MN 6 Kinh Ước Nguyện – Song Ngữ Pāli Việt Anh (Ākaṅkheyyasutta)

Kinh Ước Nguyện (Ākaṅkheyyasutta, MN 6) là bài kinh thứ sáu của Trung Bộ Kinh: Đức Phật nêu mười bảy điều một tỳ-khưu có thể ước muốn – từ được đồng phạm hạnh thương kính, có đủ vật dụng, cho đến bốn thiền, các quả vị Thánh, năm thắng trí và lậu tận – và với mỗi ước muốn đều chỉ một nền tảng duy nhất: viên mãn giới, an tịnh nội tâm, không bỏ phế thiền, thành tựu tuệ quán. Trang này đặt nguyên văn Pāli bản Chaṭṭha Saṅgāyana (VRI) song song với bản dịch tiếng Việt và tiếng Anh sát chữ, từng đoạn một, kèm chú thích ngữ pháp và thuật ngữ cho người học Pāli.

Hồ sơ bản văn
Tạng: Sutta Piṭaka › Majjhimanikāya › Mūlapaṇṇāsapāḷi › 1. Mūlapariyāyavagga › 6. Ākaṅkheyyasutta
Nơi thuyết: Sāvatthī, rừng Jeta, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika
Người thuyết: Đức Thế Tôn
Người nghe: chư tỳ-khưu
Bản Pāli: Chaṭṭha Saṅgāyana Tipiṭaka, Vipassana Research Institute (tipitaka.org), đoạn §64–69
Bản dịch: Theravada.blog, dịch trực tiếp từ Pāli sang Việt và Anh, văn phong sát chữ

Quy ước trình bày

  • Mỗi hàng gồm ba ô: Pāli (nền kem, in nghiêng) · Tiếng Việt · English. Trên điện thoại, ba ô tự xếp dọc theo thứ tự đó.
  • Số đoạn (§) theo bản VRI; ví dụ “MN 6 §66.3” là ý thứ ba trong đoạn 66. Bản VRI đánh số liên tục trong cả Mūlapaṇṇāsa, nên MN 6 bắt đầu từ §64.
  • Chữ nhỏ màu xám trong ngoặc vuông là dị bản do chính bản VRI ghi: sī. (Tích Lan), syā. (Thái), kaṃ. (Campuchia), pī. (PTS), ka. (bản khác).
  • …pe… là ký hiệu tỉnh lược của bản Pāli; bản dịch giữ nguyên chỗ lược, ghi “(như trên)” / “(and so on)”.
  • Dịch sát chữ: giữ trật tự và hình thái của câu Pāli, không thêm chữ diễn giải vào thân bản dịch. Phần giải thích đặt riêng trong các dòng Chú thích.

Bản văn song ngữ Pāli – Việt – Anh

Pāli (VRI)
Tiếng Việt
English

§64 – Duyên khởi và lời khuyên căn bản về giới

Evaṃ me sutaṃ – ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tôi nghe như vầy – một thời, Đức Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại rừng Jeta, trong khu vườn của ông Anāthapiṇḍika.
Thus have I heard – on one occasion the Blessed One was dwelling at Sāvatthī, in Jeta’s Grove, in Anāthapiṇḍika’s park.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi – ‘‘bhikkhavo’’ti. ‘‘Bhadante’’ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṃ. Bhagavā etadavoca –
Tại đấy, Đức Thế Tôn gọi các tỳ-khưu: “Này các tỳ-khưu.” – “Bạch Thế Tôn”, các tỳ-khưu ấy đáp lại Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn nói điều này:
There the Blessed One addressed the bhikkhus: “Bhikkhus.” – “Venerable sir,” those bhikkhus replied to the Blessed One. The Blessed One said this:
‘‘Sampannasīlā, bhikkhave, viharatha sampannapātimokkhā; pātimokkhasaṃvarasaṃvutā viharatha ācāragocarasampannā aṇumattesu vajjesu bhayadassāvino; samādāya sikkhatha sikkhāpadesu.
“Này các tỳ-khưu, hãy sống đầy đủ giới, đầy đủ giới bổn; hãy sống được phòng hộ với sự phòng hộ của giới bổn, đầy đủ oai nghi và hành xứ, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt; sau khi thọ trì, hãy học tập trong các học giới.
“Bhikkhus, dwell possessed of virtue, possessed of the Pātimokkha; dwell restrained by the restraint of the Pātimokkha, possessed of conduct and resort, seeing danger in the slightest faults; having undertaken them, train in the training rules.
Chú thích: Bhadante là hô cách tôn kính, ở đây các tỳ-khưu thưa với Đức Phật nên dịch “Bạch Thế Tôn”. Sampannasīlā … viharatha: mệnh lệnh cách ngôi 2 số nhiều; sampanna (quá khứ phân từ của sampajjati) là “đầy đủ, thành tựu”. Pātimokkha để nguyên trong tiếng Anh, tiếng Việt dịch “giới bổn”. ācāragocara: ācāra là oai nghi, cách hành xử đúng mực; gocara nghĩa gốc là “bãi cỏ chăn bò”, tức nơi lui tới thích hợp (hành xứ) – Chú giải giải thích chi tiết hai từ này theo phần giới của Thanh Tịnh Đạo. bhayadassāvin: “người thấy sự đáng sợ”. Đoạn này là “đề mục” (uddesa) sẽ được nhắc lại nguyên văn ở cuối kinh (§69).

