajjati, ettha nivisamānā nivisati. Idaṃ vuccati, bhikkhave, dukkhasamudayaṃ ariyasaccaṃ.
“Sắc tứ ở đời… thanh tứ ở đời… hương tứ ở đời… vị tứ ở đời… xúc tứ ở đời… pháp tứ ở đời có vẻ khả ái, có vẻ khả lạc, ái này khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy. Này các tỳ-khưu, đây gọi là Khổ tập Thánh đế.
“Examination of forms in the world… examination of sounds in the world… examination of odours in the world… examination of flavours in the world… examination of tangibles in the world… examination of mind-objects in the world is of a dear nature, of an agreeable nature; there this craving, when arising, arises; there, when settling, it settles. This, bhikkhus, is called the noble truth of the origin of suffering.
§134 – Diệt đế: nơi ái được đoạn trừ
Nirodhasaccaniddeso
Phần giải thích Diệt đế
Exposition of the truth of cessation
‘‘Katamañca, bhikkhave, dukkhanirodhaṃ [dukkhanirodho (syā.)] ariyasaccaṃ? Yo tassāyeva taṇhāya asesavirāganirodho cāgo paṭinissaggo mutti anālayo.
“Và này các tỳ-khưu, thế nào là Khổ diệt Thánh đế? Chính là sự ly tham, đoạn diệt không còn dư tàn, sự xả bỏ, sự từ bỏ, sự giải thoát, sự không bám víu đối với chính ái ấy.
“And what, bhikkhus, is the noble truth of the cessation of suffering? It is the remainderless fading away and cessation of that very craving, its giving up, relinquishment, release, non-attachment.
‘‘Sā kho panesā, bhikkhave, taṇhā kattha pahīyamānā pahīyati, kattha nirujjhamānā nirujjhati? Yaṃ loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā pahīyamānā pahīyati, ettha nirujjhamānā nirujjhati.
“Nhưng này các tỳ-khưu, ái ấy khi được đoạn trừ thì được đoạn trừ ở đâu, khi diệt thì diệt ở đâu? Cái gì ở đời có vẻ khả ái, có vẻ khả lạc, ái này khi được đoạn trừ thì được đoạn trừ ở đấy, khi diệt thì diệt ở đấy.
“But where, bhikkhus, is this craving, when being abandoned, abandoned; where, when ceasing, does it cease? Whatever in the world is of a dear nature, of an agreeable nature – there this craving, when being abandoned, is abandoned; there, when ceasing, it ceases.
‘‘Kiñca loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ? Cakkhu loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā pahīyamānā pahīyati, ettha nirujjhamānā nirujjhati. Sotaṃ loke…pe… ghānaṃ loke… jivhā loke… kāyo loke… mano loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā pahīyamānā pahīyati, ettha nirujjhamānā nirujjhati.
“Và cái gì ở đời có vẻ khả ái, có vẻ khả lạc? Mắt ở đời có vẻ khả ái, có vẻ khả lạc, ái này khi được đoạn trừ thì được đoạn trừ ở đấy, khi diệt thì diệt ở đấy. Tai ở đời… (như trên)… mũi ở đời… lưỡi ở đời… thân ở đời… ý ở đời có vẻ khả ái, có vẻ khả lạc, ái này khi được đoạn trừ thì được đoạn trừ ở đấy, khi diệt thì diệt ở đấy.
“And what in the world is of a dear nature, of an agreeable nature? The eye in the world is of a dear nature, of an agreeable nature; there this craving, when being abandoned, is abandoned; there, when ceasing, it ceases. The ear in the world… (and so on)… the nose in the world… the tongue in the world… the body in the world… the mind in the world is of a dear nature, of an agreeable nature; there this craving, when being abandoned, is abandoned; there, when ceasing, it ceases.
‘‘Rūpā loke… saddā loke… gandhā loke… rasā loke… phoṭṭhabbā loke… dhammā loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā pahīyamānā pahīyati, ettha nirujjhamānā nirujjhati.
“Các sắc ở đời… các tiếng ở đời… các hương ở đời… các vị ở đời… các xúc chạm ở đời… các pháp ở đời có vẻ khả ái, có vẻ khả lạc, ái này khi được đoạn trừ thì được đoạn trừ ở đấy, khi diệt thì diệt ở đấy.
“Forms in the world… sounds in the world… odours in the world… flavours in the world… tangibles in the world… mind-objects in the world are of a dear nature, of an agreeable nature; there this craving, when being abandoned, is abandoned; there, when ceasing, it ceases.
‘‘Cakkhuviññāṇaṃ loke… sotaviññāṇaṃ loke… ghānaviññāṇaṃ loke… jivhāviññāṇaṃ loke… kāyaviññāṇaṃ loke… manoviññāṇaṃ loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā pahīyamānā pahīyati, ettha nirujjhamānā nirujjhati.
