MN 14 Tiểu Kinh Khổ Uẩn – Song Ngữ Pāli Việt Anh (Cūḷadukkhakkhandhasutta)

Tiểu Kinh Khổ Uẩn (Cūḷadukkhakkhandhasutta, MN 14) ghi lại câu hỏi của Mahānāma người Sakya: vì sao đã hiểu tham, sân, si là cấu uế của tâm mà đôi khi chúng vẫn chiếm cứ tâm, và câu trả lời của Đức Thế Tôn về vị ngọt, sự nguy hại của các dục cùng cuộc đối thoại với các Nigaṇṭha khổ hạnh. Bài này đặt nguyên văn Pāli bản Chaṭṭha Saṅgāyana (VRI) song song với bản dịch tiếng Việt và tiếng Anh sát chữ cho trọn kinh (§175–180), kèm chú thích ngữ pháp, thuật ngữ và dị bản cho người học Pāli.

Hồ sơ bản văn
Tạng: Sutta Piṭaka › Majjhimanikāya › Mūlapaṇṇāsapāḷi › 2. Sīhanādavagga › 14. Cūḷadukkhakkhandhasutta
Nơi thuyết: xứ Sakya, Kapilavatthu, khu vườn Nigrodha
Người thuyết: Đức Thế Tôn
Người nghe / nhân vật: Mahānāma người Sakya; các Nigaṇṭha ở Isigili, Rājagaha (được thuật lại)
Bản Pāli: Chaṭṭha Saṅgāyana Tipiṭaka, Vipassana Research Institute (tipitaka.org), đoạn §175–180
Bản dịch: Theravada.blog, dịch trực tiếp từ Pāli sang Việt và Anh, văn phong sát chữ

Quy ước trình bày

  • Mỗi hàng gồm ba ô: Pāli (nền kem, in nghiêng) · Tiếng Việt · English. Trên điện thoại, ba ô tự xếp dọc theo thứ tự đó.
  • Số đoạn (§) theo bản VRI; ví dụ “MN 14 §178.7” là ý thứ bảy trong đoạn 178. Bản VRI đánh số liên tục trong cả Mūlapaṇṇāsa, nên MN 14 gồm §175–180. Dòng căn giữa cuối bảng là câu kết kinh của chính bản Pāli.
  • Chữ nhỏ màu xám trong ngoặc vuông là dị bản do chính bản VRI ghi: sī. (Tích Lan), syā. (Thái), kaṃ. (Campuchia), pī. (PTS), ka. (bản khác).
  • Ký hiệu tỉnh lược …pe… của bản Pāli (§178, §180) được giữ nguyên; bản Việt ghi “… (như trên)…”, bản Anh “… (and so on)…”. Các đoạn lặp lại đầy đủ trong nguồn (điệp khúc “khối khổ do dục làm nhân…”, các câu hỏi lặp với các Nigaṇṭha) đều được dịch đầy đủ.
  • Dịch sát chữ: giữ trật tự và hình thái của câu Pāli, không thêm chữ diễn giải vào thân bản dịch (chữ trong ngoặc đơn ( ) ở bản Việt và ngoặc vuông [ ] ở bản Anh là phần ngầm hiểu). Phần giải thích đặt riêng trong các dòng Chú thích.

Bản văn song ngữ Pāli – Việt – Anh

Pāli (VRI)
Tiếng Việt
English

§175 – Câu hỏi của Mahānāma người Sakya

Evaṃ me sutaṃ – ekaṃ samayaṃ bhagavā sakkesu viharati kapilavatthusmiṃ nigrodhārāme.
Như vầy tôi nghe – một thời Đức Thế Tôn trú giữa dòng họ Sakya, ở Kapilavatthu, tại khu vườn Nigrodha.
Thus have I heard – on one occasion the Blessed One was dwelling among the Sakyans, at Kapilavatthu, in the Nigrodha Park.
Atha kho mahānāmo sakko yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi.
Rồi Mahānāma người Sakya đi đến chỗ Đức Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Then Mahānāma the Sakyan went to the Blessed One; having gone, having paid homage to the Blessed One, he sat down to one side.
Ekamantaṃ nisinno kho mahānāmo sakko bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘dīgharattāhaṃ, bhante, bhagavatā evaṃ dhammaṃ desitaṃ ājānāmi – ‘lobho cittassa upakkileso, doso cittassa upakkileso, moho cittassa upakkileso’ti.
Ngồi một bên, Mahānāma người Sakya thưa với Đức Thế Tôn điều này: “Đã lâu rồi, bạch Thế Tôn, con hiểu pháp được Đức Thế Tôn thuyết giảng như vầy: ‘Tham là cấu uế của tâm, sân là cấu uế của tâm, si là cấu uế của tâm.’
Seated to one side, Mahānāma the Sakyan said this to the Blessed One: “For a long time, venerable sir, I have understood the Dhamma taught by the Blessed One thus: ‘Greed is a defilement of the mind, hatred is a defilement of the mind, delusion is a defilement of the mind.’
Evañcāhaṃ [evaṃpāhaṃ (ka.)], bhante, bhagavatā dhammaṃ desitaṃ ājānāmi – ‘lobho cittassa upakkileso, doso cittassa upakkileso, moho cittassa upakkileso’ti.
Và như vậy, bạch Thế Tôn, con hiểu pháp được Đức Thế Tôn thuyết giảng: ‘Tham là cấu uế của tâm, sân là cấu uế của tâm, si là cấu uế của tâm.’
And thus, venerable sir, I understand the Dhamma taught by the Blessed One: ‘Greed is a defilement of the mind, hatred is a defilement of the mind, delusion is a defilement of the mind.’
Atha ca pana me ekadā lobhadhammāpi cittaṃ pariyādāya tiṭṭhanti, dosadhammāpi cittaṃ pariyādāya tiṭṭhanti, mohadhammāpi cittaṃ pariyādāya tiṭṭhanti.
Thế nhưng, đôi khi các pháp tham chiếm cứ tâm con mà đứng vững, các pháp sân chiếm cứ tâm mà đứng vững, các pháp si chiếm cứ tâm mà đứng vững.
And yet at times states of greed invade my mind and remain, states of hatred invade my mind and remain, states of delusion invade my mind and remain.
Tassa mayhaṃ, bhante, evaṃ hoti – ‘kosu nāma me dhammo ajjhattaṃ appahīno yena me ekadā lobhadhammāpi cittaṃ pariyādāya tiṭṭhanti, dosadhammāpi cittaṃ pariyādāya tiṭṭhanti, mohadhammāpi cittaṃ pariyādāya tiṭṭhantī’’’ti.
Bạch Thế Tôn, nơi con khởi lên ý nghĩ này: ‘Pháp nào nơi nội tâm con chưa được đoạn trừ, mà do đó đôi khi các pháp tham chiếm cứ tâm con mà đứng vững, các pháp sân chiếm cứ tâm mà đứng vững, các pháp si chiếm cứ tâm mà đứng vững?’”
Venerable sir, this occurs to me: ‘What state is there in me unabandoned internally, owing to which at times states of greed invade my mind and remain, states of hatred invade my mind and remain, states of delusion invade my mind and remain?’”
Chú thích: Upakkilesa “cấu uế, tùy phiền não” – cái làm nhiễm ô tâm, như bụi bám lên tấm vải (so sánh MN 7). Cittaṃ pariyādāya tiṭṭhanti: pariyādāya là thể bất biến (absolutive) của pariyādiyati “chiếm trọn, bao trùm”, nên sát chữ là “sau khi chiếm cứ tâm, chúng đứng (trụ) lại”. Kosu nāma = ko su nāma, nghi vấn có nhấn mạnh: “rốt cuộc là pháp nào…?”. Lobhadhammā (số nhiều): “các pháp thuộc loại tham”, tức các trạng thái tâm tham.