§65 – Được thương kính, được vật dụng, và lợi ích cho người khác

‘‘Ākaṅkheyya ce, bhikkhave, bhikkhu – ‘sabrahmacārīnaṃ piyo ca assaṃ manāpo ca garu ca bhāvanīyo cā’ti [manāpo garubhāvaniyo cāti (sī.)], sīlesvevassa paripūrakārī ajjhattaṃ cetosamathamanuyutto anirākatajjhāno vipassanāya samannāgato brūhetā suññāgārānaṃ.
“Này các tỳ-khưu, nếu tỳ-khưu ước muốn: ‘Mong rằng ta được các vị đồng phạm hạnh thương mến, ưa thích, kính trọng và tôn quý’, thì vị ấy hãy là người làm viên mãn các giới, chuyên chú vào sự an tịnh của tâm ở nội tâm, không bỏ phế thiền, thành tựu tuệ quán, là người làm tăng trưởng các ngôi nhà trống.
“If, bhikkhus, a bhikkhu should wish: ‘May I be dear to my companions in the holy life, agreeable, respected and esteemed’, let him be one who fulfils the virtues, devoted to internal serenity of mind, not neglecting jhāna, endowed with insight, an augmenter of empty huts.
Chú thích: Ākaṅkheyya: khả năng cách (optative) ngôi 3 số ít của ākaṅkhati (“mong cầu, ước muốn”); tên kinh lấy từ chữ mở đầu điệp khúc này. assaṃ: khả năng cách ngôi 1 số ít của atthi (“mong ta là”), còn sīlesvevassa = sīlesu eva assa, với assa ngôi 3 (“vị ấy nên là”). anirākatajjhāno: a-nirākata (quá khứ phân từ của nirākaroti, “gạt bỏ”) + jhāna – “người không bỏ phế thiền”. brūhetā: danh từ tác nhân của brūheti (“làm tăng trưởng”), đi với sở thuộc cách số nhiều suññāgārānaṃ. Theo Chú giải, “an tịnh của tâm” chỉ định (samatha), “tuệ quán” chỉ minh sát (vipassanā), và “làm tăng trưởng các ngôi nhà trống” là thường xuyên sống nơi thanh vắng để tu tập hai pháp ấy. Dị bản sī.: manāpo garubhāvaniyo cāti.
‘‘Ākaṅkheyya ce, bhikkhave, bhikkhu – ‘lābhī assaṃ cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārāna’nti, sīlesvevassa paripūrakārī ajjhattaṃ cetosamathamanuyutto anirākatajjhāno vipassanāya samannāgato brūhetā suññāgārānaṃ.
“Này các tỳ-khưu, nếu tỳ-khưu ước muốn: ‘Mong ta là người nhận được y, đồ ăn khất thực, sàng tọa và dược phẩm trị bệnh – vật dụng hỗ trợ người bệnh’, thì vị ấy hãy là người làm viên mãn các giới, chuyên chú vào sự an tịnh của tâm ở nội tâm, không bỏ phế thiền, thành tựu tuệ quán, là người làm tăng trưởng các ngôi nhà trống.
“If, bhikkhus, a bhikkhu should wish: ‘May I be a gainer of robes, almsfood, lodging and medicinal requisites as support for the sick’, let him be one who fulfils the virtues, devoted to internal serenity of mind, not neglecting jhāna, endowed with insight, an augmenter of empty huts.
‘‘Ākaṅkheyya ce, bhikkhave, bhikkhu – ‘yesāhaṃ cīvarapiṇḍapātasenāsana gilānappaccayabhesajjaparikkhāraṃ paribhuñjāmi tesaṃ te kārā mahapphalā assu mahānisaṃsā’ti, sīlesvevassa paripūrakārī ajjhattaṃ cetosamathamanuyutto anirākatajjhāno vipassanāya samannāgato brūhetā suññāgārānaṃ.
“Này các tỳ-khưu, nếu tỳ-khưu ước muốn: ‘Những ai mà ta thọ dụng y, đồ ăn khất thực, sàng tọa và dược phẩm trị bệnh của họ, mong rằng những việc làm ấy của họ có quả lớn, có lợi ích lớn’, thì vị ấy hãy là người làm viên mãn các giới, chuyên chú vào sự an tịnh của tâm ở nội tâm, không bỏ phế thiền, thành tựu tuệ quán, là người làm tăng trưởng các ngôi nhà trống.
“If, bhikkhus, a bhikkhu should wish: ‘Of those whose robes, almsfood, lodging and medicinal requisites I use, may those services of theirs be of great fruit, of great benefit’, let him be one who fulfils the virtues, devoted to internal serenity of mind, not neglecting jhāna, endowed with insight, an augmenter of empty huts.
‘‘Ākaṅkheyya ce, bhikkhave, bhikkhu – ‘ye maṃ [ye me (sī. syā.)] ñātī sālohitā petā kālaṅkatā [kālakatā (sī. syā. pī.)] pasannacittā anussaranti tesaṃ taṃ mahapphalaṃ assa mahānisaṃsa’nti, sīlesvevassa paripūrakārī ajjhattaṃ cetosamathamanuyutto anirākatajjhāno vipassanāya samannāgato brūhetā suññāgārānaṃ.
“Này các tỳ-khưu, nếu tỳ-khưu ước muốn: ‘Những bà con, những người cùng huyết thống đã qua đời, đã mệnh chung, với tâm tịnh tín tưởng nhớ đến ta, mong rằng điều ấy của họ có quả lớn, có lợi ích lớn’, thì vị ấy hãy là người làm viên mãn các giới, chuyên chú vào sự an tịnh của tâm ở nội tâm, không bỏ phế thiền, thành tựu tuệ quán, là người làm tăng trưởng các ngôi nhà trống.
“If, bhikkhus, a bhikkhu should wish: ‘Those kinsmen and blood relatives, departed and dead, who remember me with a confident mind – for them may that be of great fruit, of great benefit’, let him be one who fulfils the virtues, devoted to internal serenity of mind, not neglecting jhāna, endowed with insight, an augmenter of empty huts.
Chú thích: kārā (§65.3): số nhiều của kāra, “việc làm, sự phục vụ”, ở đây là việc dâng cúng vật dụng; assu là khả năng cách ngôi 3 số nhiều của atthi. petā kālaṅkatā: peta (từ pa + i, “đã đi qua”) nghĩa là người đã khuất, không nhất thiết chỉ loài ngạ quỷ. Dị bản: ye me (sī. syā.) cho ye maṃ; kālakatā (sī. syā. pī.) cho kālaṅkatā. Chuỗi bốn ước muốn ở §65 đi từ lợi ích cho bản thân đến lợi ích cho thí chủ và thân quyến đã khuất – tất cả đều dựa trên cùng một nền tảng: giới, định và tuệ quán.