“Nhãn thức ở đời… nhĩ thức ở đời… tỷ thức ở đời… thiệt thức ở đời… thân thức ở đời… ý thức ở đời có vẻ khả ái, có vẻ khả lạc, ái này khi được đoạn trừ thì được đoạn trừ ở đấy, khi diệt thì diệt ở đấy.
“Eye-consciousness in the world… ear-consciousness in the world… nose-consciousness in the world… tongue-consciousness in the world… body-consciousness in the world… mind-consciousness in the world is of a dear nature, of an agreeable nature; there this craving, when being abandoned, is abandoned; there, when ceasing, it ceases.
‘‘Cakkhusamphasso loke… sotasamphasso loke… ghānasamphasso loke… jivhāsamphasso loke… kāyasamphasso loke… manosamphasso loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā pahīyamānā pahīyati, ettha nirujjhamānā nirujjhati.
“Nhãn xúc ở đời… nhĩ xúc ở đời… tỷ xúc ở đời… thiệt xúc ở đời… thân xúc ở đời… ý xúc ở đời có vẻ khả ái, có vẻ khả lạc, ái này khi được đoạn trừ thì được đoạn trừ ở đấy, khi diệt thì diệt ở đấy.
“Eye-contact in the world… ear-contact in the world… nose-contact in the world… tongue-contact in the world… body-contact in the world… mind-contact in the world is of a dear nature, of an agreeable nature; there this craving, when being abandoned, is abandoned; there, when ceasing, it ceases.
‘‘Cakkhusamphassajā vedanā loke… sotasamphassajā vedanā loke… ghānasamphassajā vedanā loke… jivhāsamphassajā vedanā loke… kāyasamphassajā vedanā loke… manosamphassajā vedanā loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā pahīyamānā pahīyati, ettha nirujjhamānā nirujjhati.
“Thọ sinh từ nhãn xúc ở đời… thọ sinh từ nhĩ xúc ở đời… thọ sinh từ tỷ xúc ở đời… thọ sinh từ thiệt xúc ở đời… thọ sinh từ thân xúc ở đời… thọ sinh từ ý xúc ở đời có vẻ khả ái, có vẻ khả lạc, ái này khi được đoạn trừ thì được đoạn trừ ở đấy, khi diệt thì diệt ở đấy.
“Feeling born of eye-contact in the world… feeling born of ear-contact in the world… feeling born of nose-contact in the world… feeling born of tongue-contact in the world… feeling born of body-contact in the world… feeling born of mind-contact in the world is of a dear nature, of an agreeable nature; there this craving, when being abandoned, is abandoned; there, when ceasing, it ceases.
‘‘Rūpasaññā loke… saddasaññā loke… gandhasaññā loke… rasasaññā loke… phoṭṭhabbasaññā loke… dhammasaññā loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā pahīyamānā pahīyati, ettha nirujjhamānā nirujjhati.
“Sắc tưởng ở đời… thanh tưởng ở đời… hương tưởng ở đời… vị tưởng ở đời… xúc tưởng ở đời… pháp tưởng ở đời có vẻ khả ái, có vẻ khả lạc, ái này khi được đoạn trừ thì được đoạn trừ ở đấy, khi diệt thì diệt ở đấy.
“Perception of forms in the world… perception of sounds in the world… perception of odours in the world… perception of flavours in the world… perception of tangibles in the world… perception of mind-objects in the world is of a dear nature, of an agreeable nature; there this craving, when being abandoned, is abandoned; there, when ceasing, it ceases.
‘‘Rūpasañcetanā loke… saddasañcetanā loke… gandhasañcetanā loke… rasasañcetanā loke… phoṭṭhabbasañcetanā loke… dhammasañcetanā loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā pahīyamānā pahīyati, ettha nirujjhamānā nirujjhati.
“Sắc tư ở đời… thanh tư ở đời… hương tư ở đời… vị tư ở đời… xúc tư ở đời… pháp tư ở đời có vẻ khả ái, có vẻ khả lạc, ái này khi được đoạn trừ thì được đoạn trừ ở đấy, khi diệt thì diệt ở đấy.
“Intention regarding forms in the world… intention regarding sounds in the world… intention regarding odours in the world… intention regarding flavours in the world… intention regarding tangibles in the world… intention regarding mind-objects in the world is of a dear nature, of an agreeable nature; there this craving, when being abandoned, is abandoned; there, when ceasing, it ceases.
‘‘Rūpataṇhā loke… saddataṇhā loke… gandhataṇhā loke… rasataṇhā loke… phoṭṭhabbataṇhā loke… dhammataṇhā loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā pahīyamānā pahīyati, ettha nirujjhamānā nirujjhati.
“Sắc ái ở đời… thanh ái ở đời… hương ái ở đời… vị ái ở đời… xúc ái ở đời… pháp ái ở đời có vẻ khả ái, có vẻ khả lạc, ái này khi được đoạn trừ thì được đoạn trừ ở đấy, khi diệt thì diệt ở đấy.
