Kinh Ví Dụ Tấm Vải (Vatthasutta, MN 7) là bài kinh thứ bảy của Trung Bộ Kinh: Đức Phật dùng hình ảnh tấm vải dơ không ăn màu nhuộm để chỉ tâm bị mười sáu cấu uế làm ô nhiễm, rồi dạy con đường đoạn trừ chúng, bất động tịnh tín nơi Tam Bảo, bốn phạm trú và giải thoát – “sự tắm bên trong” – trước khi trả lời Bà-la-môn Sundarika Bhāradvāja về nghi lễ tắm sông. Trang này đặt nguyên văn Pāli bản Chaṭṭha Saṅgāyana (VRI) song song với bản dịch tiếng Việt và tiếng Anh sát chữ, từng đoạn một, kèm chú thích ngữ pháp và thuật ngữ cho người học Pāli.
Hồ sơ bản văn
Tạng: Sutta Piṭaka › Majjhimanikāya › Mūlapaṇṇāsapāḷi › 1. Mūlapariyāyavagga › 7. Vatthasutta (cũng gọi là Vatthūpamasutta)
Nơi thuyết: Sāvatthī, rừng Jeta, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika
Người thuyết: Đức Thế Tôn
Người nghe / nhân vật: chư tỳ-khưu; Bà-la-môn Sundarika Bhāradvāja (về sau là Tôn giả Bhāradvāja)
Bản Pāli: Chaṭṭha Saṅgāyana Tipiṭaka, Vipassana Research Institute (tipitaka.org), đoạn §70–80
Bản dịch: Theravada.blog, dịch trực tiếp từ Pāli sang Việt và Anh, văn phong sát chữ
Tạng: Sutta Piṭaka › Majjhimanikāya › Mūlapaṇṇāsapāḷi › 1. Mūlapariyāyavagga › 7. Vatthasutta (cũng gọi là Vatthūpamasutta)
Nơi thuyết: Sāvatthī, rừng Jeta, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika
Người thuyết: Đức Thế Tôn
Người nghe / nhân vật: chư tỳ-khưu; Bà-la-môn Sundarika Bhāradvāja (về sau là Tôn giả Bhāradvāja)
Bản Pāli: Chaṭṭha Saṅgāyana Tipiṭaka, Vipassana Research Institute (tipitaka.org), đoạn §70–80
Bản dịch: Theravada.blog, dịch trực tiếp từ Pāli sang Việt và Anh, văn phong sát chữ
Mục lục
Quy ước trình bày · §70 – Ví dụ tấm vải dơ và tấm vải sạch · §71 – Mười sáu cấu uế của tâm · §72–73 – Biết và đoạn trừ các cấu uế · §74–75 – Bất động tịnh tín nơi Tam Bảo; hân hoan, hỷ, lạc, định · §76–77 – Thức ăn không thành chướng ngại; bốn phạm trú · §78 – Giải thoát: tỳ-khưu đã tắm với sự tắm bên trong · §79 – Bà-la-môn Sundarika Bhāradvāja và các bài kệ về sông thiêng · §80 – Quy y, xuất gia và chứng quả A-la-hán · Thuật ngữ · Nguồn
Quy ước trình bày · §70 – Ví dụ tấm vải dơ và tấm vải sạch · §71 – Mười sáu cấu uế của tâm · §72–73 – Biết và đoạn trừ các cấu uế · §74–75 – Bất động tịnh tín nơi Tam Bảo; hân hoan, hỷ, lạc, định · §76–77 – Thức ăn không thành chướng ngại; bốn phạm trú · §78 – Giải thoát: tỳ-khưu đã tắm với sự tắm bên trong · §79 – Bà-la-môn Sundarika Bhāradvāja và các bài kệ về sông thiêng · §80 – Quy y, xuất gia và chứng quả A-la-hán · Thuật ngữ · Nguồn
Quy ước trình bày
- Mỗi hàng gồm ba ô: Pāli (nền kem, in nghiêng) · Tiếng Việt · English. Trên điện thoại, ba ô tự xếp dọc theo thứ tự đó.
- Số đoạn (§) theo bản VRI; ví dụ “MN 7 §75.2” là ý thứ hai trong đoạn 75. Bản VRI đánh số liên tục trong cả Mūlapaṇṇāsa, nên MN 7 bắt đầu từ §70.
- Chữ nhỏ màu xám trong ngoặc vuông là dị bản do chính bản VRI ghi: sī. (Tích Lan), syā. (Thái), kaṃ. (Campuchia), pī. (PTS); itipi và aṭṭhakathāyaṃ pāṭhantaraṃ là các cách đọc khác được ghi nhận.
- …pe… là ký hiệu tỉnh lược của bản Pāli; bản dịch giữ nguyên chỗ lược, ghi “(như trên)” / “(and so on)”. Kệ được dịch theo từng câu kệ.
- Dịch sát chữ: giữ trật tự và hình thái của câu Pāli, không thêm chữ diễn giải vào thân bản dịch (chữ trong ngoặc vuông [ ] ở bản dịch là phần ngầm hiểu). Phần giải thích đặt riêng trong các dòng Chú thích.
Bản văn song ngữ Pāli – Việt – Anh
Pāli (VRI)
Tiếng Việt
English
§70 – Ví dụ tấm vải dơ và tấm vải sạch
Evaṃ me sutaṃ – ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tôi nghe như vầy – một thời, Đức Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại rừng Jeta, trong khu vườn của ông Anāthapiṇḍika.
Thus have I heard – on one occasion the Blessed One was dwelling at Sāvatthī, in Jeta’s Grove, in Anāthapiṇḍika’s park.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi – ‘‘bhikkhavo’’ti. ‘‘Bhadante’’ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṃ. Bhagavā etadavoca –
Tại đấy, Đức Thế Tôn gọi các tỳ-khưu: “Này các tỳ-khưu.” – “Bạch Thế Tôn”, các tỳ-khưu ấy đáp lại Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn nói điều này:
There the Blessed One addressed the bhikkhus: “Bhikkhus.” – “Venerable sir,” those bhikkhus replied to the Blessed One. The Blessed One said this:
‘‘Seyyathāpi, bhikkhave, vatthaṃ saṃkiliṭṭhaṃ malaggahitaṃ; tamenaṃ rajako yasmiṃ yasmiṃ raṅgajāte upasaṃhareyya – yadi nīlakāya yadi pītakāya yadi lohitakāya yadi mañjiṭṭhakāya [mañjeṭṭhakāya (sī. pī.), mañjeṭṭhikāya (syā.)] durattavaṇṇamevassa aparisuddhavaṇṇamevassa. Taṃ kissa hetu? Aparisuddhattā, bhikkhave, vatthassa.
“Này các tỳ-khưu, ví như một tấm vải bị dơ bẩn, bị cáu bám; người thợ nhuộm có thể nhúng nó vào bất cứ loại thuốc nhuộm nào – hoặc màu xanh, hoặc màu vàng, hoặc màu đỏ, hoặc màu đỏ thắm – thì nó vẫn chỉ có màu nhuộm xấu, chỉ có màu không trong sạch. Vì nhân gì vậy? Này các tỳ-khưu, vì tấm vải không trong sạch.
“Suppose, bhikkhus, a cloth were stained and dirty; whatever dye the dyer might dip it in – whether blue or yellow or red or crimson – it would be just badly dyed, just impure in colour. For what reason? Because of the impurity of the cloth, bhikkhus.
Evameva kho, bhikkhave, citte saṃkiliṭṭhe, duggati pāṭikaṅkhā.
Cũng vậy, này các tỳ-khưu, khi tâm bị ô nhiễm, ác thú là điều có thể chờ đợi.