§176–177 – Pháp chưa đoạn trừ và hỷ lạc ly dục

‘‘So eva kho te, mahānāma, dhammo ajjhattaṃ appahīno yena te ekadā lobhadhammāpi cittaṃ pariyādāya tiṭṭhanti, dosadhammāpi cittaṃ pariyādāya tiṭṭhanti, mohadhammāpi cittaṃ pariyādāya tiṭṭhanti.
“Này Mahānāma, chính pháp ấy nơi nội tâm ông chưa được đoạn trừ, mà do đó đôi khi các pháp tham chiếm cứ tâm ông mà đứng vững, các pháp sân chiếm cứ tâm mà đứng vững, các pháp si chiếm cứ tâm mà đứng vững.
“That very state, Mahānāma, is unabandoned in you internally, owing to which at times states of greed invade your mind and remain, states of hatred invade your mind and remain, states of delusion invade your mind and remain.
So ca hi te, mahānāma, dhammo ajjhattaṃ pahīno abhavissa, na tvaṃ agāraṃ ajjhāvaseyyāsi, na kāme paribhuñjeyyāsi.
Này Mahānāma, nếu pháp ấy nơi nội tâm ông đã được đoạn trừ, thì ông đã không sống tại gia, ông đã không thọ hưởng các dục.
For if that state, Mahānāma, were abandoned in you internally, you would not live in a house, you would not enjoy sensual pleasures.
Yasmā ca kho te, mahānāma, so eva dhammo ajjhattaṃ appahīno tasmā tvaṃ agāraṃ ajjhāvasasi, kāme paribhuñjasi.
Và này Mahānāma, vì chính pháp ấy nơi nội tâm ông chưa được đoạn trừ, nên ông sống tại gia, ông thọ hưởng các dục.
But because that very state, Mahānāma, is unabandoned in you internally, therefore you live in a house, you enjoy sensual pleasures.
Chú thích: Theo Chú giải, lúc ấy Mahānāma đã là bậc Nhất lai (sakadāgāmī); ông tưởng tham, sân, si đã được đoạn trừ hết bởi đạo của mình, nên mới hỏi. Câu trả lời của Thế Tôn cho thấy các pháp ấy vẫn còn ở mức vi tế. Về ngữ pháp: abhavissa (điều kiện cách, conditional) đi với ajjhāvaseyyāsi, paribhuñjeyyāsi (khả năng cách) diễn tả giả định trái thực tế: “nếu đã… thì đã không…”.
‘‘‘Appassādā kāmā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo [bahūpāyāsā (sī. syā. pī.)] ettha bhiyyo’ti – iti cepi, mahānāma, ariyasāvakassa yathābhūtaṃ sammappaññāya sudiṭṭhaṃ hoti,
“Này Mahānāma, dù vị Thánh đệ tử đã khéo thấy như thật với chánh tuệ rằng: ‘Các dục vị ngọt ít, khổ nhiều, ưu não nhiều, sự nguy hại ở đây càng nhiều hơn’,
“Even if, Mahānāma, a noble disciple has seen well as it really is with right wisdom thus: ‘Sensual pleasures give little gratification, much suffering, much despair, and the danger in them is greater still,’
so ca [sova (ka.)] aññatreva kāmehi aññatra akusalehi dhammehi pītisukhaṃ nādhigacchati, aññaṃ vā tato santataraṃ; atha kho so neva tāva anāvaṭṭī kāmesu hoti.
nhưng vị ấy chưa chứng được hỷ và lạc tách khỏi các dục, tách khỏi các pháp bất thiện, hay một điều gì khác an tịnh hơn thế; thì vị ấy vẫn chưa phải là người không bị kéo trở lại các dục.
but he does not attain to rapture and pleasure apart from sensual pleasures, apart from unwholesome states, or to something more peaceful than that, then he is not yet one who is not drawn back to sensual pleasures.
Yato ca kho, mahānāma, ariyasāvakassa ‘appassādā kāmā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo’ti – evametaṃ yathābhūtaṃ sammappaññāya sudiṭṭhaṃ hoti, so ca aññatreva kāmehi aññatra akusalehi dhammehi pītisukhaṃ adhigacchati aññaṃ vā tato santataraṃ; atha kho so anāvaṭṭī kāmesu hoti.
Này Mahānāma, khi nào vị Thánh đệ tử đã khéo thấy như thật với chánh tuệ điều này như vầy: ‘Các dục vị ngọt ít, khổ nhiều, ưu não nhiều, sự nguy hại ở đây càng nhiều hơn’, và vị ấy chứng được hỷ và lạc tách khỏi các dục, tách khỏi các pháp bất thiện, hay một điều gì khác an tịnh hơn thế; khi ấy vị ấy là người không bị kéo trở lại các dục.
But when, Mahānāma, a noble disciple has seen this well as it really is with right wisdom thus: ‘Sensual pleasures give little gratification, much suffering, much despair, and the danger in them is greater still,’ and he attains to rapture and pleasure apart from sensual pleasures, apart from unwholesome states, or to something more peaceful than that, then he is one who is not drawn back to sensual pleasures.
‘‘Mayhampi kho, mahānāma, pubbeva sambodhā, anabhisambuddhassa bodhisattasseva sato, ‘appassādā kāmā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo’ti – evametaṃ yathābhūtaṃ sammappaññāya sudiṭṭhaṃ hoti, so ca aññatreva kāmehi aññatra akusalehi dhammehi pītisukhaṃ nājjhagamaṃ, aññaṃ vā tato santataraṃ; atha khvāhaṃ neva tāva anāvaṭṭī kāmesu paccaññāsiṃ.
“Này Mahānāma, ngay cả Ta nữa, trước khi giác ngộ, khi còn là Bồ-tát chưa chứng Chánh giác, (dù) đã khéo thấy như thật với chánh tuệ điều này như vầy: ‘Các dục vị ngọt ít, khổ nhiều, ưu não nhiều, sự nguy hại ở đây càng nhiều hơn’, nhưng Ta chưa chứng được hỷ và lạc tách khỏi các dục, tách khỏi các pháp bất thiện, hay một điều gì khác an tịnh hơn thế; thì Ta vẫn chưa tự xác nhận mình là người không bị kéo trở lại các dục.
“I too, Mahānāma, before my enlightenment, while I was still only an unenlightened Bodhisatta, [though] I had seen this well as it really is with right wisdom thus: ‘Sensual pleasures give little gratification, much suffering, much despair, and the danger in them is greater still,’ yet I did not attain to rapture and pleasure apart from sensual pleasures, apart from unwholesome states, or to something more peaceful than that; then I did not yet acknowledge [myself] as one not drawn back to sensual pleasures.
Yato ca kho me, mahānāma, ‘appassādā kāmā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo’ti – evametaṃ yathābhūtaṃ sammappaññāya sudiṭṭhaṃ ahosi, so ca [sova (ka.)] aññatreva kāmehi aññatra akusalehi dhammehi pītisukhaṃ ajjhagamaṃ, aññaṃ vā tato santataraṃ; athāhaṃ anāvaṭṭī kāmesu paccaññāsiṃ.
Nhưng khi nào, này Mahānāma, Ta đã khéo thấy như thật với chánh tuệ điều này như vầy: ‘Các dục vị ngọt ít, khổ nhiều, ưu não nhiều, sự nguy hại ở đây càng nhiều hơn’, và Ta chứng được hỷ và lạc tách khỏi các dục, tách khỏi các pháp bất thiện, hay một điều gì khác an tịnh hơn thế; khi ấy Ta tự xác nhận mình là người không bị kéo trở lại các dục.
But when, Mahānāma, I had seen this well as it really is with right wisdom thus: ‘Sensual pleasures give little gratification, much suffering, much despair, and the danger in them is greater still,’ and I attained to rapture and pleasure apart from sensual pleasures, apart from unwholesome states, or to something more peaceful than that, then I acknowledged [myself] as one not drawn back to sensual pleasures.
Chú thích: Anāvaṭṭī = an + āvaṭṭin “người quay trở lại, bị cuốn trở lại” – tức không còn bị các dục lôi kéo. Điểm then chốt của kinh: thấy nguy hại của dục bằng trí (sammappaññāya sudiṭṭhaṃ) chưa đủ; cần kinh nghiệm một lạc cao hơn dục. Theo Chú giải, “hỷ và lạc tách khỏi các dục” chỉ hỷ lạc của sơ thiền và nhị thiền, còn “điều gì khác an tịnh hơn thế” chỉ các thiền cao hơn và các đạo quả. Paccaññāsiṃ (aorist của paṭijānāti) “Ta đã tự xác nhận, tuyên bố”. Ở §177.4 chủ từ so đi với mayhaṃ là cấu trúc không nhất quán (anacoluthon) của nguyên bản, bản dịch giữ ý.