“Craving for forms in the world… craving for sounds in the world… craving for odours in the world… craving for flavours in the world… craving for tangibles in the world… craving for mind-objects in the world is of a dear nature, of an agreeable nature; there this craving, when being abandoned, is abandoned; there, when ceasing, it ceases.
‘‘Rūpavitakko loke… saddavitakko loke… gandhavitakko loke… rasavitakko loke… phoṭṭhabbavitakko loke… dhammavitakko loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā pahīyamānā pahīyati, ettha nirujjhamānā nirujjhati.
“Sắc tầm ở đời… thanh tầm ở đời… hương tầm ở đời… vị tầm ở đời… xúc tầm ở đời… pháp tầm ở đời có vẻ khả ái, có vẻ khả lạc, ái này khi được đoạn trừ thì được đoạn trừ ở đấy, khi diệt thì diệt ở đấy.
“Thought about forms in the world… thought about sounds in the world… thought about odours in the world… thought about flavours in the world… thought about tangibles in the world… thought about mind-objects in the world is of a dear nature, of an agreeable nature; there this craving, when being abandoned, is abandoned; there, when ceasing, it ceases.
‘‘Rūpavicāro loke… saddavicāro loke… gandhavicāro loke… rasavicāro loke… phoṭṭhabbavicāro loke… dhammavicāro loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ. Etthesā taṇhā pahīyamānā pahīyati, ettha nirujjhāmānā nirujjhati. Idaṃ vuccati, bhikkhave, dukkhanirodhaṃ ariyasaccaṃ.
“Sắc tứ ở đời… thanh tứ ở đời… hương tứ ở đời… vị tứ ở đời… xúc tứ ở đời… pháp tứ ở đời có vẻ khả ái, có vẻ khả lạc, ái này khi được đoạn trừ thì được đoạn trừ ở đấy, khi diệt thì diệt ở đấy. Này các tỳ-khưu, đây gọi là Khổ diệt Thánh đế.
“Examination of forms in the world… examination of sounds in the world… examination of odours in the world… examination of flavours in the world… examination of tangibles in the world… examination of mind-objects in the world is of a dear nature, of an agreeable nature; there this craving, when being abandoned, is abandoned; there, when ceasing, it ceases. This, bhikkhus, is called the noble truth of the cessation of suffering.
Chú thích: Ái sinh khởi ở đâu thì cũng được đoạn trừ và đoạn diệt ở chính đó: cùng sáu mươi đối tượng “có vẻ khả ái, có vẻ khả lạc” (sáu căn, sáu cảnh, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu tưởng, sáu tư, sáu ái, sáu tầm, sáu tứ). Anālayo (a + ālaya, “chỗ bám, chỗ ở”) = không bám víu. Trong dòng cuối §134, nguồn VRI ghi nirujjhāmānā (ā dài), khác với nirujjhamānā ở các dòng trên; bản này chép đúng như nguồn.
§135 – Đạo đế: Thánh đạo tám chi
Maggasaccaniddeso
Phần giải thích Đạo đế
Exposition of the truth of the way
‘‘Katamañca, bhikkhave, dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṃ? Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo seyyathidaṃ – sammādiṭṭhi sammāsaṅkappo sammāvācā sammākammanto sammāājīvo sammāvāyāmo sammāsati sammāsamādhi.
“Và này các tỳ-khưu, thế nào là Thánh đế về con đường đưa đến khổ diệt? Chính là Thánh đạo tám chi này, tức là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
“And what, bhikkhus, is the noble truth of the way leading to the cessation of suffering? It is just this noble eightfold path, namely: right view, right intention, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, right concentration.
‘‘Katamā ca, bhikkhave, sammādiṭṭhi? Yaṃ kho, bhikkhave, dukkhe ñāṇaṃ, dukkhasamudaye ñāṇaṃ, dukkhanirodhe ñāṇaṃ, dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya ñāṇaṃ. Ayaṃ vuccati, bhikkhave, sammādiṭṭhi.
“Và này các tỳ-khưu, thế nào là chánh kiến? Này các tỳ-khưu, phàm trí về khổ, trí về khổ tập, trí về khổ diệt, trí về con đường đưa đến khổ diệt – này các tỳ-khưu, đây gọi là chánh kiến.
“And what, bhikkhus, is right view? Bhikkhus, knowledge of suffering, knowledge of the origin of suffering, knowledge of the cessation of suffering, knowledge of the way leading to the cessation of suffering – this, bhikkhus, is called right view.
‘‘Katamo ca, bhikkhave, sammāsaṅkappo? Nekkhammasaṅkappo abyāpādasaṅkappo avihiṃsāsaṅkappo. Ayaṃ vuccati, bhikkhave, sammāsaṅkappo.
“Và này các tỳ-khưu, thế nào là chánh tư duy? Tư duy xuất ly, tư duy vô sân, tư duy vô hại – này các tỳ-khưu, đây gọi là chánh tư duy.
“And what, bhikkhus, is right intention? Intention of renunciation, intention of non-ill will, intention of harmlessness – this, bhikkhus, is called right intention.
