Kinh Thừa Tự Pháp (Dhammadāyādasutta, MN 3) là bài kinh thứ ba của Trung Bộ Kinh: Đức Thế Tôn khuyên các tỳ-khưu hãy là người thừa tự Pháp chứ không phải thừa tự tài vật, rồi Tôn giả Sāriputta giảng về việc học theo hạnh viễn ly của bậc Đạo Sư và trung đạo đoạn trừ mười sáu pháp ác. Trang này đặt nguyên văn Pāli bản Chaṭṭha Saṅgāyana (VRI) song song với bản dịch tiếng Việt và tiếng Anh sát chữ, từng đoạn một, kèm chú thích thuật ngữ cho người học Pāli.
Hồ sơ bản văn
Tạng: Sutta Piṭaka › Majjhimanikāya › Mūlapaṇṇāsapāḷi › 1. Mūlapariyāyavagga › 3. Dhammadāyādasutta
Nơi thuyết: Sāvatthī, rừng Jeta, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika
Người nói: Đức Thế Tôn (§29–30); Tôn giả Sāriputta (§31–33)
Người nghe: các tỳ-khưu
Bản Pāli: Chaṭṭha Saṅgāyana Tipiṭaka, Vipassana Research Institute (tipitaka.org), đoạn §29–33
Bản dịch: Theravada.blog, dịch trực tiếp từ Pāli sang Việt và Anh, văn phong sát chữ
Tạng: Sutta Piṭaka › Majjhimanikāya › Mūlapaṇṇāsapāḷi › 1. Mūlapariyāyavagga › 3. Dhammadāyādasutta
Nơi thuyết: Sāvatthī, rừng Jeta, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika
Người nói: Đức Thế Tôn (§29–30); Tôn giả Sāriputta (§31–33)
Người nghe: các tỳ-khưu
Bản Pāli: Chaṭṭha Saṅgāyana Tipiṭaka, Vipassana Research Institute (tipitaka.org), đoạn §29–33
Bản dịch: Theravada.blog, dịch trực tiếp từ Pāli sang Việt và Anh, văn phong sát chữ
Mục lục
Quy ước trình bày · §29: Duyên khởi: hãy là người thừa tự Pháp · §30: Ví dụ đồ ăn khất thực còn dư · §31: Tôn giả Sāriputta: ba điểm đáng chê · §32: Ba điểm đáng khen · §33: Trung đạo đoạn trừ mười sáu pháp ác · Thuật ngữ · Nguồn
Quy ước trình bày · §29: Duyên khởi: hãy là người thừa tự Pháp · §30: Ví dụ đồ ăn khất thực còn dư · §31: Tôn giả Sāriputta: ba điểm đáng chê · §32: Ba điểm đáng khen · §33: Trung đạo đoạn trừ mười sáu pháp ác · Thuật ngữ · Nguồn
Quy ước trình bày
- Mỗi hàng gồm ba ô: Pāli (nền kem, in nghiêng) · Tiếng Việt · English. Trên điện thoại, ba ô tự xếp dọc theo thứ tự đó.
- Số đoạn (§) theo bản VRI; ví dụ “MN 3 §30.4” là ý thứ tư trong đoạn 30. Bản VRI đánh số liên tục trong cả Mūlapaṇṇāsa, nên MN 3 bắt đầu từ §29.
- Chữ nhỏ màu xám trong ngoặc vuông là dị bản do chính bản VRI ghi: sī. (Tích Lan), syā. (Thái), kaṃ. (Campuchia), pī. (PTS), ka. (một bản khác).
- …pe… là ký hiệu tỉnh lược của bản Pāli; bản dịch giữ nguyên chỗ lược, ghi “(như trên)” / “(and so on)”.
- Dịch sát chữ: giữ trật tự và hình thái của câu Pāli, không thêm chữ diễn giải vào thân bản dịch. Phần giải thích, kể cả ý của Chú giải, đặt riêng trong các dòng Chú thích.
Bản văn song ngữ Pāli – Việt – Anh
Pāli (VRI)
Tiếng Việt
English
§29 – Duyên khởi: hãy là người thừa tự Pháp
Evaṃ me sutaṃ – ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tôi nghe như vầy – một thời, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī, trong rừng Jeta, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika.