§178 – Vị ngọt của các dục

‘‘Ko ca, mahānāma, kāmānaṃ assādo? Pañcime, mahānāma, kāmaguṇā. Katame pañca?
“Và này Mahānāma, đâu là vị ngọt của các dục? Này Mahānāma, có năm dục công đức này. Thế nào là năm?
“And what, Mahānāma, is the gratification of sensual pleasures? There are, Mahānāma, these five cords of sensual pleasure. What five?
Cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā rajanīyā; sotaviññeyyā saddā…pe… ghānaviññeyyā gandhā… jivhāviññeyyā rasā… kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā rajanīyā – ime kho, mahānāma, pañca kāmaguṇā.
Các sắc do mắt nhận thức, khả lạc, khả ái, khả ý, có dáng dấp dễ thương, liên hệ đến dục, hấp dẫn; các tiếng do tai nhận thức… (như trên)… các hương do mũi nhận thức… các vị do lưỡi nhận thức… các xúc do thân nhận thức, khả lạc, khả ái, khả ý, có dáng dấp dễ thương, liên hệ đến dục, hấp dẫn – này Mahānāma, đây là năm dục công đức.
Forms cognizable by the eye that are desirable, agreeable, pleasing, likeable, connected with sensual desire, enticing; sounds cognizable by the ear… (and so on)… odours cognizable by the nose… flavours cognizable by the tongue… tangibles cognizable by the body that are desirable, agreeable, pleasing, likeable, connected with sensual desire, enticing – these, Mahānāma, are the five cords of sensual pleasure.
Yaṃ kho, mahānāma, ime pañca kāmaguṇe paṭicca uppajjati sukhaṃ somanassaṃ – ayaṃ kāmānaṃ assādo.
Này Mahānāma, lạc và hỷ nào khởi lên do duyên năm dục công đức này – đây là vị ngọt của các dục.
Whatever pleasure and joy arise, Mahānāma, dependent on these five cords of sensual pleasure – this is the gratification of sensual pleasures.

§178 – Sự nguy hại của các dục: mưu sinh và giữ của

‘‘Ko ca, mahānāma, kāmānaṃ ādīnavo? Idha, mahānāma, kulaputto yena sippaṭṭhānena jīvikaṃ kappeti – yadi muddāya yadi gaṇanāya yadi saṅkhānena yadi kasiyā yadi vaṇijjāya yadi gorakkhena yadi issatthena yadi rājaporisena yadi sippaññatarena,
“Và này Mahānāma, đâu là sự nguy hại của các dục? Ở đây, này Mahānāma, một thiện gia nam tử nuôi sống bằng một nghề nghiệp – hoặc bằng ấn toán, hoặc bằng kế toán, hoặc bằng tính toán, hoặc bằng nông nghiệp, hoặc bằng thương mại, hoặc bằng chăn bò, hoặc bằng nghề cung tên, hoặc bằng việc phục vụ vua, hoặc bằng một nghề nào khác –
“And what, Mahānāma, is the danger in sensual pleasures? Here, Mahānāma, a clansman earns his living by some craft – whether by reckoning on the fingers, by computation, by calculation, by farming, by trading, by cattle-keeping, by archery, by royal service, or by some other craft –
sītassa purakkhato uṇhassa purakkhato ḍaṃsamakasavātātapasarīṃsapasamphassehi rissamāno khuppipāsāya mīyamāno; ayampi, mahānāma, kāmānaṃ ādīnavo sandiṭṭhiko dukkhakkhandho kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu.
phải đương đầu với lạnh, phải đương đầu với nóng, bị khổ sở vì sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, nắng và loài bò sát, bị chết mòn vì đói khát; này Mahānāma, đây cũng là sự nguy hại của các dục, thiết thực hiện tại, là khối khổ do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm duyên khởi, chính do nhân các dục.
he has to face cold, he has to face heat, he is afflicted by contact with gadflies, mosquitoes, wind, sun and creeping things, he is dying from hunger and thirst; this too, Mahānāma, is a danger in sensual pleasures, visible here and now, a mass of suffering having sensual pleasures as its cause, sensual pleasures as its source, sensual pleasures as its basis, the cause being simply sensual pleasures.
‘‘Tassa ce mahānāma kulaputtassa evaṃ uṭṭhahato ghaṭato vāyamato te bhogā nābhinipphajjanti, so socati kilamati paridevati urattāḷiṃ kandati sammohaṃ āpajjati ‘moghaṃ vata me uṭṭhānaṃ, aphalo vata me vāyāmo’ti. Ayampi, mahānāma, kāmānaṃ ādīnavo sandiṭṭhiko dukkhakkhandho kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu.
“Này Mahānāma, nếu thiện gia nam tử ấy, dù nỗ lực, cố gắng, tinh tấn như vậy, mà các tài sản ấy không thành tựu, người ấy sầu muộn, mệt mỏi, than vãn, đấm ngực khóc lóc, rơi vào mê loạn: ‘Thật vô ích sự nỗ lực của ta, thật không kết quả sự tinh tấn của ta!’ Này Mahānāma, đây cũng là sự nguy hại của các dục, thiết thực hiện tại, là khối khổ do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm duyên khởi, chính do nhân các dục.
“If, Mahānāma, while that clansman strives, exerts himself and makes effort thus, those possessions do not come to fruition, he sorrows, grieves and laments, he weeps beating his breast and becomes distraught: ‘My striving is in vain indeed, my effort is fruitless indeed!’ This too, Mahānāma, is a danger in sensual pleasures, visible here and now, a mass of suffering having sensual pleasures as its cause, sensual pleasures as its source, sensual pleasures as its basis, the cause being simply sensual pleasures.
Chú thích: Kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu: bốn cụm được giữ nguyên trật tự – nhân, nguồn gốc, duyên khởi (adhikaraṇa “nền tảng, cớ sự”), và nhấn mạnh “chính do nhân các dục”; tên kinh Dukkhakkhandha “khối khổ” lấy từ điệp khúc này. Ở chỗ bắt đầu §178.6, bản VRI in liền với câu trước và viết Tassa ce mahānāma không có dấu phẩy (khác với câu song song ở §178.7); bản Pāli ở đây giữ đúng như nguồn.
‘‘Tassa ce, mahānāma, kulaputtassa evaṃ uṭṭhahato ghaṭato vāyamato te bhogā abhinipphajjanti. So tesaṃ bhogānaṃ ārakkhādhikaraṇaṃ dukkhaṃ domanassaṃ paṭisaṃvedeti – ‘kinti me bhoge neva rājāno hareyyuṃ, na corā hareyyuṃ, na aggi daheyya, na udakaṃ vaheyya, na appiyā vā dāyādā hareyyu’nti.
“Này Mahānāma, nếu thiện gia nam tử ấy, nỗ lực, cố gắng, tinh tấn như vậy, mà các tài sản ấy thành tựu. Người ấy cảm thọ khổ và ưu do việc bảo vệ các tài sản ấy: ‘Làm sao để các vua không lấy đi tài sản của ta, kẻ trộm không lấy đi, lửa không đốt, nước không cuốn trôi, những người thừa tự không ưa không lấy đi?’
“If, Mahānāma, while that clansman strives, exerts himself and makes effort thus, those possessions come to fruition, he experiences pain and grief on account of protecting those possessions: ‘How shall neither kings take my possessions, nor thieves take them, nor fire burn them, nor water carry them away, nor disliked heirs take them?’
Tassa evaṃ ārakkhato gopayato te bhoge rājāno vā haranti, corā vā haranti, aggi vā dahati, udakaṃ vā vahati, appiyā vā dāyādā haranti. So socati kilamati paridevati urattāḷiṃ kandati sammohaṃ āpajjati – ‘yampi me ahosi tampi no natthī’ti. Ayampi, mahānāma, kāmānaṃ ādīnavo sandiṭṭhiko dukkhakkhandho kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu.
Trong khi người ấy bảo vệ, canh giữ như vậy, các vua lấy đi các tài sản ấy, hoặc kẻ trộm lấy đi, hoặc lửa đốt, hoặc nước cuốn trôi, hoặc những người thừa tự không ưa lấy đi. Người ấy sầu muộn, mệt mỏi, than vãn, đấm ngực khóc lóc, rơi vào mê loạn: ‘Cái đã từng là của ta, cái ấy nay chúng ta cũng không còn!’ Này Mahānāma, đây cũng là sự nguy hại của các dục, thiết thực hiện tại, là khối khổ do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm duyên khởi, chính do nhân các dục.
As he guards and protects them thus, kings take those possessions, or thieves take them, or fire burns them, or water carries them away, or disliked heirs take them. He sorrows, grieves and laments, he weeps beating his breast and becomes distraught: ‘Even what was mine, that too we have no longer!’ This too, Mahānāma, is a danger in sensual pleasures, visible here and now, a mass of suffering having sensual pleasures as its cause, sensual pleasures as its source, sensual pleasures as its basis, the cause being simply sensual pleasures.