Just so, bhikkhus, when the mind is defiled, a bad destination is to be expected.
Seyyathāpi, bhikkhave, vatthaṃ parisuddhaṃ pariyodātaṃ; tamenaṃ rajako yasmiṃ yasmiṃ raṅgajāte upasaṃhareyya – yadi nīlakāya yadi pītakāya yadi lohitakāya yadi mañjiṭṭhakāya – surattavaṇṇamevassa parisuddhavaṇṇamevassa. Taṃ kissa hetu? Parisuddhattā, bhikkhave, vatthassa.
Này các tỳ-khưu, ví như một tấm vải trong sạch, tinh khiết; người thợ nhuộm có thể nhúng nó vào bất cứ loại thuốc nhuộm nào – hoặc màu xanh, hoặc màu vàng, hoặc màu đỏ, hoặc màu đỏ thắm – thì nó chỉ có màu nhuộm đẹp, chỉ có màu trong sạch. Vì nhân gì vậy? Này các tỳ-khưu, vì tấm vải trong sạch.
Suppose, bhikkhus, a cloth were pure and clean; whatever dye the dyer might dip it in – whether blue or yellow or red or crimson – it would be just well dyed, just pure in colour. For what reason? Because of the purity of the cloth, bhikkhus.
Evameva kho, bhikkhave, citte asaṃkiliṭṭhe, sugati pāṭikaṅkhā.
Cũng vậy, này các tỳ-khưu, khi tâm không bị ô nhiễm, thiện thú là điều có thể chờ đợi.
Just so, bhikkhus, when the mind is undefiled, a good destination is to be expected.
Chú thích: Bhadante: các tỳ-khưu thưa với Đức Phật nên dịch “Bạch Thế Tôn”. durattavaṇṇamevassa = duratta-vaṇṇaṃ eva assa: du-ratta “nhuộm xấu” (đối lại su-ratta “nhuộm đẹp”), assa là khả năng cách ngôi 3 số ít của atthi (“nó sẽ là”); eva nhấn mạnh “chỉ”. upasaṃhareyya: khả năng cách của upasaṃharati (“đưa đến gần”, ở đây là nhúng vào). citte saṃkiliṭṭhe: định sở cách tuyệt đối (“khi tâm bị ô nhiễm”). pāṭikaṅkhā: tính từ khả năng (“cần được chờ đợi”), hợp giống cái với duggati / sugati. mañjiṭṭhaka: màu đỏ thắm của cây thiến thảo (madder); dị bản mañjeṭṭhakāya (sī. pī.), mañjeṭṭhikāya (syā.).
§71 – Mười sáu cấu uế của tâm
‘‘Katame ca, bhikkhave, cittassa upakkilesā? Abhijjhāvisamalobho cittassa upakkileso, byāpādo cittassa upakkileso, kodho cittassa upakkileso, upanāho cittassa upakkileso, makkho cittassa upakkileso, paḷāso cittassa upakkileso, issā cittassa upakkileso, macchariyaṃ cittassa upakkileso,
“Và này các tỳ-khưu, thế nào là các cấu uế của tâm? Tham đắm và tham bất chánh là cấu uế của tâm, sân độc là cấu uế của tâm, phẫn nộ là cấu uế của tâm, hiềm hận là cấu uế của tâm, khinh rẻ là cấu uế của tâm, ngang ngược là cấu uế của tâm, tật đố là cấu uế của tâm, xan tham là cấu uế của tâm,
“And what, bhikkhus, are the imperfections of the mind? Covetousness and unrighteous greed is an imperfection of the mind, ill will is an imperfection of the mind, anger is an imperfection of the mind, resentment is an imperfection of the mind, contempt is an imperfection of the mind, insolence is an imperfection of the mind, envy is an imperfection of the mind, avarice is an imperfection of the mind,
māyā cittassa upakkileso, sāṭheyyaṃ cittassa upakkileso, thambho cittassa upakkileso, sārambho cittassa upakkileso, māno cittassa upakkileso, atimāno cittassa upakkileso, mado cittassa upakkileso, pamādo cittassa upakkileso.
man trá là cấu uế của tâm, gian xảo là cấu uế của tâm, ngoan cố là cấu uế của tâm, hơn thua là cấu uế của tâm, mạn là cấu uế của tâm, quá mạn là cấu uế của tâm, kiêu là cấu uế của tâm, phóng dật là cấu uế của tâm.
deceit is an imperfection of the mind, fraud is an imperfection of the mind, obstinacy is an imperfection of the mind, rivalry is an imperfection of the mind, conceit is an imperfection of the mind, arrogance is an imperfection of the mind, vanity is an imperfection of the mind, negligence is an imperfection of the mind.
Chú thích: upakkilesa (upa + kilesa): “cấu uế, phiền não phụ” – tiếp nối hình ảnh vết dơ trên tấm vải ở §70. abhijjhāvisamalobha là một hợp từ: abhijjhā (tham đắm, nhìn ngó vật của người) + visama-lobha (tham không chân chánh); bản dịch giữ hai yếu tố. makkha: thái độ xóa nhòa, xem nhẹ ân đức và phẩm chất của người khác; paḷāsa: thái độ đặt mình ngang hàng để tranh hơn (theo cách hiểu thông thường của Chú giải và Vi Diệu Pháp). thambha: sự cứng cỏi, không mềm mỏng; sārambha: sự tranh đua muốn vượt người. mada: sự say sưa (vì tuổi trẻ, sức khỏe, sinh mạng…). Chú ý issā, māyā là giống cái và macchariyaṃ, sāṭheyyaṃ là giống trung, nhưng vị ngữ upakkileso vẫn ở giống đực.