‘‘Katamā ca, bhikkhave, sammāvācā? Musāvādā veramaṇī [veramaṇi (ka.)], pisuṇāya vācāya veramaṇī, pharusāya vācāya veramaṇī, samphappalāpā veramaṇī. Ayaṃ vuccati, bhikkhave, sammāvācā.
“Và này các tỳ-khưu, thế nào là chánh ngữ? Sự kiêng tránh nói dối, sự kiêng tránh nói hai lưỡi, sự kiêng tránh nói lời thô ác, sự kiêng tránh nói phù phiếm – này các tỳ-khưu, đây gọi là chánh ngữ.
“And what, bhikkhus, is right speech? Abstaining from false speech, abstaining from divisive speech, abstaining from harsh speech, abstaining from idle chatter – this, bhikkhus, is called right speech.
‘‘Katamo ca, bhikkhave, sammākammanto? Pāṇātipātā veramaṇī, adinnādānā veramaṇī, kāmesumicchācārā veramaṇī. Ayaṃ vuccati, bhikkhave, sammākammanto.
“Và này các tỳ-khưu, thế nào là chánh nghiệp? Sự kiêng tránh sát sinh, sự kiêng tránh lấy của không cho, sự kiêng tránh tà hạnh trong các dục – này các tỳ-khưu, đây gọi là chánh nghiệp.
“And what, bhikkhus, is right action? Abstaining from killing living beings, abstaining from taking what is not given, abstaining from misconduct in sensual pleasures – this, bhikkhus, is called right action.
‘‘Katamo ca, bhikkhave, sammāājīvo? Idha, bhikkhave, ariyasāvako micchāājīvaṃ pahāya sammāājīvena jīvitaṃ kappeti. Ayaṃ vuccati, bhikkhave, sammāājīvo.
“Và này các tỳ-khưu, thế nào là chánh mạng? Ở đây, này các tỳ-khưu, vị Thánh đệ tử, sau khi từ bỏ tà mạng, nuôi sống mạng sống bằng chánh mạng – này các tỳ-khưu, đây gọi là chánh mạng.
“And what, bhikkhus, is right livelihood? Here, bhikkhus, a noble disciple, having abandoned wrong livelihood, makes his living by right livelihood – this, bhikkhus, is called right livelihood.
‘‘Katamo ca, bhikkhave, sammāvāyāmo? Idha, bhikkhave, bhikkhu anuppannānaṃ pāpakānaṃ akusalānaṃ dhammānaṃ anuppādāya chandaṃ janeti vāyamati vīriyaṃ ārabhati cittaṃ paggaṇhāti padahati;
“Và này các tỳ-khưu, thế nào là chánh tinh tấn? Ở đây, này các tỳ-khưu, tỳ-khưu khởi lên ý muốn, nỗ lực, phát khởi tinh tấn, sách tấn tâm, tinh cần để các pháp ác bất thiện chưa sinh không sinh khởi;
“And what, bhikkhus, is right effort? Here, bhikkhus, a bhikkhu generates desire, makes an effort, arouses energy, exerts his mind and strives for the non-arising of unarisen evil unwholesome states;
uppannānaṃ pāpakānaṃ akusalānaṃ dhammānaṃ pahānāya chandaṃ janeti vāyamati vīriyaṃ ārabhati cittaṃ paggaṇhāti padahati;
vị ấy khởi lên ý muốn, nỗ lực, phát khởi tinh tấn, sách tấn tâm, tinh cần để đoạn trừ các pháp ác bất thiện đã sinh;
he generates desire, makes an effort, arouses energy, exerts his mind and strives for the abandoning of arisen evil unwholesome states;
anuppannānaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ uppādāya chandaṃ janeti vāyamati vīriyaṃ ārabhati cittaṃ paggaṇhāti padahati;
vị ấy khởi lên ý muốn, nỗ lực, phát khởi tinh tấn, sách tấn tâm, tinh cần để các pháp thiện chưa sinh được sinh khởi;
he generates desire, makes an effort, arouses energy, exerts his mind and strives for the arising of unarisen wholesome states;
uppannānaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ ṭhitiyā asammosāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā chandaṃ janeti vāyamati vīriyaṃ ārabhati cittaṃ paggaṇhāti padahati. Ayaṃ vuccati, bhikkhave, sammāvāyāmo.
vị ấy khởi lên ý muốn, nỗ lực, phát khởi tinh tấn, sách tấn tâm, tinh cần để các pháp thiện đã sinh được duy trì, không bị mai một, được tăng trưởng, được quảng đại, được tu tập viên mãn. Này các tỳ-khưu, đây gọi là chánh tinh tấn.
he generates desire, makes an effort, arouses energy, exerts his mind and strives for the persistence, non-decay, increase, expansion and fulfilment by development of arisen wholesome states. This, bhikkhus, is called right effort.
‘‘Katamā ca, bhikkhave, sammāsati? Idha, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ; vedanāsu vedanānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ; citte cittānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ; dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ. Ayaṃ vuccati, bhikkhave, sammāsati.