§178 – Tranh chấp, chiến tranh, hình phạt và đọa xứ

‘‘Puna caparaṃ, mahānāma, kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu rājānopi rājūhi vivadanti, khattiyāpi khattiyehi vivadanti, brāhmaṇāpi brāhmaṇehi vivadanti, gahapatīpi gahapatīhi vivadanti, mātāpi puttena vivadati, puttopi mātarā vivadati, pitāpi puttena vivadati, puttopi pitarā vivadati, bhātāpi bhātarā vivadati, bhātāpi bhaginiyā vivadati, bhaginīpi bhātarā vivadati, sahāyopi sahāyena vivadati.
“Lại nữa, này Mahānāma, do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm duyên khởi, chính do nhân các dục, vua tranh chấp với vua, Sát-đế-lỵ tranh chấp với Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn tranh chấp với Bà-la-môn, gia chủ tranh chấp với gia chủ, mẹ tranh chấp với con, con tranh chấp với mẹ, cha tranh chấp với con, con tranh chấp với cha, anh em tranh chấp với anh em, anh em tranh chấp với chị em, chị em tranh chấp với anh em, bạn tranh chấp với bạn.
“Again, Mahānāma, with sensual pleasures as the cause, sensual pleasures as the source, sensual pleasures as the basis, the cause being simply sensual pleasures, kings quarrel with kings, khattiyas quarrel with khattiyas, brahmins quarrel with brahmins, householders quarrel with householders, a mother quarrels with her son, a son quarrels with his mother, a father quarrels with his son, a son quarrels with his father, brother quarrels with brother, brother quarrels with sister, sister quarrels with brother, friend quarrels with friend.
Te tattha kalahaviggahavivādāpannā aññamaññaṃ pāṇīhipi upakkamanti, leḍḍūhipi upakkamanti, daṇḍehipi upakkamanti, satthehipi upakkamanti. Te tattha maraṇampi nigacchanti, maraṇamattampi dukkhaṃ. Ayampi, mahānāma, kāmānaṃ ādīnavo sandiṭṭhiko dukkhakkhandho kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu.
Ở đấy, họ rơi vào cãi lộn, xung đột, tranh chấp, tấn công nhau bằng tay, tấn công bằng cục đất, tấn công bằng gậy, tấn công bằng dao kiếm. Ở đấy, họ đi đến cái chết, hoặc đau khổ gần như chết. Này Mahānāma, đây cũng là sự nguy hại của các dục, thiết thực hiện tại, là khối khổ do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm duyên khởi, chính do nhân các dục.
There, having fallen into quarrels, brawls and disputes, they attack one another with fists, they attack with clods, they attack with sticks, they attack with knives. There they incur death, or suffering close to death. This too, Mahānāma, is a danger in sensual pleasures, visible here and now, a mass of suffering having sensual pleasures as its cause, sensual pleasures as its source, sensual pleasures as its basis, the cause being simply sensual pleasures.
‘‘Puna caparaṃ, mahānāma, kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu asicammaṃ gahetvā, dhanukalāpaṃ sannayhitvā, ubhatobyūḷhaṃ saṅgāmaṃ pakkhandanti usūsupi khippamānesu, sattīsupi khippamānāsu, asīsupi vijjotalantesu.
“Lại nữa, này Mahānāma, do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm duyên khởi, chính do nhân các dục, họ cầm kiếm và khiên, đeo cung và ống tên, xông vào trận chiến dàn quân hai mặt, trong khi tên đang bắn tới, giáo đang phóng tới, kiếm đang chớp lóe.
“Again, Mahānāma, with sensual pleasures as the cause, sensual pleasures as the source, sensual pleasures as the basis, the cause being simply sensual pleasures, taking sword and shield, girding on bow and quiver, they charge into battle massed on both sides, while arrows are being shot, spears are being hurled, swords are flashing.
Te tattha usūhipi vijjhanti, sattiyāpi vijjhanti, asināpi sīsaṃ chindanti. Te tattha maraṇampi nigacchanti, maraṇamattampi dukkhaṃ. Ayampi, mahānāma, kāmānaṃ ādīnavo sandiṭṭhiko dukkhakkhandho kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu.
Ở đấy, họ bị trúng tên, bị trúng giáo, bị kiếm chặt đầu. Ở đấy, họ đi đến cái chết, hoặc đau khổ gần như chết. Này Mahānāma, đây cũng là sự nguy hại của các dục, thiết thực hiện tại, là khối khổ do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm duyên khởi, chính do nhân các dục.
There they are pierced by arrows, pierced by spears, and their heads are cut off by swords. There they incur death, or suffering close to death. This too, Mahānāma, is a danger in sensual pleasures, visible here and now, a mass of suffering having sensual pleasures as its cause, sensual pleasures as its source, sensual pleasures as its basis, the cause being simply sensual pleasures.
‘‘Puna caparaṃ, mahānāma, kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu asicammaṃ gahetvā, dhanukalāpaṃ sannayhitvā, addāvalepanā upakāriyo pakkhandanti usūsupi khippamānesu, sattīsupi khippamānāsu, asīsupi vijjotalantesu.
“Lại nữa, này Mahānāma, do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm duyên khởi, chính do nhân các dục, họ cầm kiếm và khiên, đeo cung và ống tên, xông vào các thành lũy trát ướt, trong khi tên đang bắn tới, giáo đang phóng tới, kiếm đang chớp lóe.
“Again, Mahānāma, with sensual pleasures as the cause, sensual pleasures as the source, sensual pleasures as the basis, the cause being simply sensual pleasures, taking sword and shield, girding on bow and quiver, they charge the wet-plastered bastions, while arrows are being shot, spears are being hurled, swords are flashing.
Te tattha usūhipi vijjhanti, sattiyāpi vijjhanti, chakaṇakāyapi osiñcanti, abhivaggenapi omaddanti, asināpi sīsaṃ chindanti. Te tattha maraṇampi nigacchanti, maraṇamattampi dukkhaṃ. Ayampi, mahānāma, kāmānaṃ ādīnavo sandiṭṭhiko dukkhakkhandho kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu.
Ở đấy, họ bị trúng tên, bị trúng giáo, bị tạt phân bò (sôi), bị đè nát bởi vật nặng, bị kiếm chặt đầu. Ở đấy, họ đi đến cái chết, hoặc đau khổ gần như chết. Này Mahānāma, đây cũng là sự nguy hại của các dục, thiết thực hiện tại, là khối khổ do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm duyên khởi, chính do nhân các dục.
There they are pierced by arrows, pierced by spears, splashed with [boiling] cow dung, crushed with a heavy weight, and their heads are cut off by swords. There they incur death, or suffering close to death. This too, Mahānāma, is a danger in sensual pleasures, visible here and now, a mass of suffering having sensual pleasures as its cause, sensual pleasures as its source, sensual pleasures as its basis, the cause being simply sensual pleasures.
