Hậu Tố -vant/-mant Và -in: Danh Tính Từ “Có, Sở Hữu” Trong Pāli

Hậu tố -vant, -mant và -in là ba cách phổ biến nhất trong Pāli để tạo tính từ mang nghĩa “có, sở hữu”: sīla (giới) → sīlavā (người có giới), sati (niệm) → satimā (người có niệm), ātāpa (nhiệt tâm) → ātāpī (người có nhiệt tâm). Chữ bhagavā (Đức Thế Tôn) và āyasmā (Tôn giả) cũng thuộc nhóm này. Hiểu hậu tố vant mant in giúp đọc được hàng loạt từ chỉ phẩm chất trong kinh mà không cần tra từ điển từng chữ.

Bài viết đọc quy tắc trong Kaccāyanabyākaraṇa và Padarūpasiddhi (bản VRI), rồi phân tích tám câu kinh thật từ SuttaCentral.

1. “Tadassatthi”: nghĩa chung của nhóm hậu tố

Các nhà ngữ pháp Pāli xếp các hậu tố này vào taddhita (hậu tố phái sinh từ danh từ), ở mục mang nghĩa tadassatthi, “cái ấy có ở người này”. Kaccāyana quy tắc 368:

“Guṇaiccevamādito vantupaccayo hoti ‘tadassatthi’ iccetasmiṃ atthe. Guṇo yassa atthi, tasmiṃ vā vijjatīti guṇavā. Evaṃ yasavā, dhanavā, paññavā, balavā, bhagavā.” (Kaccāyanabyākaraṇa, quy tắc 368, phần giải)

“Sau guṇa và các từ tương tự, dùng hậu tố vantu với nghĩa ‘cái ấy có ở người này’. Người có đức (guṇa), hay nơi người đó đức hiện hữu, gọi là guṇavā. Tương tự: yasavā (có danh tiếng), dhanavā (có của), paññavā (có tuệ), balavā (có sức), bhagavā.”

Lưu ý tên gọi: ngữ pháp cổ ghi hậu tố là vantu, mantu và ī; sách hiện đại thường viết -vant, -mant, -in, theo dạng thân từ khi biến cách. Đây là cùng một hiện tượng.

Kaccāyana trình bày cả một chuỗi quy tắc cho nghĩa này:

Quy tắc KaccāyanaHậu tốVí dụ trong sách
364 Tadassatthīti vī cavīmedhāvī (có trí), māyāvī
365 Tapādito sīsītapassī (có khổ hạnh), yasassī
366 Daṇḍādito ika īika, īdaṇḍī, daṇḍiko (người cầm gậy)
368 Guṇādito vantuvantuguṇavā, paññavā, bhagavā
369 Satyādīhi mantumantusatimā, dhitimā, jutimā
371 Āyussukārāsa mantumhimantu (āyu → āyas)āyasmā

Khi nào -vant, khi nào -mant?

Padarūpasiddhi, khi giải quy tắc về mantu, ghi rằng hậu tố này đi sau các từ “không tận cùng bằng a hay ā” (avaṇṇantarahitehi). Thực tế dễ nhớ: từ gốc tận cùng -a / -ā nhận -vant (sīla → sīlavā, paññā → paññavā), từ gốc tận cùng -i / -u nhận -mant (sati → satimā, cakkhu → cakkhumā, bandhu → bandhumā). Riêng āyu (tuổi thọ) thành āyasmā theo quy tắc 371, nên “Tôn giả” nghĩa đen là “người có tuổi thọ”.

2. Biến cách của -vant / -mant

Padarūpasiddhi chia mẫu guṇavantu (quy tắc 98–104) và ghi rằng satimantu cùng các từ -mantu biến cách y như vậy:

CáchSố ítSố nhiều
1. Chủ cáchguṇavāguṇavanto, guṇavantā
Hô cáchguṇavaṃ, guṇava, guṇavāguṇavanto, guṇavantā
2. Đối cáchguṇavantaṃguṇavante
3. Sở dụngguṇavatā, guṇavantenaguṇavantehi
4, 6guṇavato, guṇavantassaguṇavataṃ, guṇavantānaṃ
5. Xuất xứguṇavatā, guṇavantā, guṇavantasmāguṇavantehi
7. Định sởguṇavati, guṇavante, guṇavantasmiṃguṇavantesu

Có hai bộ dạng song song: bộ ngắn (guṇavatā, guṇavato, guṇavati) và bộ dài (guṇavantena, guṇavantassa, guṇavantasmiṃ). Giống cái là guṇavatī hoặc guṇavantī; giống trung là guṇavaṃ. Với -mant: satimā, satimatī, satimaṃ.