“Và này các tỳ-khưu, thế nào là chánh niệm? Ở đây, này các tỳ-khưu, tỳ-khưu trú quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, có niệm, sau khi dẹp bỏ tham ưu ở đời; trú quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, có niệm, sau khi dẹp bỏ tham ưu ở đời; trú quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, có niệm, sau khi dẹp bỏ tham ưu ở đời; trú quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, có niệm, sau khi dẹp bỏ tham ưu ở đời. Này các tỳ-khưu, đây gọi là chánh niệm.
“And what, bhikkhus, is right mindfulness? Here, bhikkhus, a bhikkhu dwells contemplating the body in the body, ardent, clearly comprehending, mindful, having removed covetousness and displeasure in regard to the world; he dwells contemplating feelings in feelings, ardent, clearly comprehending, mindful, having removed covetousness and displeasure in regard to the world; he dwells contemplating mind in mind, ardent, clearly comprehending, mindful, having removed covetousness and displeasure in regard to the world; he dwells contemplating phenomena in phenomena, ardent, clearly comprehending, mindful, having removed covetousness and displeasure in regard to the world. This, bhikkhus, is called right mindfulness.
‘‘Katamo ca, bhikkhave, sammāsamādhi? Idha, bhikkhave, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṃ savicāraṃ vivekajaṃ pītisukhaṃ paṭhamaṃ jhānaṃ upasampajja viharati.
“Và này các tỳ-khưu, thế nào là chánh định? Ở đây, này các tỳ-khưu, tỳ-khưu ly các dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú thiền thứ nhất, có tầm, có tứ, có hỷ và lạc sinh từ viễn ly.
“And what, bhikkhus, is right concentration? Here, bhikkhus, a bhikkhu, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unwholesome states, enters and dwells in the first jhāna, which is with thought, with examination, with rapture and pleasure born of seclusion.
Vitakkavicārānaṃ vūpasamā ajjhattaṃ sampasādanaṃ cetaso ekodibhāvaṃ avitakkaṃ avicāraṃ samādhijaṃ pītisukhaṃ dutiyaṃ jhānaṃ upasampajja viharati.
Do tầm và tứ lắng dịu, vị ấy chứng và trú thiền thứ hai, có nội tĩnh, có sự chuyên nhất của tâm, không tầm, không tứ, có hỷ và lạc sinh từ định.
With the stilling of thought and examination, he enters and dwells in the second jhāna, which has internal confidence and unification of mind, is without thought, without examination, with rapture and pleasure born of concentration.
Pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati, sato ca sampajāno, sukhañca kāyena paṭisaṃvedeti, yaṃ taṃ ariyā ācikkhanti ‘upekkhako satimā sukhavihārī’ti tatiyaṃ jhānaṃ upasampajja viharati.
Và do ly hỷ, vị ấy trú xả, có niệm và tỉnh giác, và cảm nhận lạc bằng thân, vị ấy chứng và trú thiền thứ ba, mà các bậc Thánh tuyên bố: ‘Có xả, có niệm, trú trong lạc’.
And with the fading away of rapture, he dwells equanimous, mindful and clearly comprehending, and he experiences pleasure with the body; he enters and dwells in the third jhāna, of which the noble ones declare: ‘Equanimous, mindful, one who dwells in pleasure’.
Sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṃ atthaṅgamā adukkhamasukhaṃ upekkhāsatipārisuddhiṃ catutthaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. Ayaṃ vuccati, bhikkhave, sammāsamādhi. Idaṃ vuccati, bhikkhave, dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṃ.
Do đoạn trừ lạc và đoạn trừ khổ, và do hỷ và ưu đã diệt mất từ trước, vị ấy chứng và trú thiền thứ tư, không khổ không lạc, có xả và niệm thanh tịnh. Này các tỳ-khưu, đây gọi là chánh định. Này các tỳ-khưu, đây gọi là Thánh đế về con đường đưa đến khổ diệt.
With the abandoning of pleasure and the abandoning of pain, and with the earlier passing away of joy and displeasure, he enters and dwells in the fourth jhāna, which is neither-painful-nor-pleasant, with purity of mindfulness due to equanimity. This, bhikkhus, is called right concentration. This, bhikkhus, is called the noble truth of the way leading to the cessation of suffering.
§136–138 – Điệp khúc, lời bảo đảm và kết kinh
‘‘Iti ajjhattaṃ vā dhammesu dhammānupassī viharati, bahiddhā vā dhammesu dhammānupassī viharati, ajjhattabahiddhā vā dhammesu dhammānupassī viharati; samudayadhammānupassī vā dhammesu viharati, vayadhammānupassī vā dhammesu viharati, samudayavayadhammānupassī vā dhammesu viharati. ‘Atthi dhammā’ti vā panassa sati paccupaṭṭhitā hoti. Yāvadeva ñāṇamattāya paṭissatimattāya anissito ca viharati, na ca kiñci loke upādiyati. Evampi kho, bhikkhave, bhikkhu dhammesu dhammānupassī viharati catūsu ariyasaccesu.