§72–73 – Biết và đoạn trừ các cấu uế
‘‘Sa kho so, bhikkhave, bhikkhu ‘abhijjhāvisamalobho cittassa upakkileso’ti – iti viditvā abhijjhāvisamalobhaṃ cittassa upakkilesaṃ pajahati; ‘byāpādo cittassa upakkileso’ti – iti viditvā byāpādaṃ cittassa upakkilesaṃ pajahati; ‘kodho cittassa upakkileso’ti – iti viditvā kodhaṃ cittassa upakkilesaṃ pajahati; ‘upanāho cittassa upakkileso’ti – iti viditvā upanāhaṃ cittassa upakkilesaṃ pajahati;
“Này các tỳ-khưu, vị tỳ-khưu ấy, sau khi biết như vầy: ‘Tham đắm và tham bất chánh là cấu uế của tâm’, đoạn trừ tham đắm và tham bất chánh, cấu uế của tâm; sau khi biết như vầy: ‘Sân độc là cấu uế của tâm’, đoạn trừ sân độc, cấu uế của tâm; sau khi biết như vầy: ‘Phẫn nộ là cấu uế của tâm’, đoạn trừ phẫn nộ, cấu uế của tâm; sau khi biết như vầy: ‘Hiềm hận là cấu uế của tâm’, đoạn trừ hiềm hận, cấu uế của tâm;
“That bhikkhu, bhikkhus, having known thus: ‘Covetousness and unrighteous greed is an imperfection of the mind’, abandons covetousness and unrighteous greed, the imperfection of the mind; having known thus: ‘Ill will is an imperfection of the mind’, abandons ill will, the imperfection of the mind; having known thus: ‘Anger is an imperfection of the mind’, abandons anger, the imperfection of the mind; having known thus: ‘Resentment is an imperfection of the mind’, abandons resentment, the imperfection of the mind;
‘makkho cittassa upakkileso’ti – iti viditvā makkhaṃ cittassa upakkilesaṃ pajahati; ‘paḷāso cittassa upakkileso’ti – iti viditvā paḷāsaṃ cittassa upakkilesaṃ pajahati; ‘issā cittassa upakkileso’ti – iti viditvā issaṃ cittassa upakkilesaṃ pajahati; ‘macchariyaṃ cittassa upakkileso’ti – iti viditvā macchariyaṃ cittassa upakkilesaṃ pajahati;
sau khi biết như vầy: ‘Khinh rẻ là cấu uế của tâm’, đoạn trừ khinh rẻ, cấu uế của tâm; sau khi biết như vầy: ‘Ngang ngược là cấu uế của tâm’, đoạn trừ ngang ngược, cấu uế của tâm; sau khi biết như vầy: ‘Tật đố là cấu uế của tâm’, đoạn trừ tật đố, cấu uế của tâm; sau khi biết như vầy: ‘Xan tham là cấu uế của tâm’, đoạn trừ xan tham, cấu uế của tâm;
having known thus: ‘Contempt is an imperfection of the mind’, he abandons contempt, the imperfection of the mind; having known thus: ‘Insolence is an imperfection of the mind’, he abandons insolence, the imperfection of the mind; having known thus: ‘Envy is an imperfection of the mind’, he abandons envy, the imperfection of the mind; having known thus: ‘Avarice is an imperfection of the mind’, he abandons avarice, the imperfection of the mind;
‘māyā cittassa upakkileso’ti – iti viditvā māyaṃ cittassa upakkilesaṃ pajahati; ‘sāṭheyyaṃ cittassa upakkileso’ti – iti viditvā sāṭheyyaṃ cittassa upakkilesaṃ pajahati; ‘thambho cittassa upakkileso’ti – iti viditvā thambhaṃ cittassa upakkilesaṃ pajahati; ‘sārambho cittassa upakkileso’ti – iti viditvā sārambhaṃ cittassa upakkilesaṃ pajahati;
sau khi biết như vầy: ‘Man trá là cấu uế của tâm’, đoạn trừ man trá, cấu uế của tâm; sau khi biết như vầy: ‘Gian xảo là cấu uế của tâm’, đoạn trừ gian xảo, cấu uế của tâm; sau khi biết như vầy: ‘Ngoan cố là cấu uế của tâm’, đoạn trừ ngoan cố, cấu uế của tâm; sau khi biết như vầy: ‘Hơn thua là cấu uế của tâm’, đoạn trừ hơn thua, cấu uế của tâm;
having known thus: ‘Deceit is an imperfection of the mind’, he abandons deceit, the imperfection of the mind; having known thus: ‘Fraud is an imperfection of the mind’, he abandons fraud, the imperfection of the mind; having known thus: ‘Obstinacy is an imperfection of the mind’, he abandons obstinacy, the imperfection of the mind; having known thus: ‘Rivalry is an imperfection of the mind’, he abandons rivalry, the imperfection of the mind;
‘māno cittassa upakkileso’ti – iti viditvā mānaṃ cittassa upakkilesaṃ pajahati; ‘atimāno cittassa upakkileso’ti – iti viditvā atimānaṃ cittassa upakkilesaṃ pajahati; ‘mado cittassa upakkileso’ti – iti viditvā madaṃ cittassa upakkilesaṃ pajahati; ‘pamādo cittassa upakkileso’ti – iti viditvā pamādaṃ cittassa upakkilesaṃ pajahati.
sau khi biết như vầy: ‘Mạn là cấu uế của tâm’, đoạn trừ mạn, cấu uế của tâm; sau khi biết như vầy: ‘Quá mạn là cấu uế của tâm’, đoạn trừ quá mạn, cấu uế của tâm; sau khi biết như vầy: ‘Kiêu là cấu uế của tâm’, đoạn trừ kiêu, cấu uế của tâm; sau khi biết như vầy: ‘Phóng dật là cấu uế của tâm’, đoạn trừ phóng dật, cấu uế của tâm.
having known thus: ‘Conceit is an imperfection of the mind’, he abandons conceit, the imperfection of the mind; having known thus: ‘Arrogance is an imperfection of the mind’, he abandons arrogance, the imperfection of the mind; having known thus: ‘Vanity is an imperfection of the mind’, he abandons vanity, the imperfection of the mind; having known thus: ‘Negligence is an imperfection of the mind’, he abandons negligence, the imperfection of the mind.
‘‘Yato kho [yato ca kho (sī. syā.)], bhikkhave, bhikkhuno ‘abhijjhāvisamalobho cittassa upakkileso’ti – iti viditvā abhijjhāvisamalobho cittassa upakkileso pahīno hoti, ‘byāpādo cittassa upakkileso’ti – iti viditvā byāpādo cittassa upakkileso pahīno hoti; ‘kodho cittassa upakkileso’ti – iti viditvā kodho cittassa upakkileso pahīno hoti; ‘upanāho cittassa upakkileso’ti – iti viditvā upanāho cittassa upakkileso pahīno hoti;
“Này các tỳ-khưu, khi nào đối với tỳ-khưu, sau khi biết như vầy: ‘Tham đắm và tham bất chánh là cấu uế của tâm’, thì tham đắm và tham bất chánh, cấu uế của tâm, được đoạn trừ; sau khi biết như vầy: ‘Sân độc là cấu uế của tâm’, thì sân độc, cấu uế của tâm, được đoạn trừ; sau khi biết như vầy: ‘Phẫn nộ là cấu uế của tâm’, thì phẫn nộ, cấu uế của tâm, được đoạn trừ; sau khi biết như vầy: ‘Hiềm hận là cấu uế của tâm’, thì hiềm hận, cấu uế của tâm, được đoạn trừ;
“When, bhikkhus, in a bhikkhu, having known thus: ‘Covetousness and unrighteous greed is an imperfection of the mind’, covetousness and unrighteous greed, the imperfection of the mind, has been abandoned; having known thus: ‘Ill will is an imperfection of the mind’, ill will, the imperfection of the mind, has been abandoned; having known thus: ‘Anger is an imperfection of the mind’, anger, the imperfection of the mind, has been abandoned; having known thus: ‘Resentment is an imperfection of the mind’, resentment, the imperfection of the mind, has been abandoned;
‘makkho cittassa upakkileso’ti – iti viditvā makkho cittassa upakkileso pahīno hoti; ‘paḷāso cittassa upakkileso’ti – iti viditvā paḷāso cittassa upakkileso pahīno hoti; ‘issā cittassa upakkileso’ti – iti viditvā issā cittassa upakkileso pahīno hoti; ‘macchariyaṃ cittassa upakkileso’ti – iti viditvā macchariyaṃ cittassa upakkileso pahīno hoti;
sau khi biết như vầy: ‘Khinh rẻ là cấu uế của tâm’, thì khinh rẻ, cấu uế của tâm, được đoạn trừ; sau khi biết như vầy: ‘Ngang ngược là cấu uế của tâm’, thì ngang ngược, cấu uế của tâm, được đoạn trừ; sau khi biết như vầy: ‘Tật đố là cấu uế của tâm’, thì tật đố, cấu uế của tâm, được đoạn trừ; sau khi biết như vầy: ‘Xan tham là cấu uế của tâm’, thì xan tham, cấu uế của tâm, được đoạn trừ;
having known thus: ‘Contempt is an imperfection of the mind’, contempt, the imperfection of the mind, has been abandoned; having known thus: ‘Insolence is an imperfection of the mind’, insolence, the imperfection of the mind, has been abandoned; having known thus: ‘Envy is an imperfection of the mind’, envy, the imperfection of the mind, has been abandoned; having known thus: ‘Avarice is an imperfection of the mind’, avarice, the imperfection of the mind, has been abandoned;
‘māyā cittassa upakkileso’ti – iti viditvā māyā cittassa upakkileso pahīno hoti; ‘sāṭheyyaṃ cittassa upakkileso’ti – iti viditvā sāṭheyyaṃ cittassa upakkileso pahīno hoti; ‘thambho cittassa upakkileso’ti – iti viditvā thambho cittassa upakkileso pahīno hoti; ‘sārambho cittassa upakkileso’ti – iti viditvā sārambho cittassa upakkileso pahīno hoti;
sau khi biết như vầy: ‘Man trá là cấu uế của tâm’, thì man trá, cấu uế của tâm, được đoạn trừ; sau khi biết như vầy: ‘Gian xảo là cấu uế của tâm’, thì gian xảo, cấu uế của tâm, được đoạn trừ; sau khi biết như vầy: ‘Ngoan cố là cấu uế của tâm’, thì ngoan cố, cấu uế của tâm, được đoạn trừ; sau khi biết như vầy: ‘Hơn thua là cấu uế của tâm’, thì hơn thua, cấu uế của tâm, được đoạn trừ;
having known thus: ‘Deceit is an imperfection of the mind’, deceit, the imperfection of the mind, has been abandoned; having known thus: ‘Fraud is an imperfection of the mind’, fraud, the imperfection of the mind, has been abandoned; having known thus: ‘Obstinacy is an imperfection of the mind’, obstinacy, the imperfection of the mind, has been abandoned; having known thus: ‘Rivalry is an imperfection of the mind’, rivalry, the imperfection of the mind, has been abandoned;
‘māno cittassa upakkileso’ti – iti viditvā māno cittassa upakkileso pahīno hoti; ‘atimāno cittassa upakkileso’ti – iti viditvā atimāno cittassa upakkileso pahīno hoti; ‘mado cittassa upakkileso’ti – iti viditvā mado cittassa upakkileso pahīno hoti; ‘pamādo cittassa upakkileso’ti – iti viditvā pamādo cittassa upakkileso pahīno hoti.