Chú thích: Các động từ vijjhanti, osiñcanti, omaddanti, chindanti trong nguyên bản là thể chủ động ngôi ba số nhiều không nêu chủ từ (“người ta đâm… chặt…”); bản dịch Việt – Anh chuyển sang bị động cho rõ ai chịu khổ, nhưng không thêm ý. Addāvalepanā upakāriyo: “các thành lũy (công sự) được trát ướt”, để kẻ leo lên bị trơn trượt. Chakaṇaka là phân bò; theo Chú giải, đó là phân bò nấu sôi tạt xuống người công thành – chữ “(sôi)” là phần ngầm hiểu theo Chú giải.
‘‘Puna caparaṃ, mahānāma, kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu sandhimpi chindanti, nillopampi haranti, ekāgārikampi karonti, paripanthepi tiṭṭhanti, paradārampi gacchanti.
“Lại nữa, này Mahānāma, do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm duyên khởi, chính do nhân các dục, họ đục tường khoét vách, cướp đoạt tài sản, đánh cướp từng nhà, phục kích trên đường, đi đến vợ người.
“Again, Mahānāma, with sensual pleasures as the cause, sensual pleasures as the source, sensual pleasures as the basis, the cause being simply sensual pleasures, they break into houses, carry off plunder, commit burglary on a single house, lie in ambush on the highways, go with others’ wives.
Tamenaṃ rājāno gahetvā vividhā kammakāraṇā kārenti – kasāhipi tāḷenti, vettehipi tāḷenti, aḍḍhadaṇḍakehipi tāḷenti; hatthampi chindanti, pādampi chindanti, hatthapādampi chindanti, kaṇṇampi chindanti, nāsampi chindanti, kaṇṇanāsampi chindanti;
Các vua bắt người ấy và cho thi hành nhiều loại hình phạt – đánh bằng roi, đánh bằng gậy mây, đánh bằng gậy ngắn; chặt tay, chặt chân, chặt tay chân, cắt tai, cắt mũi, cắt tai mũi;
Kings, having arrested such a one, have various kinds of punishment inflicted – they flog him with whips, flog him with canes, flog him with half-rods; they cut off his hand, cut off his foot, cut off hand and foot, cut off his ear, cut off his nose, cut off ear and nose;
bilaṅgathālikampi karonti, saṅkhamuṇḍikampi karonti, rāhumukhampi karonti, jotimālikampi karonti, hatthapajjotikampi karonti, erakavattikampi karonti, cīrakavāsikampi karonti, eṇeyyakampi karonti, baḷisamaṃsikampi karonti, kahāpaṇikampi karonti, khārāpatacchikampi karonti, palighaparivattikampi karonti, palālapīṭhakampi karonti, tattenapi telena osiñcanti, sunakhehipi khādāpenti, jīvantampi sūle uttāsenti, asināpi sīsaṃ chindanti. Te tattha maraṇampi nigacchanti, maraṇamattampi dukkhaṃ. Ayampi, mahānāma, kāmānaṃ ādīnavo sandiṭṭhiko dukkhakkhandho kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu.
họ làm hình phạt “nồi cháo”, làm hình phạt “cạo đầu vỏ ốc”, làm hình phạt “miệng Rāhu”, làm hình phạt “vòng hoa lửa”, làm hình phạt “đuốc tay”, làm hình phạt “dải cỏ eraka”, làm hình phạt “áo vỏ cây”, làm hình phạt “con linh dương”, làm hình phạt “móc thịt”, làm hình phạt “đồng tiền”, làm hình phạt “xát nước tro”, làm hình phạt “xoay chốt sắt”, làm hình phạt “đệm rơm”, tưới bằng dầu sôi, cho chó ăn thịt, đặt sống lên cọc nhọn, lấy kiếm chặt đầu. Ở đấy, họ đi đến cái chết, hoặc đau khổ gần như chết. Này Mahānāma, đây cũng là sự nguy hại của các dục, thiết thực hiện tại, là khối khổ do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm duyên khởi, chính do nhân các dục.
they do the “porridge pot”, do the “conch-shell shave”, do the “Rāhu’s mouth”, do the “fiery wreath”, do the “flaming hand”, do the “eraka grass strips”, do the “bark dress”, do the “antelope”, do the “meat hooks”, do the “coins”, do the “lye pickling”, do the “turning pin”, do the “straw mat”; they splash him with boiling oil, have him devoured by dogs, impale him alive on a stake, cut off his head with a sword. There they incur death, or suffering close to death. This too, Mahānāma, is a danger in sensual pleasures, visible here and now, a mass of suffering having sensual pleasures as its cause, sensual pleasures as its source, sensual pleasures as its basis, the cause being simply sensual pleasures.
‘‘Puna caparaṃ, mahānāma, kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu kāyena duccaritaṃ caranti, vācāya duccaritaṃ caranti, manasā duccaritaṃ caranti. Te kāyena duccaritaṃ caritvā, vācāya duccaritaṃ caritvā, manasā duccaritaṃ caritvā, kāyassa bhedā paraṃ maraṇā, apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapajjanti. Ayampi, mahānāma, kāmānaṃ ādīnavo samparāyiko, dukkhakkhandho kāmahetu kāmanidānaṃ kāmādhikaraṇaṃ kāmānameva hetu.
“Lại nữa, này Mahānāma, do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm duyên khởi, chính do nhân các dục, họ làm ác hạnh bằng thân, làm ác hạnh bằng lời, làm ác hạnh bằng ý. Sau khi làm ác hạnh bằng thân, làm ác hạnh bằng lời, làm ác hạnh bằng ý, khi thân hoại mạng chung, họ sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này Mahānāma, đây cũng là sự nguy hại của các dục, thuộc về đời sau, là khối khổ do dục làm nhân, do dục làm nguồn gốc, do dục làm duyên khởi, chính do nhân các dục.
“Again, Mahānāma, with sensual pleasures as the cause, sensual pleasures as the source, sensual pleasures as the basis, the cause being simply sensual pleasures, they engage in misconduct by body, misconduct by speech, misconduct by mind. Having engaged in misconduct by body, misconduct by speech, misconduct by mind, with the breakup of the body, after death, they reappear in a state of deprivation, an unhappy destination, the nether world, hell. This too, Mahānāma, is a danger in sensual pleasures, pertaining to the life to come, a mass of suffering having sensual pleasures as its cause, sensual pleasures as its source, sensual pleasures as its basis, the cause being simply sensual pleasures.
Chú thích: Mười ba hình phạt từ bilaṅgathālika đến palālapīṭhaka là thuật ngữ cổ, được dịch theo nghĩa đen của tên gọi (trong ngoặc kép); cách thi hành cụ thể chỉ được biết qua Chú giải. Khác với MN 13, ở đây đoạn vị ngọt và nguy hại không đi kèm phần “xuất ly” (nissaraṇa), cũng không bàn đến sắc và thọ: trọng tâm của MN 14 là lý do vì sao người đã thấy nguy hại của dục vẫn còn bị dục chi phối (§177) và sự bác bỏ con đường khổ hạnh (§179–180). Samparāyika “thuộc đời sau”, đối lập với sandiṭṭhika “thiết thực hiện tại”.