§66 – Chế ngự bất lạc và sợ hãi; bốn thiền và các giải thoát vô sắc

‘‘Ākaṅkheyya ce, bhikkhave, bhikkhu – ‘aratiratisaho assaṃ, na ca maṃ arati saheyya, uppannaṃ aratiṃ abhibhuyya abhibhuyya vihareyya’nti, sīlesvevassa paripūrakārī…pe… brūhetā suññāgārānaṃ.
“Này các tỳ-khưu, nếu tỳ-khưu ước muốn: ‘Mong ta là người khắc phục được bất lạc và lạc, và mong bất lạc không khắc phục được ta; mong ta sống sau khi đã chế ngự, đã chế ngự bất lạc đã sanh’, thì vị ấy hãy là người làm viên mãn các giới… (như trên)… là người làm tăng trưởng các ngôi nhà trống.
“If, bhikkhus, a bhikkhu should wish: ‘May I be one who overcomes discontent and delight, and may discontent not overcome me; may I dwell having mastered, having mastered discontent whenever it has arisen’, let him be one who fulfils the virtues… (and so on)… an augmenter of empty huts.
‘‘Ākaṅkheyya ce, bhikkhave, bhikkhu – ‘bhayabheravasaho assaṃ, na ca maṃ bhayabheravaṃ saheyya, uppannaṃ bhayabheravaṃ abhibhuyya abhibhuyya vihareyya’nti, sīlesvevassa paripūrakārī… pe… brūhetā suññāgārānaṃ.
“Này các tỳ-khưu, nếu tỳ-khưu ước muốn: ‘Mong ta là người khắc phục được sợ hãi khiếp đảm, và mong sợ hãi khiếp đảm không khắc phục được ta; mong ta sống sau khi đã chế ngự, đã chế ngự sợ hãi khiếp đảm đã sanh’, thì vị ấy hãy là người làm viên mãn các giới… (như trên)… là người làm tăng trưởng các ngôi nhà trống.
“If, bhikkhus, a bhikkhu should wish: ‘May I be one who overcomes fear and dread, and may fear and dread not overcome me; may I dwell having mastered, having mastered fear and dread whenever it has arisen’, let him be one who fulfils the virtues… (and so on)… an augmenter of empty huts.
Chú thích: aratiratisaho: hợp từ arati + rati + saha (“chịu đựng, khắc phục”, từ gốc sah); saheyya là khả năng cách ngôi 3 số ít của cùng động từ. Theo Chú giải, arati là sự chán nản đối với trú xứ xa vắng và các thiện pháp cao thượng, còn rati là sự ưa thích năm dục. abhibhuyya abhibhuyya: bất biến quá khứ phân từ của abhibhavati lặp lại, diễn tả sự chế ngự liên tục, mỗi khi khởi lên. vihareyya’nti = vihareyyaṃ + iti (ngôi 1 số ít). bhayabherava là cùng cặp từ đã gặp trong MN 4 (Kinh Sợ Hãi Khiếp Đảm).
‘‘Ākaṅkheyya ce, bhikkhave, bhikkhu – ‘catunnaṃ jhānānaṃ ābhicetasikānaṃ diṭṭhadhammasukhavihārānaṃ nikāmalābhī assaṃ akicchalābhī akasiralābhī’ti, sīlesvevassa paripūrakārī…pe… brūhetā suññāgārānaṃ.
“Này các tỳ-khưu, nếu tỳ-khưu ước muốn: ‘Mong ta là người đạt được tùy ý, đạt được không khó khăn, đạt được không mệt nhọc bốn thiền, thuộc tăng thượng tâm, là những sự an trú lạc ngay trong hiện tại’, thì vị ấy hãy là người làm viên mãn các giới… (như trên)… là người làm tăng trưởng các ngôi nhà trống.
“If, bhikkhus, a bhikkhu should wish: ‘May I be one who gains at will, without trouble, without difficulty, the four jhānas, which pertain to the higher mind and are pleasant dwellings in this very life’, let him be one who fulfils the virtues… (and so on)… an augmenter of empty huts.
‘‘Ākaṅkheyya ce, bhikkhave, bhikkhu – ‘ye te santā vimokkhā atikkamma rūpe āruppā, te kāyena phusitvā vihareyya’nti, sīlesvevassa paripūrakārī…pe… brūhetā suññāgārānaṃ.
“Này các tỳ-khưu, nếu tỳ-khưu ước muốn: ‘Những giải thoát an tịnh, vô sắc, vượt qua các sắc – mong ta sống sau khi đã xúc chạm chúng bằng thân’, thì vị ấy hãy là người làm viên mãn các giới… (như trên)… là người làm tăng trưởng các ngôi nhà trống.
“If, bhikkhus, a bhikkhu should wish: ‘Those liberations that are peaceful and formless, transcending forms – may I dwell having touched them with the body’, let him be one who fulfils the virtues… (and so on)… an augmenter of empty huts.
Chú thích: ābhicetasika: “thuộc về tâm cao thượng” (abhi + cetas); diṭṭhadhammasukhavihāra: “sự an trú lạc trong pháp hiện tại”. nikāmalābhī akicchalābhī akasiralābhī: ba hợp từ đồng nghĩa nhấn mạnh sự thuần thục. kāyena phusitvā: theo Chú giải, “thân” ở đây là danh thân (nāmakāya), tức chứng nghiệm trực tiếp chứ không phải thân vật chất; āruppā chỉ bốn thiền vô sắc.