sau khi biết như vầy: ‘Mạn là cấu uế của tâm’, thì mạn, cấu uế của tâm, được đoạn trừ; sau khi biết như vầy: ‘Quá mạn là cấu uế của tâm’, thì quá mạn, cấu uế của tâm, được đoạn trừ; sau khi biết như vầy: ‘Kiêu là cấu uế của tâm’, thì kiêu, cấu uế của tâm, được đoạn trừ; sau khi biết như vầy: ‘Phóng dật là cấu uế của tâm’, thì phóng dật, cấu uế của tâm, được đoạn trừ –
having known thus: ‘Conceit is an imperfection of the mind’, conceit, the imperfection of the mind, has been abandoned; having known thus: ‘Arrogance is an imperfection of the mind’, arrogance, the imperfection of the mind, has been abandoned; having known thus: ‘Vanity is an imperfection of the mind’, vanity, the imperfection of the mind, has been abandoned; having known thus: ‘Negligence is an imperfection of the mind’, negligence, the imperfection of the mind, has been abandoned –
Chú thích: viditvā: bất biến quá khứ phân từ của vidati (“biết”) – trước hết phải biết đó là cấu uế, rồi mới đoạn trừ (pajahati, hiện tại chủ động ở §72) và đạt trạng thái đã được đoạn trừ (pahīno hoti, quá khứ phân từ thụ động ở §73). bhikkhuno (§73) là sở thuộc/chỉ định cách: “đối với tỳ-khưu”. Mệnh đề Yato kho … (“khi nào…”) chưa có mệnh đề chính; theo cách hiểu thông thường, mệnh đề chính là câu So buddhe aveccappasādena samannāgato hoti ở §74 (“[thì] vị ấy thành tựu bất động tịnh tín…”). Dị bản: yato ca kho (sī. syā.).
§74–75 – Bất động tịnh tín nơi Tam Bảo; hân hoan, hỷ, lạc, định
‘‘So buddhe aveccappasādena samannāgato hoti – ‘itipi so bhagavā arahaṃ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṃ buddho bhagavā’ti;
“Vị ấy thành tựu bất động tịnh tín đối với Đức Phật: ‘Vị Thế Tôn ấy là như vầy: bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn’;
“He is endowed with unwavering confidence in the Buddha: ‘Thus indeed is that Blessed One: accomplished, fully enlightened, perfect in true knowledge and conduct, sublime, knower of worlds, incomparable leader of persons to be tamed, teacher of gods and humans, enlightened, blessed’;
dhamme aveccappasādena samannāgato hoti – ‘svākkhāto bhagavatā dhammo sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṃ veditabbo viññūhī’ti;
vị ấy thành tựu bất động tịnh tín đối với Pháp: ‘Pháp được Đức Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu’;
he is endowed with unwavering confidence in the Dhamma: ‘Well proclaimed by the Blessed One is the Dhamma, directly visible, immediate, inviting one to come and see, leading onward, to be experienced personally by the wise’;
saṅghe aveccappasādena samannāgato hoti – ‘suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, ujuppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, ñāyappaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, sāmīcippaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, yadidaṃ cattāri purisayugāni, aṭṭha purisapuggalā. Esa bhagavato sāvakasaṅgho āhuneyyo pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo, anuttaraṃ puññakkhettaṃ lokassā’ti.
vị ấy thành tựu bất động tịnh tín đối với Tăng: ‘Chúng đệ tử của Đức Thế Tôn đã thực hành khéo, chúng đệ tử của Đức Thế Tôn đã thực hành ngay thẳng, chúng đệ tử của Đức Thế Tôn đã thực hành đúng đường, chúng đệ tử của Đức Thế Tôn đã thực hành chân chánh, tức là bốn đôi người, tám hạng người. Chúng đệ tử này của Đức Thế Tôn đáng được cung thỉnh, đáng được tiếp đãi, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng của thế gian’.
he is endowed with unwavering confidence in the Saṅgha: ‘The Saṅgha of the Blessed One’s disciples is practising well, the Saṅgha of the Blessed One’s disciples is practising straightly, the Saṅgha of the Blessed One’s disciples is practising the true way, the Saṅgha of the Blessed One’s disciples is practising properly, that is, the four pairs of persons, the eight individuals. This Saṅgha of the Blessed One’s disciples is worthy of offerings, worthy of hospitality, worthy of gifts, worthy of reverential salutation, the unsurpassed field of merit for the world’.
Chú thích: aveccappasāda: avecca là bất biến quá khứ phân từ của ava + i (“sau khi đi sâu vào, sau khi thấu hiểu”), nên aveccappasāda là tịnh tín có được do thấu hiểu, không còn lay chuyển – bản dịch gọi là “bất động tịnh tín” / “unwavering confidence”. Theo Chú giải, đây là tịnh tín của bậc Thánh đã chứng đạo, vì vậy nó đi sau phần đoạn trừ cấu uế. itipi so bhagavā: iti-pi “như vầy cũng”, mở đầu chuỗi chín đức hiệu.