§179 – Các Nigaṇṭha khổ hạnh tại Isigili

‘‘Ekamidāhaṃ, mahānāma, samayaṃ rājagahe viharāmi gijjhakūṭe pabbate.
“Này Mahānāma, một thời Ta trú ở Rājagaha, trên núi Gijjhakūṭa.
“On one occasion, Mahānāma, I was dwelling at Rājagaha, on the mountain Vulture Peak.
Tena kho pana samayena sambahulā nigaṇṭhā [niganthā (syā. ka.)] isigilipasse kāḷasilāyaṃ ubbhaṭṭhakā honti āsanapaṭikkhittā, opakkamikā dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vedayanti.
Lúc bấy giờ, nhiều vị Nigaṇṭha, tại Hắc Thạch (Kāḷasilā) trên sườn núi Isigili, đang thực hành đứng thẳng, từ chối chỗ ngồi, và cảm thọ những cảm thọ khổ, kịch liệt, thô bạo, đau nhói do tự hành hạ.
Now on that occasion a number of Nigaṇṭhas at the Black Rock on the slope of Isigili were practising continuous standing, rejecting seats, and were experiencing painful, racking, sharp, piercing feelings due to exertion.
Atha khvāhaṃ, mahānāma, sāyanhasamayaṃ paṭisallānā vuṭṭhito yena isigilipasse kāḷasilā yena te nigaṇṭhā tenupasaṅkamiṃ; upasaṅkamitvā te nigaṇṭhe etadavocaṃ – ‘kinnu tumhe, āvuso, nigaṇṭhā ubbhaṭṭhakā āsanapaṭikkhittā, opakkamikā dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vedayathā’ti?
Rồi này Mahānāma, vào buổi chiều, Ta từ chỗ độc cư đứng dậy, đi đến Hắc Thạch trên sườn núi Isigili, đến chỗ các vị Nigaṇṭha ấy; sau khi đến, Ta nói với các vị Nigaṇṭha ấy: ‘Này chư Hiền Nigaṇṭha, vì sao các vị đứng thẳng, từ chối chỗ ngồi, cảm thọ những cảm thọ khổ, kịch liệt, thô bạo, đau nhói do tự hành hạ?’
Then, Mahānāma, in the evening, having emerged from seclusion, I went to the Black Rock on the slope of Isigili, to those Nigaṇṭhas; having gone, I said this to those Nigaṇṭhas: ‘Why, friends Nigaṇṭhas, do you practise continuous standing, rejecting seats, and experience painful, racking, sharp, piercing feelings due to exertion?’
Evaṃ vutte, mahānāma, te nigaṇṭhā maṃ etadavocuṃ – ‘nigaṇṭho, āvuso, nāṭaputto [nāthaputto (sī. pī.)] sabbaññū sabbadassāvī aparisesaṃ ñāṇadassanaṃ paṭijānāti – ‘‘carato ca me tiṭṭhato ca suttassa ca jāgarassa ca satataṃ samitaṃ ñāṇadassanaṃ paccupaṭṭhita’’nti.
Này Mahānāma, khi được nói vậy, các vị Nigaṇṭha ấy nói với Ta: ‘Này Hiền giả, Nigaṇṭha Nāṭaputta là bậc biết tất cả, thấy tất cả, tự nhận có tri kiến không sót: “Khi ta đi, khi đứng, khi ngủ và khi thức, tri kiến luôn luôn, liên tục hiện tiền nơi ta.”
When this was said, Mahānāma, those Nigaṇṭhas said this to me: ‘Friend, the Nigaṇṭha Nāṭaputta is all-knowing and all-seeing, and claims complete knowledge and vision thus: “Whether I am walking or standing or asleep or awake, knowledge and vision are continuously and uninterruptedly present to me.”
So evamāha – ‘‘atthi kho vo [atthi kho bho (syā. ka.)], nigaṇṭhā, pubbe pāpakammaṃ kataṃ, taṃ imāya kaṭukāya dukkarakārikāya nijjīretha [nijjaretha (sī. syā. pī.)];
Vị ấy nói như vầy: “Này các Nigaṇṭha, các ngươi có ác nghiệp đã làm trước kia; hãy làm cho nó tiêu mòn bằng khổ hạnh khắc nghiệt này.
He says thus: “Nigaṇṭhas, you have done evil actions in the past; wear them away with this piercing austerity.
yaṃ panettha [mayaṃ panettha (ka.)] etarahi kāyena saṃvutā vācāya saṃvutā manasā saṃvutā taṃ āyatiṃ pāpassa kammassa akaraṇaṃ;
Còn việc nay ở đây (các ngươi) được chế ngự về thân, được chế ngự về lời, được chế ngự về ý, thì đó là sự không làm ác nghiệp trong tương lai.
And as for being here and now restrained in body, restrained in speech, restrained in mind, that is the non-doing of evil action in the future.
iti purāṇānaṃ kammānaṃ tapasā byantibhāvā, navānaṃ kammānaṃ akaraṇā, āyatiṃ anavassavo; āyatiṃ anavassavā kammakkhayo, kammakkhayā dukkhakkhayo, dukkhakkhayā vedanākkhayo, vedanākkhayā sabbaṃ dukkhaṃ nijjiṇṇaṃ bhavissatī’’ti.
Như vậy, do các nghiệp cũ được chấm dứt bằng khổ hạnh, do không làm các nghiệp mới, nên trong tương lai không còn rỉ chảy; do tương lai không còn rỉ chảy, nghiệp đoạn tận; do nghiệp đoạn tận, khổ đoạn tận; do khổ đoạn tận, thọ đoạn tận; do thọ đoạn tận, tất cả khổ sẽ được tiêu mòn.”
So by the annihilation through asceticism of old actions, and by the non-doing of new actions, there is no inflow in the future; with no inflow in the future, there is the destruction of action; with the destruction of action, the destruction of suffering; with the destruction of suffering, the destruction of feeling; with the destruction of feeling, all suffering will be worn away.”
Tañca panamhākaṃ ruccati ceva khamati ca, tena camha attamanā’ti.
Điều ấy chúng tôi ưa thích và chấp nhận, và do đó chúng tôi hoan hỷ.’
And that is pleasing to us and acceptable to us, and therefore we are satisfied.’
Chú thích: Nigaṇṭha “người không còn trói buộc” – tên gọi các tu sĩ phái Kỳ-na (Jaina), mà người lãnh đạo là Nigaṇṭha Nāṭaputta (dị bản Nāthaputta). Các chữ nijjīreti “làm cho tiêu mòn”, nijjiṇṇa “đã tiêu mòn” và anavassava “không rỉ chảy (vào)” phản ánh thuật ngữ riêng của giáo thuyết này: nghiệp cũ bị “đốt tiêu” bằng khổ hạnh, nghiệp mới bị chặn không cho “chảy vào”. Opakkamikā “do sự tự công kích, tự gây ra” (từ upakkama “nỗ lực, tấn công”). Ubbhaṭṭhaka “người giữ hạnh đứng thẳng”.

§180 – Năm câu hỏi chất vấn các Nigaṇṭha

‘‘Evaṃ vutte, ahaṃ, mahānāma, te nigaṇṭhe etadavocaṃ – ‘kiṃ pana tumhe, āvuso nigaṇṭhā, jānātha – ahuvamheva mayaṃ pubbe na nāhuvamhā’ti? ‘No hidaṃ, āvuso’.
“Này Mahānāma, khi được nói vậy, Ta nói với các vị Nigaṇṭha ấy: ‘Này chư Hiền Nigaṇṭha, các vị có biết: “Chúng ta đã hiện hữu trước kia, chẳng phải chúng ta đã không hiện hữu” không?’ ‘Thưa Hiền giả, không.’