“Như vậy, hoặc vị ấy trú quán pháp trên các pháp ở nội phần, hoặc trú quán pháp trên các pháp ở ngoại phần, hoặc trú quán pháp trên các pháp ở nội phần và ngoại phần; hoặc trú quán pháp sinh khởi nơi các pháp, hoặc trú quán pháp hoại diệt nơi các pháp, hoặc trú quán pháp sinh khởi và hoại diệt nơi các pháp. Hoặc niệm ‘có các pháp’ được an lập nơi vị ấy, chỉ vừa đủ để có trí, vừa đủ để có niệm; và vị ấy trú không nương tựa, và không chấp thủ bất cứ điều gì ở đời. Như vậy cũng là, này các tỳ-khưu, tỳ-khưu trú quán pháp trên các pháp đối với bốn Thánh đế.
“Thus he dwells contemplating phenomena in phenomena internally, or he dwells contemplating phenomena in phenomena externally, or he dwells contemplating phenomena in phenomena internally and externally; or he dwells contemplating the nature of arising in phenomena, or he dwells contemplating the nature of passing away in phenomena, or he dwells contemplating the nature of arising and passing away in phenomena. Or else mindfulness that ‘there are phenomena’ is established in him just to the extent necessary for bare knowledge and bare mindfulness; and he dwells independent, and does not cling to anything in the world. In this way too, bhikkhus, a bhikkhu dwells contemplating phenomena in phenomena in terms of the four noble truths.
Saccapabbaṃ niṭṭhitaṃ.
Dứt phần các sự thật.
The section on the truths is finished.
Dhammānupassanā niṭṭhitā.
Dứt phần quán pháp.
The contemplation of phenomena is finished.
‘‘Yo hi koci, bhikkhave, ime cattāro satipaṭṭhāne evaṃ bhāveyya satta vassāni, tassa dvinnaṃ phalānaṃ aññataraṃ phalaṃ pāṭikaṅkhaṃ diṭṭheva dhamme aññā; sati vā upādisese anāgāmitā.
“Này các tỳ-khưu, bất cứ ai tu tập bốn niệm xứ này như vậy trong bảy năm, người ấy có thể mong đợi một trong hai quả: chánh trí ngay trong hiện tại, hoặc, nếu còn dư y, quả Bất lai.
“Bhikkhus, whoever should develop these four establishments of mindfulness in this way for seven years, one of two fruits is to be expected for him: final knowledge in this very life, or, if there is a residue remaining, non-returning.
‘‘Tiṭṭhantu, bhikkhave, satta vassāni. Yo hi koci, bhikkhave, ime cattāro satipaṭṭhāne evaṃ bhāveyya cha vassāni…pe… pañca vassāni… cattāri vassāni… tīṇi vassāni… dve vassāni… ekaṃ vassaṃ…
“Này các tỳ-khưu, hãy gác lại bảy năm. Này các tỳ-khưu, bất cứ ai tu tập bốn niệm xứ này như vậy trong sáu năm… (như trên)… năm năm… bốn năm… ba năm… hai năm… một năm…
“Let alone seven years, bhikkhus. Bhikkhus, whoever should develop these four establishments of mindfulness in this way for six years… (and so on)… five years… four years… three years… two years… one year…
tiṭṭhatu, bhikkhave, ekaṃ vassaṃ. Yo hi koci, bhikkhave, ime cattāro satipaṭṭhāne evaṃ bhāveyya satta māsāni, tassa dvinnaṃ phalānaṃ aññataraṃ phalaṃ pāṭikaṅkhaṃ diṭṭheva dhamme aññā; sati vā upādisese anāgāmitā.
này các tỳ-khưu, hãy gác lại một năm. Này các tỳ-khưu, bất cứ ai tu tập bốn niệm xứ này như vậy trong bảy tháng, người ấy có thể mong đợi một trong hai quả: chánh trí ngay trong hiện tại, hoặc, nếu còn dư y, quả Bất lai.
let alone one year, bhikkhus. Bhikkhus, whoever should develop these four establishments of mindfulness in this way for seven months, one of two fruits is to be expected for him: final knowledge in this very life, or, if there is a residue remaining, non-returning.