‘‘Yathodhi [yatodhi (aṭṭhakathāyaṃ pāṭhantaraṃ)] kho panassa cattaṃ hoti vantaṃ muttaṃ pahīnaṃ paṭinissaṭṭhaṃ, so ‘buddhe aveccappasādena samannāgatomhī’ti labhati atthavedaṃ, labhati dhammavedaṃ, labhati dhammūpasaṃhitaṃ pāmojjaṃ. Pamuditassa pīti jāyati, pītimanassa kāyo passambhati, passaddhakāyo sukhaṃ vedeti, sukhino cittaṃ samādhiyati;
“Và phần nào, theo giới hạn, đã được vị ấy từ bỏ, nhả ra, buông thả, đoạn trừ, xả ly, thì vị ấy, [nghĩ rằng]: ‘Ta thành tựu bất động tịnh tín đối với Đức Phật’, được cảm hứng về nghĩa, được cảm hứng về pháp, được hân hoan liên hệ đến pháp. Người hân hoan thì hỷ sanh; người có ý hỷ thì thân khinh an; người có thân khinh an thì cảm thọ lạc; người có lạc thì tâm được định;
“And to whatever extent [anything] has been given up by him, ejected, released, abandoned, relinquished, he, [thinking]: ‘I am endowed with unwavering confidence in the Buddha’, gains inspiration in the meaning, gains inspiration in the Dhamma, gains gladness connected with the Dhamma. When he is glad, rapture is born; in one whose mind is rapturous, the body becomes tranquil; one tranquil in body feels pleasure; in one who is happy, the mind becomes concentrated;
‘dhamme…pe… saṅghe aveccappasādena samannāgatomhī’ti labhati atthavedaṃ, labhati dhammavedaṃ, labhati dhammūpasaṃhitaṃ pāmojjaṃ; pamuditassa pīti jāyati, pītimanassa kāyo passambhati, passaddhakāyo sukhaṃ vedeti, sukhino cittaṃ samādhiyati.
[nghĩ rằng]: ‘Ta thành tựu bất động tịnh tín đối với Pháp… (như trên)… đối với Tăng’, được cảm hứng về nghĩa, được cảm hứng về pháp, được hân hoan liên hệ đến pháp; người hân hoan thì hỷ sanh, người có ý hỷ thì thân khinh an, người có thân khinh an thì cảm thọ lạc, người có lạc thì tâm được định.
[thinking]: ‘I am endowed with unwavering confidence in the Dhamma… (and so on)… in the Saṅgha’, he gains inspiration in the meaning, gains inspiration in the Dhamma, gains gladness connected with the Dhamma; when he is glad, rapture is born; in one whose mind is rapturous, the body becomes tranquil; one tranquil in body feels pleasure; in one who is happy, the mind becomes concentrated.
‘Yathodhi kho pana me cattaṃ vantaṃ muttaṃ pahīnaṃ paṭinissaṭṭha’nti labhati atthavedaṃ, labhati dhammavedaṃ, labhati dhammūpasaṃhitaṃ pāmojjaṃ; pamuditassa pīti jāyati, pītimanassa kāyo passambhati, passaddhakāyo sukhaṃ vedeti, sukhino cittaṃ samādhiyati.
[Nghĩ rằng]: ‘Phần nào, theo giới hạn, đã được ta từ bỏ, nhả ra, buông thả, đoạn trừ, xả ly’, vị ấy được cảm hứng về nghĩa, được cảm hứng về pháp, được hân hoan liên hệ đến pháp; người hân hoan thì hỷ sanh, người có ý hỷ thì thân khinh an, người có thân khinh an thì cảm thọ lạc, người có lạc thì tâm được định.
[Thinking]: ‘To whatever extent [anything] has been given up by me, ejected, released, abandoned, relinquished’, he gains inspiration in the meaning, gains inspiration in the Dhamma, gains gladness connected with the Dhamma; when he is glad, rapture is born; in one whose mind is rapturous, the body becomes tranquil; one tranquil in body feels pleasure; in one who is happy, the mind becomes concentrated.
Chú thích: yathodhi = yathā + odhi (“theo giới hạn, đến mức nào”); bản VRI ghi Chú giải có dị bản yatodhi. Theo Chú giải, “giới hạn” ở đây là phần phiền não đã được đoạn trừ bởi đạo lộ đã chứng, và Chú giải liên hệ đoạn này với bậc Bất lai; chi tiết phân bổ từng cấu uế cho từng Thánh đạo nên đọc trực tiếp trong Papañcasūdanī. Năm phân từ cattaṃ vantaṃ muttaṃ pahīnaṃ paṭinissaṭṭhaṃ (từ cajati, vamati, muñcati, pajahati, paṭinissajjati) là chuỗi đồng nghĩa tăng dần. atthaveda / dhammaveda: veda ở đây là niềm hứng khởi, hân hoan do hiểu biết; cặp attha (nghĩa) – dhamma (pháp, lời dạy) được Chú giải giải thích theo nhiều cách, cách hiểu chính xác còn được bàn luận. Chuỗi pāmojja → pīti → passaddhi → sukha → samādhi là khuôn mẫu quen thuộc dẫn từ niềm tin đến định.
§76–77 – Thức ăn không thành chướng ngại; bốn phạm trú
‘‘Sa kho so, bhikkhave, bhikkhu evaṃsīlo evaṃdhammo evaṃpañño sālīnaṃ cepi piṇḍapātaṃ bhuñjati vicitakāḷakaṃ anekasūpaṃ anekabyañjanaṃ, nevassa taṃ hoti antarāyāya.
“Này các tỳ-khưu, vị tỳ-khưu ấy, có giới như vậy, có pháp như vậy, có tuệ như vậy, nếu có thọ dụng đồ ăn khất thực bằng gạo sāli đã lựa bỏ hạt đen, với nhiều loại canh, nhiều loại món ăn, thì điều ấy cũng không trở thành chướng ngại cho vị ấy.
“That bhikkhu, bhikkhus, of such virtue, of such a state, of such wisdom, even if he eats almsfood of hill rice with the dark grains picked out, with many soups and many curries, that does not become an obstruction for him.
Seyyathāpi, bhikkhave, vatthaṃ saṃkiliṭṭhaṃ malaggahitaṃ acchodakaṃ āgamma parisuddhaṃ hoti pariyodātaṃ, ukkāmukhaṃ vā panāgamma jātarūpaṃ parisuddhaṃ hoti pariyodātaṃ, evameva kho, bhikkhave, bhikkhu evaṃsīlo evaṃdhammo evaṃpañño sālīnaṃ cepi piṇḍapātaṃ bhuñjati vicitakāḷakaṃ anekasūpaṃ anekabyañjanaṃ, nevassa taṃ hoti antarāyāya.
Này các tỳ-khưu, ví như tấm vải bị dơ bẩn, bị cáu bám, nhờ nước trong mà trở nên trong sạch, tinh khiết; hoặc như vàng ròng nhờ miệng lò mà trở nên trong sạch, tinh khiết; cũng vậy, này các tỳ-khưu, vị tỳ-khưu có giới như vậy, có pháp như vậy, có tuệ như vậy, nếu có thọ dụng đồ ăn khất thực bằng gạo sāli đã lựa bỏ hạt đen, với nhiều loại canh, nhiều loại món ăn, thì điều ấy cũng không trở thành chướng ngại cho vị ấy.
Just as, bhikkhus, a stained and dirty cloth becomes pure and clean with the help of clear water, or as gold becomes pure and clean with the help of a furnace’s mouth, just so, bhikkhus, a bhikkhu of such virtue, of such a state, of such wisdom, even if he eats almsfood of hill rice with the dark grains picked out, with many soups and many curries, that does not become an obstruction for him.
Chú thích: evaṃsīlo evaṃdhammo evaṃpañño: ba hợp từ sở hữu (bahubbīhi) – “người có giới như vậy…”; theo Chú giải, dhamma ở đây chỉ định (samādhi), nên ba chữ tương ứng với giới, định, tuệ. sālīnaṃ … piṇḍapātaṃ: sāli là loại lúa gạo thượng hạng; vicitakāḷaka: “đã được nhặt bỏ những hạt đen”. cepi = ce + api (“dù nếu”). āgamma: bất biến quá khứ phân từ của āgacchati, dùng như giới từ “nhờ vào, dựa vào”. ukkāmukha: miệng lò luyện vàng. Hình ảnh tấm vải được giặt sạch quay trở lại ví dụ ở §70.