§67 – Ba quả vị: Dự lưu, Nhất lai, Bất lai

‘‘Ākaṅkheyya ce, bhikkhave, bhikkhu – ‘tiṇṇaṃ saṃyojanānaṃ parikkhayā sotāpanno assaṃ avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo’ti, sīlesvevassa paripūrakārī…pe… brūhetā suññāgārānaṃ.
“Này các tỳ-khưu, nếu tỳ-khưu ước muốn: ‘Mong ta, do sự đoạn tận ba kiết sử, là bậc Dự lưu, không còn bị đọa vào khổ xứ, chắc chắn, hướng đến giác ngộ’, thì vị ấy hãy là người làm viên mãn các giới… (như trên)… là người làm tăng trưởng các ngôi nhà trống.
“If, bhikkhus, a bhikkhu should wish: ‘May I, with the utter destruction of three fetters, be a stream-enterer, not subject to the nether world, fixed in destiny, bound for full awakening’, let him be one who fulfils the virtues… (and so on)… an augmenter of empty huts.
‘‘Ākaṅkheyya ce, bhikkhave, bhikkhu – ‘tiṇṇaṃ saṃyojanānaṃ parikkhayā rāgadosamohānaṃ tanuttā sakadāgāmī assaṃ sakideva imaṃ lokaṃ āgantvā dukkhassantaṃ kareyya’nti, sīlesvevassa paripūrakārī…pe… brūhetā suññāgārānaṃ.
“Này các tỳ-khưu, nếu tỳ-khưu ước muốn: ‘Mong ta, do sự đoạn tận ba kiết sử, do tham sân si được giảm mỏng, là bậc Nhất lai, sau khi trở lại đời này chỉ một lần, sẽ làm nên sự tận cùng của khổ’, thì vị ấy hãy là người làm viên mãn các giới… (như trên)… là người làm tăng trưởng các ngôi nhà trống.
“If, bhikkhus, a bhikkhu should wish: ‘May I, with the utter destruction of three fetters and with the attenuation of lust, hatred and delusion, be a once-returner, and, having come back to this world only once, make an end of suffering’, let him be one who fulfils the virtues… (and so on)… an augmenter of empty huts.
‘‘Ākaṅkheyya ce, bhikkhave, bhikkhu – ‘pañcannaṃ orambhāgiyānaṃ saṃyojanānaṃ parikkhayā opapātiko assaṃ tattha parinibbāyī anāvattidhammo tasmā lokā’ti, sīlesvevassa paripūrakārī…pe… brūhetā suññāgārānaṃ.
“Này các tỳ-khưu, nếu tỳ-khưu ước muốn: ‘Mong ta, do sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử, là bậc hóa sanh, nhập Niết-bàn tại đấy, không còn trở lại từ thế giới ấy’, thì vị ấy hãy là người làm viên mãn các giới… (như trên)… là người làm tăng trưởng các ngôi nhà trống.
“If, bhikkhus, a bhikkhu should wish: ‘May I, with the utter destruction of the five lower fetters, be one of spontaneous birth, attaining final Nibbāna there, not liable to return from that world’, let him be one who fulfils the virtues… (and so on)… an augmenter of empty huts.
Chú thích: parikkhayā, tanuttā: xuất xứ cách chỉ nguyên nhân (“do sự đoạn tận”, “do tính mỏng”). avinipātadhammo: “có bản chất không đọa lạc”; sambodhiparāyaṇo: “lấy chánh giác làm cứu cánh”. orambhāgiya: “thuộc phần bên dưới” (oraṃ + bhāga). opapātika: loài hóa sanh, tức sanh ra không qua bào thai; bậc Bất lai không trở lại cõi dục mà nhập Niết-bàn ngay tại cõi đã sanh.