Tiṭṭhantu, bhikkhave, satta māsāni. Yo hi koci, bhikkhave, ime cattāro satipaṭṭhāne evaṃ bhāveyya cha māsāni…pe… pañca māsāni… cattāri māsāni… tīṇi māsāni… dve māsāni… ekaṃ māsaṃ… aḍḍhamāsaṃ…
Này các tỳ-khưu, hãy gác lại bảy tháng. Này các tỳ-khưu, bất cứ ai tu tập bốn niệm xứ này như vậy trong sáu tháng… (như trên)… năm tháng… bốn tháng… ba tháng… hai tháng… một tháng… nửa tháng…
Let alone seven months, bhikkhus. Bhikkhus, whoever should develop these four establishments of mindfulness in this way for six months… (and so on)… five months… four months… three months… two months… one month… half a month…
tiṭṭhatu, bhikkhave, aḍḍhamāso. Yo hi koci, bhikkhave, ime cattāro satipaṭṭhāne evaṃ bhāveyya sattāhaṃ, tassa dvinnaṃ phalānaṃ aññataraṃ phalaṃ pāṭikaṅkhaṃ diṭṭheva dhamme aññā sati vā upādisese anāgāmitā’’ti.
này các tỳ-khưu, hãy gác lại nửa tháng. Này các tỳ-khưu, bất cứ ai tu tập bốn niệm xứ này như vậy trong bảy ngày, người ấy có thể mong đợi một trong hai quả: chánh trí ngay trong hiện tại, hoặc, nếu còn dư y, quả Bất lai.”
let alone half a month, bhikkhus. Bhikkhus, whoever should develop these four establishments of mindfulness in this way for seven days, one of two fruits is to be expected for him: final knowledge in this very life, or, if there is a residue remaining, non-returning.”
Chú thích: Sati vā upādisese là cấu trúc vị trí cách tuyệt đối (locative absolute): “hoặc khi còn dư y”. Theo Chú giải, aññā (chánh trí) ở đây là quả A-la-hán, và anāgāmitā là trạng thái của bậc Bất lai. Tiṭṭhantu / tiṭṭhatu (mệnh lệnh cách của tiṭṭhati, “hãy đứng yên”) mang nghĩa “hãy gác lại, khoan nói đến”.
‘‘‘Ekāyano ayaṃ, bhikkhave, maggo sattānaṃ visuddhiyā sokaparidevānaṃ samatikkamāya dukkhadomanassānaṃ atthaṅgamāya ñāyassa adhigamāya nibbānassa sacchikiriyāya yadidaṃ cattāro satipaṭṭhānā’ti. Iti yaṃ taṃ vuttaṃ, idametaṃ paṭicca vutta’’nti.
“‘Này các tỳ-khưu, đây là con đường độc nhất, để chúng sinh được thanh tịnh, để vượt qua sầu và bi, để diệt mất khổ và ưu, để đạt đến chánh lý, để chứng ngộ Niết-bàn, tức là bốn niệm xứ’ – điều đã được nói như vậy, chính do duyên điều này mà đã được nói.”
“‘Bhikkhus, this is the one-way path for the purification of beings, for the surmounting of sorrow and lamentation, for the passing away of suffering and displeasure, for the attainment of the true method, for the realization of Nibbāna, namely, the four establishments of mindfulness’ – what was said thus, it was said with reference to this.”
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṃ abhinandunti.
Đức Thế Tôn đã nói như vậy. Hoan hỷ, các tỳ-khưu ấy vui mừng với lời dạy của Đức Thế Tôn.
The Blessed One said this. Satisfied, those bhikkhus delighted in the Blessed One’s words.
Mahāsatipaṭṭhānasuttaṃ niṭṭhitaṃ dasamaṃ.
Dứt Kinh Đại Niệm Xứ, thứ mười.
The Great Discourse on the Establishments of Mindfulness, the tenth, is finished.
Mūlapariyāyavaggo niṭṭhito paṭhamo.
Dứt Phẩm Pháp Môn Căn Bản, thứ nhất.
The Chapter on the Root Sequence, the first, is finished.
Tassuddānaṃ – [ito paraṃ kesuci potthakesu imāpi gāthāyo evaṃ dissanti – / ajaraṃ amataṃ amatādhigamaṃ, phalamagganidassanaṃ dukkhanudaṃ. sahitattaṃ mahārasahassakaraṃ, bhūtamiti sāraṃ vividhaṃ suṇātha. / taḷākaṃ vasupūritaṃ ghammapathe, tividhaggipiḷesitanibbāpanaṃ. byādhipanudanaosadhayo, pacchimasuttapavarā ṭhapitā. / madhumandavarasāmadānaṃ, khiḍḍārati jananimanusaṅghātaṃ. tathā sutte veyyākaraṇā ṭhapitā, sakyaputtānamabhidamanatthāya. / paññāsaṃ ca diyaḍhḍasataṃ, dve ca veyyākaraṇaṃ apare ca. tevanāmagataṃ ca anupubbaṃ, ekamanā nisāmetha mudaggaṃ.]Mūlasusaṃvaradhammadāyādā, bheravānaṅgaṇākaṅkheyyavatthaṃ; Sallekhasammādiṭṭhisatipaṭṭhaṃ, vaggavaro asamo susamatto.
Bảng tóm lược của phẩm ấy: [Ở đây một số bản chép có thêm bốn bài kệ; văn bản các kệ này trong nguồn không rõ ràng nên không dịch.] Căn Bản, Khéo Phòng Hộ, Thừa Tự Pháp; Sợ Hãi Khiếp Đảm, Không Uế Nhiễm, Ước Nguyện, Tấm Vải; Đoạn Giảm, Chánh Kiến, Niệm Xứ – phẩm cao quý, vô song, khéo trọn vẹn.