3. Biến cách của -in (-ī)

Padarūpasiddhi lấy daṇḍī (người cầm gậy) làm mẫu giống đực tận cùng -ī (quy tắc 150–154):

CáchSố ítSố nhiều
1daṇḍīdaṇḍī, daṇḍino
2daṇḍinaṃ, daṇḍiṃdaṇḍī, daṇḍino
3daṇḍinādaṇḍīhi
4, 6daṇḍino, daṇḍissadaṇḍīnaṃ
7daṇḍini, daṇḍismiṃ, daṇḍimhidaṇḍīsu

Giống cái thêm -nī: daṇḍinī, medhāvinī, tapassinī. Padarūpasiddhi cũng kể hatthī trong danh sách: con voi là “con có vòi” (hattha, tay, vòi).

4. Tám câu kinh

Câu 1: Ba từ trong một câu

“Tena kho pana samayena āyasmā ānando bhagavato piṭṭhito ṭhito hoti bhagavantaṃ bījayamāno.” (Dīghanikāya 16, dn16:1.4.1)

“Lúc bấy giờ, Tôn giả Ānanda đứng sau lưng Đức Thế Tôn, quạt cho Đức Thế Tôn.”

Āyasmā (chủ cách, -mant), bhagavato (cách 6, dạng ngắn), bhagavantaṃ (đối cách). Một câu có ba dạng của nhóm này.

Câu 2: Bhagavato trong lời đảnh lễ

“Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa” (Majjhimanikāya 27, mn27:8.2)

“Kính lễ Đức Thế Tôn ấy, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác.”

Bhagavato là cách 4 (namo đi với cách 4). Arahato có cùng đuôi -ato nhưng là phân từ hiện tại arahant, có cách biến cách rất gần nhóm -vant, nên dễ nhầm nếu chỉ nhìn đuôi.

Câu 3: -in và -mant trong Kinh Niệm Xứ

“Idha, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ” (Majjhimanikāya 10, mn10:3.2)

“Này các tỳ-kheo, ở đây, tỳ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, có niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.”

Ātāpī (ātāpa + -in) và satimā (sati + -mant) đứng cạnh nhau, đều chủ cách số ít, bổ nghĩa cho bhikkhu. Kāyānupassī cũng có đuôi -ī, nhưng được tạo trực tiếp từ động từ anupassati (quán sát) bằng hậu tố kita, không phải theo nghĩa tadassatthi; đuôi giống nhau, cách tạo từ khác nhau.

Câu 4: Sīlavā và -āvī

“Idha, subhūti, bhikkhu sīlavā hoti, pātimokkhasaṃvarasaṃvuto viharati ācāragocarasampanno aṇumattesu vajjesu bhayadassāvī, samādāya sikkhati sikkhāpadesu.” (Aṅguttaranikāya 11.14, an11.14:4.1)

“Này Subhūti, ở đây tỳ-kheo có giới, sống phòng hộ theo giới bổn, đầy đủ oai nghi và chỗ lui tới, thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ trì và học tập các học giới.”

Sīlavā theo -vant; bhayadassāvī (“người thấy sợ hãi”) có đuôi -āvī.

Câu 5: Cách 6 dạng ngắn -vato, -mato

“Uṭṭhānavato satīmato, sucikammassa nisammakārino” (Dhammapada 24)

“Người nỗ lực, có chánh niệm, việc làm trong sạch, hành động có cân nhắc …”

Uṭṭhānavato và satīmato là cách 6 dạng ngắn (-vato, -mato), cùng với nisammakārino (cách 6 của từ đuôi -ī). Câu kệ kết: “danh tiếng của người ấy tăng trưởng”. Bản Pāli này viết satīmato với ī dài.

Câu 6: -vī trong câu kệ

“Dīpaṃ kayirātha medhāvī, yaṃ ogho nābhikīrati” (Dhammapada 25)

“Người có trí hãy tự làm hòn đảo cho mình, nơi nước lũ không thể nhận chìm.”

Medhāvī chính là ví dụ đầu tiên của Kaccāyana quy tắc 364 và Padarūpasiddhi quy tắc 398 cho hậu tố vī.

Câu 7: Puttimā, gomā, pāpimā

“Nandati puttehi puttimā, (iti māro pāpimā) Gomā gohi tatheva nandati” (Suttanipāta 1.2, snp1.2:16.1–16.3)

“Người có con vui vì con, (Ác ma Māra nói vậy), người có bò cũng vui vì bò như thế.”