§68 – Năm thắng trí: thần thông, thiên nhĩ, tha tâm, túc mạng, thiên nhãn

‘‘Ākaṅkheyya ce, bhikkhave, bhikkhu – ‘anekavihitaṃ iddhividhaṃ paccanubhaveyyaṃ – ekopi hutvā bahudhā assaṃ, bahudhāpi hutvā eko assaṃ; āvibhāvaṃ tirobhāvaṃ; tirokuṭṭaṃ tiropākāraṃ tiropabbataṃ asajjamāno gaccheyyaṃ, seyyathāpi ākāse; pathaviyāpi ummujjanimujjaṃ kareyyaṃ, seyyathāpi udake; udakepi abhijjamāne gaccheyyaṃ, seyyathāpi pathaviyaṃ; ākāsepi pallaṅkena kameyyaṃ, seyyathāpi pakkhī sakuṇo; imepi candimasūriye evaṃmahiddhike evaṃmahānubhāve pāṇinā parāmaseyyaṃ parimajjeyyaṃ; yāva brahmalokāpi kāyena vasaṃ vatteyya’nti, sīlesvevassa paripūrakārī…pe… brūhetā suññāgārānaṃ.
“Này các tỳ-khưu, nếu tỳ-khưu ước muốn: ‘Mong ta chứng nghiệm các loại thần thông nhiều cách – dù là một, mong ta thành nhiều; dù là nhiều, mong ta thành một; hiện hình, ẩn hình; mong ta đi xuyên qua vách, xuyên qua thành, xuyên qua núi mà không bị vướng ngại, như đi trong hư không; mong ta trồi lên lặn xuống trong đất, như trong nước; mong ta đi trên nước mà nước không vỡ, như trên đất; mong ta ngồi kiết-già mà đi trong hư không, như con chim có cánh; mong ta dùng bàn tay sờ chạm, vuốt ve mặt trăng và mặt trời này, có đại thần lực như vậy, có đại uy lực như vậy; mong ta dùng thân mà làm chủ cho đến tận cõi Phạm thiên’, thì vị ấy hãy là người làm viên mãn các giới… (như trên)… là người làm tăng trưởng các ngôi nhà trống.
“If, bhikkhus, a bhikkhu should wish: ‘May I experience the various kinds of supernormal power – having been one, may I become many; having been many, may I become one; appearing and vanishing; may I go unhindered through a wall, through a rampart, through a mountain, as though through space; may I dive in and out of the earth, as though in water; may I go on water without its breaking, as though on earth; may I travel cross-legged through space, like a winged bird; with my hand may I touch and stroke this moon and sun, so mighty, so powerful; may I exercise mastery with the body as far as the Brahma-world’, let him be one who fulfils the virtues… (and so on)… an augmenter of empty huts.
‘‘Ākaṅkheyya ce, bhikkhave, bhikkhu – ‘dibbāya sotadhātuyā visuddhāya atikkantamānusikāya ubho sadde suṇeyyaṃ – dibbe ca mānuse ca ye dūre santike cā’ti, sīlesvevassa paripūrakārī…pe… brūhetā suññāgārānaṃ.
“Này các tỳ-khưu, nếu tỳ-khưu ước muốn: ‘Với thiên nhĩ giới thanh tịnh, vượt quá loài người, mong ta nghe cả hai loại tiếng – tiếng chư thiên và tiếng loài người, những tiếng ở xa và ở gần’, thì vị ấy hãy là người làm viên mãn các giới… (như trên)… là người làm tăng trưởng các ngôi nhà trống.
“If, bhikkhus, a bhikkhu should wish: ‘With the divine ear-element, purified and surpassing the human, may I hear both kinds of sounds – divine and human, those that are far and near’, let him be one who fulfils the virtues… (and so on)… an augmenter of empty huts.
Chú thích: Các động từ paccanubhaveyyaṃ, gaccheyyaṃ, kareyyaṃ, kameyyaṃ, parāmaseyyaṃ, suṇeyyaṃ đều là khả năng cách ngôi 1 số ít, nên bản dịch lặp lại “mong ta …”. abhijjamāne: hiện tại phân từ thụ động phủ định ở định sở cách tuyệt đối (“trong khi [nước] không bị vỡ”). pallaṅkena: “với thế ngồi kiết-già”. vasaṃ vatteyyaṃ: “mong ta vận hành quyền lực”. Năm thắng trí ở §68 cùng với lậu tận trí ở §69 hợp thành sáu thắng trí (chaḷabhiññā).
‘‘Ākaṅkheyya ce, bhikkhave, bhikkhu – ‘parasattānaṃ parapuggalānaṃ cetasā ceto paricca pajāneyyaṃ – sarāgaṃ vā cittaṃ sarāgaṃ cittanti pajāneyyaṃ, vītarāgaṃ vā cittaṃ vītarāgaṃ cittanti pajāneyyaṃ; sadosaṃ vā cittaṃ sadosaṃ cittanti pajāneyyaṃ, vītadosaṃ vā cittaṃ vītadosaṃ cittanti pajāneyyaṃ; samohaṃ vā cittaṃ samohaṃ cittanti pajāneyyaṃ, vītamohaṃ vā cittaṃ vītamohaṃ cittanti pajāneyyaṃ; saṃkhittaṃ vā cittaṃ saṃkhittaṃ cittanti pajāneyyaṃ, vikkhittaṃ vā cittaṃ vikkhittaṃ cittanti pajāneyyaṃ; mahaggataṃ vā cittaṃ mahaggataṃ cittanti pajāneyyaṃ, amahaggataṃ vā cittaṃ amahaggataṃ cittanti pajāneyyaṃ; sauttaraṃ vā cittaṃ sauttaraṃ cittanti pajāneyyaṃ, anuttaraṃ vā cittaṃ anuttaraṃ cittanti pajāneyyaṃ; samāhitaṃ vā cittaṃ samāhitaṃ cittanti pajāneyyaṃ, asamāhitaṃ vā cittaṃ asamāhitaṃ cittanti pajāneyyaṃ; vimuttaṃ vā cittaṃ vimuttaṃ cittanti pajāneyyaṃ, avimuttaṃ vā cittaṃ avimuttaṃ cittanti pajāneyya’nti, sīlesvevassa paripūrakārī… pe… brūhetā suññāgārānaṃ.