Its summary: [Some manuscripts add four stanzas here; their text in the source is unclear and is left untranslated.] Root, Well-restrained, Heirs of the Dhamma; Fear and Dread, Without Blemishes, Wishes, Cloth; Effacement, Right View, Mindfulness – the excellent chapter, unequalled, well completed.
Chú thích: Bảng tóm lược (uddāna) ghép tên tắt của mười kinh trong phẩm Mūlapariyāya (MN 1–10). Susaṃvara (“khéo phòng hộ”) gọi tên MN 2 Sabbāsavasutta theo nội dung phòng hộ các lậu hoặc; bherava chỉ MN 4, vattha chỉ MN 7. Đoạn kệ thêm trong ngoặc vuông của nguồn có nhiều chỗ khó đọc nên được giữ nguyên trong cột Pāli mà không dịch.
Thuật ngữ then chốt trong MN 10 (Phần 2)
| Pāli | Tiếng Việt | English | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| ariyasacca | Thánh đế | noble truth | ariya (cao quý, của bậc Thánh) + sacca (sự thật). |
| yathābhūtaṃ pajānāti | tuệ tri như thật | understands as it really is | Cách biết đối với từng đế (§119). |
| pañcupādānakkhandhā | năm thủ uẩn | five aggregates subject to clinging | “Tóm lại” là khổ (§120, §132). |
| taṇhā ponobbhavikā | ái đưa đến tái hữu | craving that leads to renewed existence | Dục ái, hữu ái, phi hữu ái (§133). |
| piyarūpaṃ sātarūpaṃ | có vẻ khả ái, có vẻ khả lạc | of a dear, agreeable nature | Sáu mươi chỗ ái sinh và diệt (§133–134). |
| asesavirāganirodha | ly tham, đoạn diệt không dư tàn | remainderless fading away and cessation | Định nghĩa Diệt đế (§134). |
| ariyo aṭṭhaṅgiko maggo | Thánh đạo tám chi | noble eightfold path | Định nghĩa Đạo đế, từng chi được giải thích (§135). |
| upādisesa | dư y | residue | Sati upādisese: khi còn dư y (§137). |
| aññā | chánh trí | final knowledge | Theo Chú giải: quả A-la-hán (§137). |
| anāgāmitā | quả Bất lai | non-returning | Quả thứ hai được bảo đảm (§137). |
Một câu ghi nhớ: Ái sinh khởi ở đâu thì cũng chính ở đó ái được đoạn trừ – nơi những gì “có vẻ khả ái, có vẻ khả lạc” ở đời; và ai tu tập bốn niệm xứ đúng như vậy, dù chỉ bảy ngày, cũng có thể mong đợi chánh trí ngay trong hiện tại hoặc quả Bất lai.
Đọc tiếp
- Phần trước: MN 10 Kinh Niệm Xứ – Song Ngữ Pāli Việt Anh – Phần 1 (§105–118)
- Bài song ngữ trước nữa: MN 9 Kinh Chánh Tri Kiến – Song Ngữ Pāli Việt Anh
- Bài song ngữ kế tiếp: MN 11 Tiểu Kinh Sư Tử Hống (Cūḷasīhanādasutta) – sẽ đăng trong kỳ tới.
- Bài giảng giải nội dung: MN 10 – Kinh Niệm Xứ (Satipaṭṭhānasutta)
- Toàn bộ Trung Bộ song ngữ: Trung Bộ Song Ngữ Pāli – Việt – Anh
- Trang tổng: Tam Tạng Song Ngữ Pāli – Việt – Anh
- Loạt giảng giải: Blog Kinh Trung Bộ
Nguồn tham khảo
- Bản Pāli: Chaṭṭha Saṅgāyana Tipiṭaka, Majjhimanikāya, Mūlapaṇṇāsapāḷi, Mahāsatipaṭṭhānasutta (MN 10) – Vipassana Research Institute: tipitaka.org
- Đối chiếu đoạn văn: SuttaCentral – MN 10
- Chú giải: Papañcasūdanī (Majjhimanikāya-aṭṭhakathā), phần Satipaṭṭhānasuttavaṇṇanā; và Sumaṅgalavilāsinī (Dīghanikāya-aṭṭhakathā), phần Mahāsatipaṭṭhānasuttavaṇṇanā cho đoạn Tứ Thánh đế – bản VRI tại tipitaka.org
- Đối chiếu nghĩa (không trích lời dịch): HT. Thích Minh Châu; Bhikkhu Ñāṇamoli & Bhikkhu Bodhi; Bhikkhu Sujato.
Bản dịch Việt – Anh trên trang này do Theravada.blog thực hiện trực tiếp từ Pāli, theo lối sát chữ dành cho người học. Nếu quý độc giả phát hiện chỗ cần sửa, xin để lại bình luận.