‘‘So mettāsahagatena cetasā ekaṃ disaṃ pharitvā viharati, tathā dutiyaṃ, tathā tatiyaṃ, tathā catutthaṃ [catutthiṃ (sī. pī.)]. Iti uddhamadho tiriyaṃ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṃ lokaṃ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā viharati;
“Vị ấy an trú, sau khi biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, phía trên, phía dưới, bề ngang, khắp mọi nơi, đối với tất cả như đối với chính mình, vị ấy an trú, sau khi biến mãn toàn thể thế giới với tâm câu hữu với từ, rộng lớn, đại hành, vô lượng, không thù hận, không sân độc;
“He dwells having pervaded one direction with a mind accompanied by loving-kindness, likewise the second, likewise the third, likewise the fourth. Thus above, below, across, everywhere, and to all as to himself, he dwells having pervaded the all-encompassing world with a mind accompanied by loving-kindness, abundant, exalted, immeasurable, without hostility, without ill will;
karuṇāsahagatena cetasā…pe… muditāsahagatena cetasā…pe… upekkhāsahagatena cetasā ekaṃ disaṃ pharitvā viharati, tathā dutiyaṃ, tathā tatiyaṃ, tathā catutthaṃ. Iti uddhamadho tiriyaṃ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṃ lokaṃ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā viharati.
với tâm câu hữu với bi… (như trên)… với tâm câu hữu với hỷ… (như trên)… vị ấy an trú, sau khi biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, phía trên, phía dưới, bề ngang, khắp mọi nơi, đối với tất cả như đối với chính mình, vị ấy an trú, sau khi biến mãn toàn thể thế giới với tâm câu hữu với xả, rộng lớn, đại hành, vô lượng, không thù hận, không sân độc.
with a mind accompanied by compassion… (and so on)… with a mind accompanied by altruistic joy… (and so on)… he dwells having pervaded one direction with a mind accompanied by equanimity, likewise the second, likewise the third, likewise the fourth. Thus above, below, across, everywhere, and to all as to himself, he dwells having pervaded the all-encompassing world with a mind accompanied by equanimity, abundant, exalted, immeasurable, without hostility, without ill will.
Chú thích: pharitvā: bất biến quá khứ phân từ của pharati (“lan tỏa, biến mãn”). sabbattatāya: thường được hiểu là sabba + atta-tā (“đối với tất cả như đối với chính mình”); một số nhà chú giải cũng hiểu là “trong mọi phương diện”. sabbāvantaṃ: “gồm tất cả”. mahaggata (“đã trở nên lớn”): tâm đạt đến tầng thiền. Dị bản: catutthiṃ (sī. pī.). Ở §77, …pe… lược phần lặp của bi và hỷ.
§78 – Giải thoát: tỳ-khưu đã tắm với sự tắm bên trong
‘‘So ‘atthi idaṃ, atthi hīnaṃ, atthi paṇītaṃ, atthi imassa saññāgatassa uttariṃ nissaraṇa’nti pajānāti.
“Vị ấy biết rõ: ‘Có cái này, có cái hạ liệt, có cái thù thắng, có sự xuất ly vượt lên trên tưởng giới này’.
“He understands: ‘There is this, there is the inferior, there is the superior, there is an escape beyond this field of perception’.
Tassa evaṃ jānato evaṃ passato kāmāsavāpi cittaṃ vimuccati, bhavāsavāpi cittaṃ vimuccati, avijjāsavāpi cittaṃ vimuccati. Vimuttasmiṃ vimuttamiti ñāṇaṃ hoti.
Nơi vị ấy, do biết như vậy, thấy như vậy, tâm được giải thoát khỏi dục lậu, tâm được giải thoát khỏi hữu lậu, tâm được giải thoát khỏi vô minh lậu. Khi đã giải thoát, có trí biết rằng: ‘Đã giải thoát’.
As he knows thus and sees thus, his mind is liberated from the taint of sensual desire, his mind is liberated from the taint of being, his mind is liberated from the taint of ignorance. When it is liberated, there is the knowledge: ‘Liberated’.
‘Khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā’ti pajānāti. Ayaṃ vuccati, bhikkhave – ‘bhikkhu sināto antarena sinānenā’’’ti.
Vị ấy biết rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã sống, việc cần làm đã làm, không còn gì nữa cho trạng thái này’. Này các tỳ-khưu, vị này được gọi là: ‘Tỳ-khưu đã tắm với sự tắm bên trong’.”
He understands: ‘Birth is destroyed, the holy life has been lived, what had to be done has been done, there is no more for this state of being’. This, bhikkhus, is called: ‘A bhikkhu bathed with the inner bathing’.”
Chú thích: saññāgata: “cái đã đi vào tưởng, phạm vi của tưởng”. Theo Chú giải, bốn mệnh đề ở §78.1 tương ứng với Tứ đế: “cái này” là khổ đế (các uẩn của thiền phạm trú vừa tu), “hạ liệt” là tập đế, “thù thắng” là đạo đế, và “sự xuất ly vượt lên trên” là Niết-bàn. kāmāsavāpi: kāmāsavā là xuất xứ cách, pi “cũng”. Vimuttasmiṃ: định sở cách (“trong cái đã giải thoát”). sināto antarena sinānena: sināta là quá khứ phân từ của sināti/nhāyati (“tắm”), antara “bên trong” – câu này chính là chỗ bắt lời để Bà-la-môn Sundarika Bhāradvāja, người tin vào nghi lễ tắm sông, đặt câu hỏi ở §79.
§79 – Bà-la-môn Sundarika Bhāradvāja và các bài kệ về sông thiêng
Tena kho pana samayena sundarikabhāradvājo brāhmaṇo bhagavato avidūre nisinno hoti.
Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Sundarika Bhāradvāja đang ngồi không xa Đức Thế Tôn.
Now on that occasion the brāhmaṇa Sundarika Bhāradvāja was sitting not far from the Blessed One.
Atha kho sundarikabhāradvājo brāhmaṇo bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘gacchati pana bhavaṃ gotamo bāhukaṃ nadiṃ sināyitu’’nti?
Rồi Bà-la-môn Sundarika Bhāradvāja nói với Đức Thế Tôn điều này: “Nhưng Tôn giả Gotama có đi đến sông Bāhukā để tắm không?”
Then the brāhmaṇa Sundarika Bhāradvāja said this to the Blessed One: “But does Master Gotama go to the river Bāhukā to bathe?”
‘‘Kiṃ, brāhmaṇa, bāhukāya nadiyā? Kiṃ bāhukā nadī karissatī’’ti?
“Này Bà-la-môn, sông Bāhukā thì có gì? Sông Bāhukā sẽ làm được gì?”
“What, brāhmaṇa, of the river Bāhukā? What will the river Bāhukā do?”
‘‘Lokkhasammatā [lokhyasammatā (sī.), mokkhasammatā (pī.)] hi, bho gotama, bāhukā nadī bahujanassa, puññasammatā hi, bho gotama, bāhukā nadī bahujanassa, bāhukāya pana nadiyā bahujano pāpakammaṃ kataṃ pavāhetī’’ti.
“Thưa Tôn giả Gotama, sông Bāhukā được nhiều người xem là linh thiêng; thưa Tôn giả Gotama, sông Bāhukā được nhiều người xem là có phước; và tại sông Bāhukā, nhiều người làm trôi đi ác nghiệp đã làm.”
“For, Master Gotama, the river Bāhukā is regarded by many as sacred; for, Master Gotama, the river Bāhukā is regarded by many as meritorious; and in the river Bāhukā many people wash away the evil deeds they have done.”