“Này các tỳ-khưu, nếu tỳ-khưu ước muốn: ‘Mong ta, sau khi dùng tâm mình bao quát tâm của các chúng sanh khác, của những người khác, mà biết rõ – tâm có tham, mong ta biết rõ là “tâm có tham”; tâm ly tham, mong ta biết rõ là “tâm ly tham”; tâm có sân, mong ta biết rõ là “tâm có sân”; tâm ly sân, mong ta biết rõ là “tâm ly sân”; tâm có si, mong ta biết rõ là “tâm có si”; tâm ly si, mong ta biết rõ là “tâm ly si”; tâm thâu hẹp, mong ta biết rõ là “tâm thâu hẹp”; tâm tán loạn, mong ta biết rõ là “tâm tán loạn”; tâm đại hành, mong ta biết rõ là “tâm đại hành”; tâm không đại hành, mong ta biết rõ là “tâm không đại hành”; tâm hữu thượng, mong ta biết rõ là “tâm hữu thượng”; tâm vô thượng, mong ta biết rõ là “tâm vô thượng”; tâm định, mong ta biết rõ là “tâm định”; tâm không định, mong ta biết rõ là “tâm không định”; tâm giải thoát, mong ta biết rõ là “tâm giải thoát”; tâm không giải thoát, mong ta biết rõ là “tâm không giải thoát”’, thì vị ấy hãy là người làm viên mãn các giới… (như trên)… là người làm tăng trưởng các ngôi nhà trống.
“If, bhikkhus, a bhikkhu should wish: ‘May I understand the minds of other beings, of other persons, having encompassed them with my own mind – a mind with lust, may I understand as “a mind with lust”; a mind without lust, may I understand as “a mind without lust”; a mind with hatred, may I understand as “a mind with hatred”; a mind without hatred, may I understand as “a mind without hatred”; a mind with delusion, may I understand as “a mind with delusion”; a mind without delusion, may I understand as “a mind without delusion”; a contracted mind, may I understand as “a contracted mind”; a distracted mind, may I understand as “a distracted mind”; an exalted mind, may I understand as “an exalted mind”; an unexalted mind, may I understand as “an unexalted mind”; a surpassable mind, may I understand as “a surpassable mind”; an unsurpassable mind, may I understand as “an unsurpassable mind”; a concentrated mind, may I understand as “a concentrated mind”; an unconcentrated mind, may I understand as “an unconcentrated mind”; a liberated mind, may I understand as “a liberated mind”; an unliberated mind, may I understand as “an unliberated mind”’, let him be one who fulfils the virtues… (and so on)… an augmenter of empty huts.
‘‘Ākaṅkheyya ce, bhikkhave, bhikkhu – ‘anekavihitaṃ pubbenivāsaṃ anussareyyaṃ, seyyathidaṃ – ekampi jātiṃ dvepi jātiyo tissopi jātiyo catassopi jātiyo pañcapi jātiyo dasapi jātiyo vīsampi jātiyo tiṃsampi jātiyo cattālīsampi jātiyo paññāsampi jātiyo jātisatampi jātisahassampi jāti satasahassampi anekepi saṃvaṭṭakappe anekepi vivaṭṭakappe anekepi saṃvaṭṭavivaṭṭakappe – amutrāsiṃ evaṃnāmo evaṃgotto evaṃvaṇṇo evamāhāro evaṃsukhadukkhappaṭisaṃvedī evamāyupariyanto, so tato cuto amutra udapādiṃ; tatrāpāsiṃ evaṃnāmo evaṃgotto evaṃvaṇṇo evamāhāro evaṃsukhadukkhappaṭisaṃvedī evamāyupariyanto, so tato cuto idhūpapannoti. Iti sākāraṃ sauddesaṃ anekavihitaṃ pubbenivāsaṃ anussareyya’nti, sīlesvevassa paripūrakārī…pe… brūhetā suññāgārānaṃ.
“Này các tỳ-khưu, nếu tỳ-khưu ước muốn: ‘Mong ta nhớ lại các đời sống quá khứ nhiều loại khác nhau, tức là một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một nghìn đời, một trăm nghìn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp – “Ở chỗ kia, ta có tên như vầy, dòng họ như vầy, dung sắc như vầy, thức ăn như vầy, cảm thọ lạc khổ như vầy, tuổi thọ đến mức như vầy; ta ấy, sau khi chết từ chỗ ấy, đã sanh ra ở chỗ kia; tại đấy ta cũng có tên như vầy, dòng họ như vầy, dung sắc như vầy, thức ăn như vầy, cảm thọ lạc khổ như vầy, tuổi thọ đến mức như vầy; ta ấy, sau khi chết từ chỗ ấy, đã sanh ra ở đây.” Như vậy, mong ta nhớ lại các đời sống quá khứ nhiều loại khác nhau cùng với các đặc điểm và chi tiết’, thì vị ấy hãy là người làm viên mãn các giới… (như trên)… là người làm tăng trưởng các ngôi nhà trống.
“If, bhikkhus, a bhikkhu should wish: ‘May I recollect my manifold past lives, that is, one birth, two births, three births, four births, five births, ten births, twenty births, thirty births, forty births, fifty births, a hundred births, a thousand births, a hundred thousand births, many aeons of contraction, many aeons of expansion, many aeons of contraction and expansion – “There I was so named, of such a clan, with such an appearance, such was my food, such my experience of pleasure and pain, such the end of my life-span; passing away from there, I arose elsewhere; and there too I was so named, of such a clan, with such an appearance, such was my food, such my experience of pleasure and pain, such the end of my life-span; passing away from there, I arose here.” Thus may I recollect my manifold past lives with their aspects and particulars’, let him be one who fulfils the virtues… (and so on)… an augmenter of empty huts.