“When this was said, Mahānāma, I said this to those Nigaṇṭhas: ‘What, friends Nigaṇṭhas, do you know: “We existed in the past, it is not that we did not exist”?’ ‘No, friend.’
‘Kiṃ pana tumhe, āvuso nigaṇṭhā, jānātha – akaramheva mayaṃ pubbe pāpakammaṃ na nākaramhā’ti? ‘No hidaṃ, āvuso’.
‘Này chư Hiền Nigaṇṭha, các vị có biết: “Chúng ta đã làm ác nghiệp trước kia, chẳng phải chúng ta đã không làm” không?’ ‘Thưa Hiền giả, không.’
‘What, friends Nigaṇṭhas, do you know: “We did evil actions in the past, it is not that we did not do them”?’ ‘No, friend.’
‘Kiṃ pana tumhe, āvuso nigaṇṭhā, jānātha – evarūpaṃ vā evarūpaṃ vā pāpakammaṃ akaramhā’ti? ‘No hidaṃ, āvuso’.
‘Này chư Hiền Nigaṇṭha, các vị có biết: “Chúng ta đã làm ác nghiệp như thế này hay như thế kia” không?’ ‘Thưa Hiền giả, không.’
‘What, friends Nigaṇṭhas, do you know: “We did such and such evil actions”?’ ‘No, friend.’
‘Kiṃ pana tumhe, āvuso nigaṇṭhā, jānātha – ettakaṃ vā dukkhaṃ nijjiṇṇaṃ, ettakaṃ vā dukkhaṃ nijjīretabbaṃ, ettakamhi vā dukkhe nijjiṇṇe sabbaṃ dukkhaṃ nijjiṇṇaṃ bhavissatī’ti? ‘No hidaṃ, āvuso’.
‘Này chư Hiền Nigaṇṭha, các vị có biết: “Chừng ấy khổ đã được tiêu mòn, hay chừng ấy khổ còn phải được tiêu mòn, hay khi chừng ấy khổ được tiêu mòn thì tất cả khổ sẽ được tiêu mòn” không?’ ‘Thưa Hiền giả, không.’
‘What, friends Nigaṇṭhas, do you know: “So much suffering has been worn away, or so much suffering is yet to be worn away, or when so much suffering has been worn away all suffering will have been worn away”?’ ‘No, friend.’
‘Kiṃ pana tumhe, āvuso nigaṇṭhā, jānātha – diṭṭheva dhamme akusalānaṃ dhammānaṃ pahānaṃ, kusalānaṃ dhammānaṃ upasampada’nti? ‘No hidaṃ, āvuso’.
‘Này chư Hiền Nigaṇṭha, các vị có biết sự đoạn trừ các pháp bất thiện và sự thành tựu các pháp thiện ngay trong hiện tại không?’ ‘Thưa Hiền giả, không.’
‘What, friends Nigaṇṭhas, do you know the abandoning of unwholesome states and the cultivation of wholesome states here and now?’ ‘No, friend.’
‘‘‘Iti kira tumhe, āvuso nigaṇṭhā, na jānātha – ahuvamheva mayaṃ pubbe na nāhuvamhāti, na jānātha – akaramheva mayaṃ pubbe pāpakammaṃ na nākaramhāti, na jānātha – evarūpaṃ vā evarūpaṃ vā pāpakammaṃ akaramhāti, na jānātha – ettakaṃ vā dukkhaṃ nijjiṇṇaṃ, ettakaṃ vā dukkhaṃ nijjīretabbaṃ, ettakamhi vā dukkhe nijjiṇṇe sabbaṃ dukkhaṃ nijjiṇṇaṃ bhavissatīti. Na jānātha – diṭṭheva dhamme akusalānaṃ dhammānaṃ pahānaṃ, kusalānaṃ dhammānaṃ upasampadaṃ.
‘Như vậy, này chư Hiền Nigaṇṭha, các vị không biết: “Chúng ta đã hiện hữu trước kia, chẳng phải chúng ta đã không hiện hữu”; không biết: “Chúng ta đã làm ác nghiệp trước kia, chẳng phải chúng ta đã không làm”; không biết: “Chúng ta đã làm ác nghiệp như thế này hay như thế kia”; không biết: “Chừng ấy khổ đã được tiêu mòn, hay chừng ấy khổ còn phải được tiêu mòn, hay khi chừng ấy khổ được tiêu mòn thì tất cả khổ sẽ được tiêu mòn”. Các vị không biết sự đoạn trừ các pháp bất thiện và sự thành tựu các pháp thiện ngay trong hiện tại.
‘So it seems, friends Nigaṇṭhas, you do not know: “We existed in the past, it is not that we did not exist”; you do not know: “We did evil actions in the past, it is not that we did not do them”; you do not know: “We did such and such evil actions”; you do not know: “So much suffering has been worn away, or so much suffering is yet to be worn away, or when so much suffering has been worn away all suffering will have been worn away.” You do not know the abandoning of unwholesome states and the cultivation of wholesome states here and now.
Evaṃ sante, āvuso nigaṇṭhā, ye loke luddā lohitapāṇino kurūrakammantā manussesu paccājātā te nigaṇṭhesu pabbajantī’ti?
Như vậy thì, này chư Hiền Nigaṇṭha, những ai ở đời là kẻ hung bạo, tay vấy máu, làm những việc tàn ác, khi tái sinh làm người, chính họ xuất gia trong hàng Nigaṇṭha chăng?’
That being so, friends Nigaṇṭhas, is it that those in the world who are murderous, bloody-handed, doers of cruel deeds, when reborn among human beings, go forth among the Nigaṇṭhas?’
‘Na kho, āvuso gotama, sukhena sukhaṃ adhigantabbaṃ, dukkhena kho sukhaṃ adhigantabbaṃ; sukhena cāvuso gotama, sukhaṃ adhigantabbaṃ abhavissa, rājā māgadho seniyo bimbisāro sukhaṃ adhigaccheyya, rājā māgadho seniyo bimbisāro sukhavihāritaro āyasmatā gotamenā’ti.
‘Này Hiền giả Gotama, lạc không phải đạt được bằng lạc; lạc phải đạt được bằng khổ. Này Hiền giả Gotama, nếu lạc có thể đạt được bằng lạc, thì vua Seniya Bimbisāra nước Magadha hẳn đã đạt được lạc; vua Seniya Bimbisāra nước Magadha hẳn sống an lạc hơn Tôn giả Gotama.’
‘Friend Gotama, pleasure is not to be gained through pleasure; pleasure is to be gained through pain. For if, friend Gotama, pleasure were to be gained through pleasure, then King Seniya Bimbisāra of Magadha would gain pleasure; King Seniya Bimbisāra of Magadha would dwell in greater pleasure than the venerable Gotama.’
Chú thích: Câu hỏi ở §180.7 là một lập luận quy về vô lý (reductio): nếu khổ thọ hiện tại hoàn toàn do ác nghiệp quá khứ, thì những người chịu khổ hạnh nặng nhất hẳn phải là những kẻ hung ác nhất trong đời trước. Sukhena sukhaṃ adhigantabbaṃ: sukhena, dukkhena là sở dụng cách (instrumental) chỉ phương tiện – “bằng lạc, bằng khổ”; adhigantabba là phân từ tương lai bị động (gerundive) “phải được đạt đến”. Sukhavihāritara: so sánh hơn của sukhavihārin “người sống an lạc”, đi với sở dụng cách āyasmatā gotamena “hơn Tôn giả Gotama”.