Atha kho bhagavā sundarikabhāradvājaṃ brāhmaṇaṃ gāthāhi ajjhabhāsi –
Rồi Đức Thế Tôn nói với Bà-la-môn Sundarika Bhāradvāja bằng những bài kệ:
Then the Blessed One addressed the brāhmaṇa Sundarika Bhāradvāja in verses:
Chú thích: bhavaṃ gotamo / bho gotama: cách xưng hô lịch sự của một người ngoài Tăng đoàn (chủ cách và hô cách của bhavant); không phải bhante, nên dịch “Tôn giả Gotama” / “Master Gotama”. sināyituṃ: động danh từ nguyên mẫu chỉ mục đích (“để tắm”). Kiṃ … bāhukāya nadiyā?: kiṃ + công cụ cách diễn tả “có ích gì với…”. lokkhasammatā: nghĩa của lokkha chưa thật chắc chắn – thường được hiểu là “đem lại điều tốt lành, sự thanh tịnh” (bản dịch tạm ghi “linh thiêng”); dị bản lokhyasammatā (sī.) và mokkhasammatā (pī., “được xem là đem lại giải thoát”). pavāheti: thể sai khiến của pavahati (“làm cho trôi đi”).
‘‘Bāhukaṃ adhikakkañca, gayaṃ sundarikaṃ mapi [sundarikāmapi (sī. syā. pī.), sundarikaṃ mahiṃ (itipi)];
Sarassatiṃ payāgañca, atho bāhumatiṃ nadiṃ;
Niccampi bālo pakkhando [pakkhanno (sī. syā. pī.)], kaṇhakammo na sujjhati.
Sarassatiṃ payāgañca, atho bāhumatiṃ nadiṃ;
Niccampi bālo pakkhando [pakkhanno (sī. syā. pī.)], kaṇhakammo na sujjhati.
“Bāhukā và Adhikakkā, Gayā và cả Sundarikā;
Sarassatī và Payāga, rồi đến sông Bāhumatī;
Kẻ ngu dù thường xuyên lao xuống, người có nghiệp đen không được thanh tịnh.
Sarassatī và Payāga, rồi đến sông Bāhumatī;
Kẻ ngu dù thường xuyên lao xuống, người có nghiệp đen không được thanh tịnh.
“Bāhukā and Adhikakkā, Gayā and Sundarikā too;
Sarassatī and Payāga, and then the river Bāhumatī:
Though the fool constantly plunges in, one of dark deeds is not purified.
Sarassatī and Payāga, and then the river Bāhumatī:
Though the fool constantly plunges in, one of dark deeds is not purified.
‘‘Kiṃ sundarikā karissati, kiṃ payāgā [payāgo (sī. syā. pī.)] kiṃ bāhukā nadī;
Veriṃ katakibbisaṃ naraṃ, na hi naṃ sodhaye pāpakamminaṃ.
Veriṃ katakibbisaṃ naraṃ, na hi naṃ sodhaye pāpakamminaṃ.
“Sundarikā sẽ làm được gì, Payāga làm được gì, sông Bāhukā làm được gì?
Kẻ thù hận, người đã tạo tội lỗi, kẻ có ác nghiệp – thật không thể làm người ấy thanh tịnh.
Kẻ thù hận, người đã tạo tội lỗi, kẻ có ác nghiệp – thật không thể làm người ấy thanh tịnh.
“What will the Sundarikā do, what Payāga, what the river Bāhukā?
The hostile man who has done wrong, a doer of evil deeds – it surely cannot purify him.
The hostile man who has done wrong, a doer of evil deeds – it surely cannot purify him.
‘‘Suddhassa ve sadā phaggu, suddhassuposatho sadā;
Suddhassa sucikammassa, sadā sampajjate vataṃ;
Idheva sināhi brāhmaṇa, sabbabhūtesu karohi khemataṃ.
Suddhassa sucikammassa, sadā sampajjate vataṃ;
Idheva sināhi brāhmaṇa, sabbabhūtesu karohi khemataṃ.
“Đối với người thanh tịnh, thật vậy, luôn luôn là ngày Phaggu; đối với người thanh tịnh, luôn luôn là ngày Uposatha;
Đối với người thanh tịnh, có nghiệp trong sạch, sự hành trì luôn luôn được thành tựu;
Hãy tắm ngay tại đây, này Bà-la-môn, hãy tạo sự an ổn cho tất cả chúng sanh.
Đối với người thanh tịnh, có nghiệp trong sạch, sự hành trì luôn luôn được thành tựu;
Hãy tắm ngay tại đây, này Bà-la-môn, hãy tạo sự an ổn cho tất cả chúng sanh.
“For the pure one, truly, it is always Phaggu; for the pure one it is always the Uposatha;
For the pure one, of clean deeds, the observance is always fulfilled;
Bathe right here, brāhmaṇa; make safety for all beings.
For the pure one, of clean deeds, the observance is always fulfilled;
Bathe right here, brāhmaṇa; make safety for all beings.
‘‘Sace musā na bhaṇasi, sace pāṇaṃ na hiṃsasi;
Sace adinnaṃ nādiyasi, saddahāno amaccharī;
Kiṃ kāhasi gayaṃ gantvā, udapānopi te gayā’’ti.
Sace adinnaṃ nādiyasi, saddahāno amaccharī;
Kiṃ kāhasi gayaṃ gantvā, udapānopi te gayā’’ti.
“Nếu ông không nói lời dối trá, nếu ông không làm hại sinh mạng;
Nếu ông không lấy của không cho, có lòng tin, không xan tham;
Ông sẽ làm gì khi đi đến Gayā? Ngay cái giếng nước cũng là Gayā của ông.”
Nếu ông không lấy của không cho, có lòng tin, không xan tham;
Ông sẽ làm gì khi đi đến Gayā? Ngay cái giếng nước cũng là Gayā của ông.”
“If you speak no falsehood, if you harm no living being;
If you take not what is not given, having faith, free from avarice;
What will you do by going to Gayā? Even a well is your Gayā.”
If you take not what is not given, having faith, free from avarice;
What will you do by going to Gayā? Even a well is your Gayā.”
Chú thích: Kệ 1: các tên Bāhukā, Adhikakkā, Gayā, Sundarikā, Sarassatī, Payāga, Bāhumatī là những dòng sông và bến tắm được người đương thời xem là có năng lực tẩy tội. sundarikaṃ mapi = sundarikaṃ api với phụ âm nối m; dị bản sundarikāmapi (sī. syā. pī.), sundarikaṃ mahiṃ (itipi). pakkhando (dị bản pakkhanno): “đã nhảy vào, lao xuống”. Kệ 2: sodhaye là khả năng cách ngôi 3 số ít của sodheti (“làm cho sạch”). Kệ 3: phaggu – theo Chú giải, chỉ ngày lễ tắm trong tháng Phagguna mà người Bà-la-môn tin rằng tắm vào ngày ấy sẽ rửa sạch tội lỗi; suddhassuposatho = suddhassa uposatho; sampajjate là trung gian thể (attanopada) của sampajjati. Kệ 4: kāhasi là vị lai ngôi 2 số ít của karoti; udapāna là giếng nước.
§80 – Quy y, xuất gia và chứng quả A-la-hán
Evaṃ vutte, sundarikabhāradvājo brāhmaṇo bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘abhikkantaṃ, bho gotama, abhikkantaṃ, bho gotama! Seyyathāpi, bho gotama, nikkujjitaṃ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṃ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṃ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṃ dhāreyya – cakkhumanto rūpāni dakkhantīti; evamevaṃ bhotā gotamena anekapariyāyena dhammo pakāsito.