‘‘Ākaṅkheyya ce, bhikkhave, bhikkhu – ‘dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passeyyaṃ cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate yathākammūpage satte pajāneyyaṃ – ime vata bhonto sattā kāyaduccaritena samannāgatā vacīduccaritena samannāgatā manoduccaritena samannāgatā ariyānaṃ upavādakā micchādiṭṭhikā micchādiṭṭhikammasamādānā, te kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapannā; ime vā pana bhonto sattā kāyasucaritena samannāgatā vacīsucaritena samannāgatā manosucaritena samannāgatā ariyānaṃ anupavādakā sammādiṭṭhikā sammādiṭṭhikammasamādānā, te kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapannāti, iti dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passeyyaṃ cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate yathākammūpage satte pajāneyya’nti, sīlesvevassa paripūrakārī ajjhattaṃ cetosamathamanuyutto anirākatajjhāno vipassanāya samannāgato brūhetā suññāgārānaṃ.
“Này các tỳ-khưu, nếu tỳ-khưu ước muốn: ‘Với thiên nhãn thanh tịnh, vượt quá loài người, mong ta thấy các chúng sanh đang chết, đang sanh, hạ liệt, thù thắng, đẹp đẽ, xấu xí, may mắn, bất hạnh; mong ta biết rõ các chúng sanh đi theo nghiệp của mình – “Thật vậy, các chúng sanh đáng kính này thành tựu ác hạnh về thân, thành tựu ác hạnh về lời, thành tựu ác hạnh về ý, phỉ báng các bậc Thánh, có tà kiến, chấp nhận nghiệp do tà kiến; những vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, đã sanh vào khổ xứ, ác thú, đọa xứ, địa ngục; còn các chúng sanh đáng kính này thành tựu thiện hạnh về thân, thành tựu thiện hạnh về lời, thành tựu thiện hạnh về ý, không phỉ báng các bậc Thánh, có chánh kiến, chấp nhận nghiệp do chánh kiến; những vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, đã sanh vào thiện thú, thiên giới.” Như vậy, với thiên nhãn thanh tịnh, vượt quá loài người, mong ta thấy các chúng sanh đang chết, đang sanh, hạ liệt, thù thắng, đẹp đẽ, xấu xí, may mắn, bất hạnh; mong ta biết rõ các chúng sanh đi theo nghiệp của mình’, thì vị ấy hãy là người làm viên mãn các giới, chuyên chú vào sự an tịnh của tâm ở nội tâm, không bỏ phế thiền, thành tựu tuệ quán, là người làm tăng trưởng các ngôi nhà trống.
“If, bhikkhus, a bhikkhu should wish: ‘With the divine eye, purified and surpassing the human, may I see beings passing away and reappearing, inferior and superior, beautiful and ugly, fortunate and unfortunate; may I understand beings as faring according to their actions – “These worthy beings, indeed, were endowed with misconduct of body, endowed with misconduct of speech, endowed with misconduct of mind, revilers of noble ones, of wrong view, undertaking actions based on wrong view; with the breakup of the body, after death, they have reappeared in a state of deprivation, a bad destination, the nether world, hell; but these worthy beings were endowed with good conduct of body, endowed with good conduct of speech, endowed with good conduct of mind, not revilers of noble ones, of right view, undertaking actions based on right view; with the breakup of the body, after death, they have reappeared in a good destination, a heavenly world.” Thus with the divine eye, purified and surpassing the human, may I see beings passing away and reappearing, inferior and superior, beautiful and ugly, fortunate and unfortunate; may I understand beings as faring according to their actions’, let him be one who fulfils the virtues, devoted to internal serenity of mind, not neglecting jhāna, endowed with insight, an augmenter of empty huts.
Chú thích: cetasā ceto paricca: paricca là bất biến quá khứ phân từ của pari + i (“bao quanh, thấu suốt”), nên dịch sát là “sau khi dùng tâm bao quát tâm”. mahaggata (“đã trở nên lớn”) chỉ tâm thuộc cõi sắc và vô sắc; sauttara (“còn có cái cao hơn”) đối với anuttara. saṃvaṭṭa / vivaṭṭa: hoại kiếp (thế giới co lại) / thành kiếp (thế giới mở ra). sākāraṃ sauddesaṃ: theo Chú giải, uddesa là tên và dòng họ, ākāra là dung sắc và các chi tiết khác. yathākammūpaga: “đi đến theo nghiệp”. bhonto: số nhiều của bhavant, cách gọi lịch sự – ở đây dịch “đáng kính”.