Ba từ -mant trong hai dòng: puttimā (có con), pāpimā (kẻ ác, “có điều ác”, danh hiệu của Māra), gomā (có bò, cũng được Padarūpasiddhi nêu). Lưu ý putta và pāpa tận cùng -a mà vẫn nhận dạng -imant, nên quy tắc “-a nhận -vant” ở mục 1 chỉ là xu hướng chung, không tuyệt đối.

Câu 8: Đối cách -in

“Jhāyiṃ virajamāsīnaṃ, katakiccamanāsavaṃ” (Dhammapada 386)

“Người tu thiền, sống không cấu nhiễm, đã làm xong việc cần làm, không còn lậu hoặc …”

Jhāyiṃ là đối cách số ít của jhāyin, đúng dạng daṇḍiṃ trong bảng ở mục 3.

Năm từ Pāli cần nhớ

Từ PāliCấu tạoNghĩa
bhagavābhaga + vantĐức Thế Tôn
āyasmāāyu + mantTôn giả
satimāsati + mantcó niệm
ātāpīātāpa + incó nhiệt tâm
medhāvīmedhā + vīngười có trí

Một điểm dễ hiểu sai

Thấy bhagavā hay satimā tận cùng bằng -ā, người mới học dễ cho là danh từ giống cái như kaññā. Thật ra đây là chủ cách số ít giống đực của thân từ -vant / -mant (Padarūpasiddhi quy tắc 98: ntu cùng vĩ tố thành ā ở chủ cách số ít). Các dạng khác lộ rõ thân từ: bhagavantaṃ, bhagavato, bhagavati. Tương tự, ātāpī không phải giống cái; giống cái của nó mới có -nī.

Ứng dụng khi đọc kinh

  • Tách gốc để đoán nghĩa: gặp từ lạ đuôi -vā, -mā, -ī, bỏ hậu tố đi để tìm danh từ gốc: paññavā → paññā, cakkhumā → cakkhu, jhāyī → jhāna / jhāyati.
  • Nhận ra dạng ngắn -vato, -mato: trong kệ, bộ dạng ngắn rất thường gặp; đừng nhầm với một gốc khác.
  • Đặt vào hệ thống taddhita: xem toàn cảnh các hậu tố phái sinh ở bài Taddhita – Hậu Tố Phái Sinh, và cách tính từ hợp giống, số, cách ở bài Tính Từ Trong Pāli.
  • So với phân từ hiện tại: arahant và các phân từ -ant biến cách như -vant; ôn ở bài Phân Từ Pāli.

Ba câu hỏi ôn tập

  1. Vì sao là sīlavā nhưng lại là satimā?
  2. Āyasmā được tạo từ từ gốc nào, theo quy tắc nào?
  3. Trong ātāpī sampajāno satimā, có mấy từ thuộc nhóm “có, sở hữu”?

Đáp án: (1) Sīla tận cùng -a nên nhận -vant; sati tận cùng -i nên nhận -mant. (2) Từ āyu (tuổi thọ) + mantu, u thành as theo Kaccāyana quy tắc 371. (3) Hai: ātāpī và satimā; sampajāno là phân từ hiện tại.

Câu hỏi thường gặp

Bhagavā có nghĩa đen là gì?

Theo quy tắc ngữ pháp, bhagavā là “người có bhaga” (phúc phần, may mắn). Các chú giải còn đưa ra nhiều cách giải thích khác cho danh hiệu này; xem bài Chín Ân Đức Phật.

Daṇḍī và daṇḍiko khác nhau không?

Kaccāyana quy tắc 366 cho cả hai hậu tố ika và ī với cùng nghĩa “người có gậy”. Khác nhau ở biến cách: daṇḍiko theo nhóm -a như purisa, daṇḍī theo nhóm -in.

Một câu ghi nhớ

“Ātāpī sampajāno satimā”: người có nhiệt tâm, có tỉnh giác, có niệm. Học hậu tố “có” là học cách kinh mô tả phẩm chất của người tu.

Nguồn tham khảo

  1. Kaccāyanabyākaraṇa, Taddhitakappa, quy tắc 364–371, bản VRI: e0802n.nrf5.xml
  2. Padarūpasiddhi, quy tắc 98–105, 150–154 (biến cách) và 398–405 (Assatthitaddhita), bản VRI: e0805n.nrf1.xml, e0805n.nrf4.xml
  3. Dīghanikāya 16; Majjhimanikāya 10, 27: DN 16, MN 10, MN 27
  4. Aṅguttaranikāya 11.14; Suttanipāta 1.2: AN 11.14, Snp 1.2
  5. Dhammapada 24, 25, 386: Dhp 21–32, Dhp 383–423