§180 – Ai sống an lạc hơn: vua Bimbisāra hay Sa-môn Gotama?

‘‘‘Addhāyasmantehi nigaṇṭhehi sahasā appaṭisaṅkhā vācā bhāsitā – na kho, āvuso gotama, sukhena sukhaṃ adhigantabbaṃ, dukkhena kho sukhaṃ adhigantabbaṃ; sukhena cāvuso gotama, sukhaṃ adhigantabbaṃ abhavissa, rājā māgadho seniyo bimbisāro sukhaṃ adhigaccheyya, rājā māgadho seniyo bimbisāro sukhavihāritaro āyasmatā gotamenā’’ti.
‘Chắc chắn chư Tôn giả Nigaṇṭha đã nói lời vội vàng, không suy xét: “Này Hiền giả Gotama, lạc không phải đạt được bằng lạc; lạc phải đạt được bằng khổ. Này Hiền giả Gotama, nếu lạc có thể đạt được bằng lạc, thì vua Seniya Bimbisāra nước Magadha hẳn đã đạt được lạc; vua Seniya Bimbisāra nước Magadha hẳn sống an lạc hơn Tôn giả Gotama.”
‘Surely the venerable Nigaṇṭhas have spoken hastily and without reflection: “Friend Gotama, pleasure is not to be gained through pleasure; pleasure is to be gained through pain. For if, friend Gotama, pleasure were to be gained through pleasure, then King Seniya Bimbisāra of Magadha would gain pleasure; King Seniya Bimbisāra of Magadha would dwell in greater pleasure than the venerable Gotama.”
Api ca ahameva tattha paṭipucchitabbo – ko nu kho āyasmantānaṃ sukhavihāritaro rājā vā māgadho seniyo bimbisāro āyasmā vā gotamo’ti?
Hơn nữa, về điều ấy chính Ta là người phải được hỏi lại trước: “Giữa hai vị, theo chư Tôn giả, ai sống an lạc hơn: vua Seniya Bimbisāra nước Magadha hay Tôn giả Gotama?”’
Rather, I am the one who should first have been asked about that: “Which of the two, venerable sirs, dwells in greater pleasure: King Seniya Bimbisāra of Magadha or the venerable Gotama?”’
Addhāvuso gotama, amhehi sahasā appaṭisaṅkhā vācā bhāsitā, na kho, āvuso gotama, sukhena sukhaṃ adhigantabbaṃ, dukkhena kho sukhaṃ adhigantabbaṃ; sukhena cāvuso gotama, sukhaṃ adhigantabbaṃ abhavissa, rājā māgadho seniyo bimbisāro sukhaṃ adhigaccheyya, rājā māgadho seniyo bimbisāro sukhavihāritaro āyasmatā gotamenāti.
‘Này Hiền giả Gotama, chắc chắn chúng tôi đã nói lời vội vàng, không suy xét: “Này Hiền giả Gotama, lạc không phải đạt được bằng lạc; lạc phải đạt được bằng khổ. Này Hiền giả Gotama, nếu lạc có thể đạt được bằng lạc, thì vua Seniya Bimbisāra nước Magadha hẳn đã đạt được lạc; vua Seniya Bimbisāra nước Magadha hẳn sống an lạc hơn Tôn giả Gotama.”
‘Surely, friend Gotama, we spoke hastily and without reflection: “Friend Gotama, pleasure is not to be gained through pleasure; pleasure is to be gained through pain. For if, friend Gotama, pleasure were to be gained through pleasure, then King Seniya Bimbisāra of Magadha would gain pleasure; King Seniya Bimbisāra of Magadha would dwell in greater pleasure than the venerable Gotama.”
Api ca tiṭṭhatetaṃ, idānipi mayaṃ āyasmantaṃ gotamaṃ pucchāma – ko nu kho āyasmantānaṃ sukhavihāritaro rājā vā māgadho seniyo bimbisāro āyasmā vā gotamo’ti?
Nhưng hãy để điều ấy qua một bên; nay chúng tôi hỏi Tôn giả Gotama: “Ai sống an lạc hơn: vua Seniya Bimbisāra nước Magadha hay Tôn giả Gotama?”’
But let that be; now we ask the venerable Gotama: “Who dwells in greater pleasure: King Seniya Bimbisāra of Magadha or the venerable Gotama?”’
‘‘‘Tena hāvuso nigaṇṭhā, tumheva tattha paṭipucchissāmi, yathā vo khameyya tathā naṃ byākareyyātha.
‘Vậy thì, này chư Hiền Nigaṇṭha, về điều ấy Ta sẽ hỏi lại chính các vị; các vị chấp nhận thế nào thì hãy trả lời như thế.
‘In that case, friends Nigaṇṭhas, I shall question you in return about that; answer as you see fit.
Taṃ kiṃ maññathāvuso nigaṇṭhā, pahoti rājā māgadho seniyo bimbisāro, aniñjamāno kāyena, abhāsamāno vācaṃ, satta rattindivāni ekantasukhaṃ paṭisaṃvedī viharitu’nti? ‘No hidaṃ, āvuso’.
Các vị nghĩ thế nào, này chư Hiền Nigaṇṭha, vua Seniya Bimbisāra nước Magadha có thể, không cử động thân, không nói ra lời, an trú cảm thọ lạc thuần nhất trong bảy đêm ngày chăng?’ ‘Thưa Hiền giả, không.’
What do you think, friends Nigaṇṭhas, is King Seniya Bimbisāra of Magadha able, without moving his body, without uttering a word, to dwell experiencing utter pleasure for seven nights and days?’ ‘No, friend.’
‘‘‘Taṃ kiṃ maññathāvuso nigaṇṭhā, pahoti rājā māgadho seniyo bimbisāro, aniñjamāno kāyena, abhāsamāno vācaṃ, cha rattindivāni…pe… pañca rattindivāni… cattāri rattindivāni… tīṇi rattindivāni… dve rattindivāni… ekaṃ rattindivaṃ ekantasukhaṃ paṭisaṃvedī viharitu’nti? ‘No hidaṃ, āvuso’.
‘Các vị nghĩ thế nào, này chư Hiền Nigaṇṭha, vua Seniya Bimbisāra nước Magadha có thể, không cử động thân, không nói ra lời, trong sáu đêm ngày… (như trên)… năm đêm ngày… bốn đêm ngày… ba đêm ngày… hai đêm ngày… một đêm ngày, an trú cảm thọ lạc thuần nhất chăng?’ ‘Thưa Hiền giả, không.’
‘What do you think, friends Nigaṇṭhas, is King Seniya Bimbisāra of Magadha able, without moving his body, without uttering a word, for six nights and days… (and so on)… five nights and days… four nights and days… three nights and days… two nights and days… one night and day, to dwell experiencing utter pleasure?’ ‘No, friend.’
‘‘‘Ahaṃ kho, āvuso nigaṇṭhā, pahomi aniñjamāno kāyena, abhāsamāno vācaṃ, ekaṃ rattindivaṃ ekantasukhaṃ paṭisaṃvedī viharituṃ.
‘Này chư Hiền Nigaṇṭha, Ta có thể, không cử động thân, không nói ra lời, an trú cảm thọ lạc thuần nhất trong một đêm ngày.
‘But I, friends Nigaṇṭhas, am able, without moving my body, without uttering a word, to dwell experiencing utter pleasure for one night and day.
Ahaṃ kho, āvuso nigaṇṭhā, pahomi aniñjamāno kāyena, abhāsamāno vācaṃ, dve rattindivāni… tīṇi rattindivāni… cattāri rattindivāni… pañca rattindivāni… cha rattindivāni… satta rattindivāni ekantasukhaṃ paṭisaṃvedī viharituṃ.
Này chư Hiền Nigaṇṭha, Ta có thể, không cử động thân, không nói ra lời, trong hai đêm ngày… ba đêm ngày… bốn đêm ngày… năm đêm ngày… sáu đêm ngày… bảy đêm ngày, an trú cảm thọ lạc thuần nhất.
I, friends Nigaṇṭhas, am able, without moving my body, without uttering a word, for two nights and days… three nights and days… four nights and days… five nights and days… six nights and days… seven nights and days, to dwell experiencing utter pleasure.
Taṃ kiṃ maññathāvuso nigaṇṭhā, evaṃ sante ko sukhavihāritaro rājā vā māgadho seniyo bimbisāro ahaṃ vā’ti? ‘Evaṃ sante āyasmāva gotamo sukhavihāritaro raññā māgadhena seniyena bimbisārenā’’’ti.
Các vị nghĩ thế nào, này chư Hiền Nigaṇṭha, như vậy thì ai sống an lạc hơn: vua Seniya Bimbisāra nước Magadha hay là Ta?’ ‘Như vậy thì chính Tôn giả Gotama sống an lạc hơn vua Seniya Bimbisāra nước Magadha.’”
What do you think, friends Nigaṇṭhas, that being so, who dwells in greater pleasure: King Seniya Bimbisāra of Magadha or I?’ ‘That being so, the venerable Gotama dwells in greater pleasure than King Seniya Bimbisāra of Magadha.’”
Idamavoca bhagavā. Attamano mahānāmo sakko bhagavato bhāsitaṃ abhinandīti.
Đức Thế Tôn đã nói như vậy. Mahānāma người Sakya hoan hỷ, tín thọ lời Đức Thế Tôn dạy.
This is what the Blessed One said. Mahānāma the Sakyan was satisfied and delighted in the Blessed One’s words.
Chú thích: Theo Chú giải, “lạc thuần nhất” (ekantasukha) mà Thế Tôn có thể an trú suốt bảy đêm ngày là lạc của quả định (phalasamāpatti). Như vậy kinh khép lại bằng chính điểm đã nêu ở §177: con đường thoát khỏi dục không phải là ép xác, mà là một lạc cao hơn, an tịnh hơn lạc của dục. Rattindiva “đêm-ngày” (một ngày đêm trọn vẹn) – thứ tự “đêm trước ngày” được giữ trong bản dịch. Aniñjamāna: hiện tại phân từ phủ định của iñjati “cử động, lay động”. Trong §180.14–17, dấu “…” không có pe là tỉnh lược của chính nguồn VRI.
Cūḷadukkhakkhandhasuttaṃ niṭṭhitaṃ catutthaṃ.
Tiểu Kinh Khổ Uẩn, kinh thứ tư, chấm dứt.
The Shorter Discourse on the Mass of Suffering, the fourth, is finished.

Thuật ngữ then chốt trong MN 14

PāliTiếng ViệtEnglishGhi chú
upakkilesacấu uế (của tâm)defilementTham, sân, si được gọi là cấu uế của tâm (§175).
pariyādāya tiṭṭhatichiếm cứ mà đứng vữnginvades and remainsDiễn tả phiền não chiếm trọn tâm trong một lúc (§175–176).
assādavị ngọtgratificationLạc và hỷ khởi lên do duyên năm dục công đức (§178).
ādīnavasự nguy hạidangerKhối khổ thiết thực hiện tại và thuộc đời sau (§178).
kāmaguṇadục công đứccord of sensual pleasureNăm đối tượng khả ái của năm căn (§178).
dukkhakkhandhakhối khổmass of sufferingTên kinh lấy từ điệp khúc ở §178.
pītisukhahỷ và lạcrapture and pleasure“Tách khỏi các dục”: theo Chú giải là hỷ lạc của các thiền đầu (§177).
anāvaṭṭīkhông bị kéo trở lạinot drawn backNgười không còn bị các dục lôi kéo (§177).
nijjīreti / nijjiṇṇalàm tiêu mòn / đã tiêu mònto wear away / worn awayThuật ngữ của giáo thuyết Nigaṇṭha về tiêu nghiệp bằng khổ hạnh (§179–180).
ekantasukhalạc thuần nhấtutter pleasureTheo Chú giải là lạc của quả định (§180).
Một câu ghi nhớ: Thấy nguy hại của dục bằng trí tuệ là cần nhưng chưa đủ; tâm chỉ thôi bị dục kéo trở lại khi đã nếm được hỷ lạc ly dục hay một lạc an tịnh hơn – và lạc ấy không đến từ ép xác khổ hạnh.

Đọc tiếp

Nguồn tham khảo

  1. Bản Pāli: Chaṭṭha Saṅgāyana Tipiṭaka, Majjhimanikāya, Mūlapaṇṇāsapāḷi, Cūḷadukkhakkhandhasutta (MN 14) – Vipassana Research Institute: tipitaka.org
  2. Đối chiếu đoạn văn: SuttaCentral – MN 14
  3. Chú giải: Papañcasūdanī (Majjhimanikāya-aṭṭhakathā), phần Cūḷadukkhakkhandhasuttavaṇṇanā – bản VRI tại tipitaka.org
  4. Đối chiếu nghĩa (không trích lời dịch): HT. Thích Minh Châu; Bhikkhu Ñāṇamoli & Bhikkhu Bodhi; Bhikkhu Sujato.
Bản dịch Việt – Anh trên trang này do Theravada.blog thực hiện trực tiếp từ Pāli, theo lối sát chữ dành cho người học Pāli. Nếu quý độc giả phát hiện chỗ cần sửa, xin để lại bình luận.

Tải bản song ngữ Pāli – Việt – Anh (MN 14)
Toàn bộ bản văn ba cột Pāli – Tiếng Việt – English của bài này, kèm chú thích và bảng thuật ngữ: bản PDF khổ ngang để in và đọc ngoại tuyến, bản Excel để tra cứu, lọc và học theo từng đoạn.

Tải PDFTải Excel (.xlsx)