§69 – Lậu tận trí và lời kết

‘‘Ākaṅkheyya ce, bhikkhave, bhikkhu – ‘āsavānaṃ khayā anāsavaṃ cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ diṭṭhevadhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihareyya’nti, sīlesvevassa paripūrakārī ajjhattaṃ cetosamathamanuyutto anirākatajjhāno vipassanāya samannāgato brūhetā suññāgārānaṃ.
“Này các tỳ-khưu, nếu tỳ-khưu ước muốn: ‘Mong ta, do sự đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, sau khi tự mình thắng tri và chứng ngộ, chứng đạt và an trú tâm giải thoát, tuệ giải thoát không còn lậu hoặc’, thì vị ấy hãy là người làm viên mãn các giới, chuyên chú vào sự an tịnh của tâm ở nội tâm, không bỏ phế thiền, thành tựu tuệ quán, là người làm tăng trưởng các ngôi nhà trống.
“If, bhikkhus, a bhikkhu should wish: ‘May I, by the destruction of the taints, in this very life, having directly known and realized it for myself, enter upon and dwell in the taintless liberation of mind, liberation by wisdom’, let him be one who fulfils the virtues, devoted to internal serenity of mind, not neglecting jhāna, endowed with insight, an augmenter of empty huts.
‘‘Sampannasīlā, bhikkhave, viharatha sampannapātimokkhā; pātimokkhasaṃvarasaṃvutā viharatha ācāragocarasampannā aṇumattesu vajjesu bhayadassāvino; samādāya sikkhatha sikkhāpadesū’’ti – iti yaṃ taṃ vuttaṃ idametaṃ paṭicca vutta’’nti.
“‘Này các tỳ-khưu, hãy sống đầy đủ giới, đầy đủ giới bổn; hãy sống được phòng hộ với sự phòng hộ của giới bổn, đầy đủ oai nghi và hành xứ, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt; sau khi thọ trì, hãy học tập trong các học giới’ – điều đã được nói như vậy, chính do duyên điều này mà đã được nói.”
“‘Bhikkhus, dwell possessed of virtue, possessed of the Pātimokkha; dwell restrained by the restraint of the Pātimokkha, possessed of conduct and resort, seeing danger in the slightest faults; having undertaken them, train in the training rules’ – thus was it said, and it was said with reference to this.”
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṃ abhinandunti.
Đức Thế Tôn đã nói điều này. Hoan hỷ, các tỳ-khưu ấy hoan hỷ tín thọ lời dạy của Đức Thế Tôn.
The Blessed One said this. Satisfied, those bhikkhus delighted in the Blessed One’s words.
Chú thích: sayaṃ abhiññā: abhiññā ở đây là dạng rút gọn của bất biến quá khứ phân từ abhiññāya (“sau khi thắng tri”), không phải danh từ “thắng trí”. diṭṭhevadhamme = diṭṭhe eva dhamme (định sở cách: “ngay trong pháp hiện tại”). Công thức iti yaṃ taṃ vuttaṃ idametaṃ paṭicca vuttaṃ khép lại lối trình bày “đề mục – giải thích”: lời khuyên về giới ở §64 là đề mục, và toàn bộ chuỗi ước muốn – từ được thương kính đến lậu tận – là phần giải thích lý do của nó. Ở điệp khúc §65.1 và §68.5–69.1, bản Pāli viết đầy đủ; các chỗ khác dùng …pe….
Ākaṅkheyyasuttaṃ niṭṭhitaṃ chaṭṭhaṃ.
Dứt Kinh Ước Nguyện, kinh thứ sáu.
The Discourse on Wishes, the sixth, is finished.

Thuật ngữ then chốt trong MN 6

PāliTiếng ViệtEnglishGhi chú
ākaṅkhatiước muốn, mong cầuwishesTên kinh lấy từ ākaṅkheyya (khả năng cách) mở đầu mỗi điệp khúc.
sampannasīlađầy đủ giớipossessed of virtueĐề mục của bài kinh (§64), lặp lại ở cuối (§69).
pātimokkhasaṃvarasự phòng hộ của giới bổnrestraint of the PātimokkhaNền tảng giới của tỳ-khưu.
ācāragocaraoai nghi và hành xứconduct and resortCách hành xử và nơi lui tới thích hợp.
cetosamathasự an tịnh của tâmserenity of mindTheo Chú giải: định (samatha).
vipassanātuệ quáninsightCặp với samatha trong điệp khúc.
anirākatajjhānakhông bỏ phế thiềnnot neglecting jhānaa-nirākata: không bị gạt bỏ.
brūhetā suññāgārānaṃngười làm tăng trưởng các ngôi nhà trốngaugmenter of empty hutsSống nhiều nơi thanh vắng.
aratiratisahangười khắc phục bất lạc và lạcone who overcomes discontent and delightTheo Chú giải: chán nản thiện pháp / ưa thích năm dục.
āsavalậu hoặctaintĐoạn tận lậu hoặc là ước muốn cuối cùng (§69).
Một câu ghi nhớ: Dù ước muốn điều gì – từ được thương kính, đủ vật dụng cho đến đoạn tận lậu hoặc – câu trả lời của Đức Phật chỉ có một: hãy viên mãn giới, an tịnh nội tâm, không bỏ phế thiền, thành tựu tuệ quán và sống nhiều nơi thanh vắng.

Đọc tiếp

Nguồn tham khảo

  1. Bản Pāli: Chaṭṭha Saṅgāyana Tipiṭaka, Majjhimanikāya, Mūlapaṇṇāsapāḷi, Ākaṅkheyyasutta – Vipassana Research Institute: tipitaka.org
  2. Đối chiếu đoạn văn: SuttaCentral – MN 6
  3. Chú giải: Papañcasūdanī (Majjhimanikāya-aṭṭhakathā), phần Ākaṅkheyyasuttavaṇṇanā – bản VRI tại tipitaka.org
  4. Đối chiếu nghĩa (không trích lời dịch): HT. Thích Minh Châu; Bhikkhu Ñāṇamoli & Bhikkhu Bodhi; Bhikkhu Sujato.
Bản dịch Việt – Anh trên trang này do Theravada.blog thực hiện trực tiếp từ Pāli, theo lối sát chữ dành cho người học. Nếu quý độc giả phát hiện chỗ cần sửa, xin để lại bình luận.