Khi được nói vậy, Bà-la-môn Sundarika Bhāradvāja nói với Đức Thế Tôn điều này: “Thật tuyệt diệu, thưa Tôn giả Gotama! Thật tuyệt diệu, thưa Tôn giả Gotama! Thưa Tôn giả Gotama, ví như người dựng đứng lại cái gì bị lật úp, hay mở ra cái gì bị che kín, hay chỉ đường cho người lạc lối, hay cầm đèn dầu trong bóng tối [với ý nghĩ]: ‘Những ai có mắt sẽ thấy các sắc’; cũng vậy, Pháp đã được Tôn giả Gotama trình bày bằng nhiều phương cách.
When this was said, the brāhmaṇa Sundarika Bhāradvāja said this to the Blessed One: “Excellent, Master Gotama! Excellent, Master Gotama! Just as, Master Gotama, one might set upright what had been overturned, or reveal what was hidden, or point out the way to one who was lost, or hold up an oil lamp in the darkness [thinking]: ‘Those with eyes will see forms’; just so has the Dhamma been made clear by Master Gotama in many ways.
Esāhaṃ bhavantaṃ gotamaṃ saraṇaṃ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca. Labheyyāhaṃ bhoto gotamassa santike pabbajjaṃ, labheyyaṃ upasampada’’nti.
Con đây xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y chúng Tỳ-khưu Tăng. Mong con được xuất gia trong sự hiện diện của Tôn giả Gotama, mong con được thọ cụ túc giới.”
I go for refuge to Master Gotama, and to the Dhamma, and to the Saṅgha of bhikkhus. May I receive the going forth in Master Gotama’s presence, may I receive the full ordination.”
Alattha kho sundarikabhāradvājo brāhmaṇo bhagavato santike pabbajjaṃ, alattha upasampadaṃ.
Bà-la-môn Sundarika Bhāradvāja đã được xuất gia trong sự hiện diện của Đức Thế Tôn, đã được thọ cụ túc giới.
The brāhmaṇa Sundarika Bhāradvāja received the going forth in the Blessed One’s presence, he received the full ordination.
Acirūpasampanno kho panāyasmā bhāradvājo eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto viharanto nacirasseva – yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṃ pabbajanti tadanuttaraṃ – brahmacariyapariyosānaṃ diṭṭhevadhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihāsi.
Thọ cụ túc giới không bao lâu, Tôn giả Bhāradvāja sống một mình, viễn ly, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu sau – vì mục đích mà các thiện gia nam tử chân chánh xuất gia từ gia đình sống không gia đình – ngay trong hiện tại, sau khi tự mình thắng tri và chứng ngộ, đã chứng đạt và an trú mục đích vô thượng ấy, cứu cánh của phạm hạnh.
Not long after his full ordination, the Venerable Bhāradvāja, dwelling alone, withdrawn, diligent, ardent and resolute, before long – having directly known and realized it for himself in this very life – entered upon and dwelt in that supreme goal of the holy life, for the sake of which clansmen rightly go forth from the home life into homelessness.
‘‘Khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā’’ti abbhaññāsi. Aññataro kho panāyasmā bhāradvājo arahataṃ ahosīti.
Vị ấy đã thắng tri: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã sống, việc cần làm đã làm, không còn gì nữa cho trạng thái này.” Và Tôn giả Bhāradvāja đã trở thành một vị trong các bậc A-la-hán.
He directly knew: “Birth is destroyed, the holy life has been lived, what had to be done has been done, there is no more for this state of being.” And the Venerable Bhāradvāja became one of the arahants.
Chú thích: abhikkantaṃ: quá khứ phân từ của abhikkamati, dùng như thán từ (“thật tuyệt diệu”). Bốn ví dụ ukkujjeyya, vivareyya, ācikkheyya, dhāreyya đều là khả năng cách. Esāhaṃ = eso ahaṃ (“con đây”). Labheyyāhaṃ = labheyyaṃ ahaṃ. sayaṃ abhiññā: abhiññā là dạng rút gọn của bất biến quá khứ phân từ abhiññāya (“sau khi thắng tri”). abbhaññāsi: thì bất định (aorist) ngôi 3 số ít của abhijānāti. arahataṃ: sở thuộc cách số nhiều của arahant – “một trong các bậc A-la-hán”. Từ đây vị Bà-la-môn được gọi là āyasmā bhāradvājo (Tôn giả Bhāradvāja).
Vatthasuttaṃ niṭṭhitaṃ sattamaṃ.
Dứt Kinh Ví Dụ Tấm Vải, kinh thứ bảy.
The Simile of the Cloth Discourse, the seventh, is finished.
Thuật ngữ then chốt trong MN 7
| Pāli | Tiếng Việt | English | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| vattha | tấm vải | cloth | Ví dụ trung tâm (§70, §76); tên kinh. |
| upakkilesa | cấu uế (của tâm) | imperfection (of the mind) | Mười sáu cấu uế ở §71. |
| abhijjhāvisamalobha | tham đắm và tham bất chánh | covetousness and unrighteous greed | Cấu uế đầu tiên trong danh sách. |
| aveccappasāda | bất động tịnh tín | unwavering confidence | avecca: sau khi thấu hiểu. |
| atthaveda / dhammaveda | cảm hứng về nghĩa / về pháp | inspiration in the meaning / in the Dhamma | Cách hiểu cặp từ còn được bàn luận. |
| pāmojja | hân hoan | gladness | Khởi đầu chuỗi hỷ – khinh an – lạc – định. |
| mettā, karuṇā, muditā, upekkhā | từ, bi, hỷ, xả | loving-kindness, compassion, altruistic joy, equanimity | Bốn phạm trú (§77). |
| saññāgata | tưởng giới | field of perception | Theo Chú giải, liên hệ với Tứ đế (§78). |
| āsava | lậu hoặc | taint | Dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. |
| sināto antarena sinānena | đã tắm với sự tắm bên trong | bathed with the inner bathing | Đối lại nghi lễ tắm sông (§79). |
Một câu ghi nhớ: Tấm vải dơ thì thuốc nhuộm nào cũng lên màu xấu; tâm còn cấu uế thì ác thú là điều có thể chờ đợi – và nước làm sạch tâm không chảy ở sông Bāhukā hay Gayā, mà ở giới, tín, từ bi hỷ xả và tuệ giải thoát: “Hãy tắm ngay tại đây.”
Đọc tiếp
- Bài song ngữ trước: MN 6 Kinh Ước Nguyện – Song Ngữ Pāli Việt Anh
- Bài giảng giải nội dung: MN 7 – Kinh Ví Dụ Tấm Vải (Vatthūpama Sutta)
- Toàn bộ Trung Bộ song ngữ: Trung Bộ Song Ngữ Pāli – Việt – Anh
- Trang tổng: Tam Tạng Song Ngữ Pāli – Việt – Anh
- Loạt giảng giải: Blog Kinh Trung Bộ
Nguồn tham khảo
- Bản Pāli: Chaṭṭha Saṅgāyana Tipiṭaka, Majjhimanikāya, Mūlapaṇṇāsapāḷi, Vatthasutta – Vipassana Research Institute: tipitaka.org
- Đối chiếu đoạn văn: SuttaCentral – MN 7
- Chú giải: Papañcasūdanī (Majjhimanikāya-aṭṭhakathā), phần Vatthasuttavaṇṇanā – bản VRI tại tipitaka.org
- Đối chiếu nghĩa (không trích lời dịch): HT. Thích Minh Châu; Bhikkhu Ñāṇamoli & Bhikkhu Bodhi; Bhikkhu Sujato.
Bản dịch Việt – Anh trên trang này do Theravada.blog thực hiện trực tiếp từ Pāli, theo lối sát chữ dành cho người học. Nếu quý độc giả phát hiện chỗ cần sửa, xin để lại bình luận.