Thus have I heard – on one occasion the Blessed One was dwelling at Sāvatthī, in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s park.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi – ‘‘bhikkhavo’’ti. ‘‘Bhadante’’ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṃ. Bhagavā etadavoca –
Tại đó, Đức Thế Tôn gọi các tỳ-khưu: “Này các tỳ-khưu.” – “Bạch Thế Tôn”, các tỳ-khưu ấy đáp lời Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn nói điều này:
There the Blessed One addressed the bhikkhus: “Bhikkhus.” – “Venerable sir,” those bhikkhus replied to the Blessed One. The Blessed One said this:
‘‘Dhammadāyādā me, bhikkhave, bhavatha, mā āmisadāyādā. Atthi me tumhesu anukampā – ‘kinti me sāvakā dhammadāyādā bhaveyyuṃ, no āmisadāyādā’ti.
“Này các tỳ-khưu, hãy là những người thừa tự Pháp của Ta, chớ là những người thừa tự tài vật. Ta có lòng thương tưởng đối với các ông: ‘Làm sao để các đệ tử của Ta là những người thừa tự Pháp, không phải những người thừa tự tài vật?’
“Bhikkhus, be my heirs in Dhamma, not heirs in material things. There is compassion in me for you: ‘How might my disciples be heirs in Dhamma, not heirs in material things?’
Chú thích: dhammadāyāda = dhamma + dāyāda (người thừa hưởng, người thừa tự); āmisa nghĩa gốc là “miếng mồi, thịt”, từ đó chỉ vật chất, tài vật, đối lập với Pháp. me ở đây là thuộc cách/chỉ định cách: “người thừa tự của Ta”. Theo Chú giải, “Pháp” để thừa tự gồm hai tầng: Pháp theo nghĩa trực tiếp (đạo, quả, Niết-bàn) và Pháp theo nghĩa gián tiếp (các thiện hạnh đưa đến đó); “tài vật” là bốn vật dụng và những gì dẫn đến chúng.
Tumhe ca me, bhikkhave, āmisadāyādā bhaveyyātha no dhammadāyādā, tumhepi tena ādiyā [ādissā (sī. syā. pī.)] bhaveyyātha – ‘āmisadāyādā satthusāvakā viharanti, no dhammadāyādā’ti; ahampi tena ādiyo bhaveyyaṃ – ‘āmisadāyādā satthusāvakā viharanti, no dhammadāyādā’ti.
Này các tỳ-khưu, nếu các ông là những người thừa tự tài vật của Ta, không phải những người thừa tự Pháp, thì vì điều ấy chính các ông cũng sẽ bị chỉ trích: ‘Các đệ tử của bậc Đạo Sư sống làm người thừa tự tài vật, không phải người thừa tự Pháp’; và vì điều ấy chính Ta cũng sẽ bị chỉ trích: ‘Các đệ tử của bậc Đạo Sư sống làm người thừa tự tài vật, không phải người thừa tự Pháp.’
And if you, bhikkhus, were my heirs in material things, not heirs in Dhamma, you too would be reproached for that: ‘The Teacher’s disciples live as heirs in material things, not heirs in Dhamma’; and I too would be reproached for that: ‘The Teacher’s disciples live as heirs in material things, not heirs in Dhamma.’
Tumhe ca me, bhikkhave, dhammadāyādā bhaveyyātha, no āmisadāyādā, tumhepi tena na ādiyā bhaveyyātha – ‘dhammadāyādā satthusāvakā viharanti, no āmisadāyādā’ti; ahampi tena na ādiyo bhaveyyaṃ – ‘dhammadāyādā satthusāvakā viharanti, no āmisadāyādā’ti.
Này các tỳ-khưu, nếu các ông là những người thừa tự Pháp của Ta, không phải những người thừa tự tài vật, thì vì điều ấy chính các ông cũng sẽ không bị chỉ trích: ‘Các đệ tử của bậc Đạo Sư sống làm người thừa tự Pháp, không phải người thừa tự tài vật’; và vì điều ấy chính Ta cũng sẽ không bị chỉ trích: ‘Các đệ tử của bậc Đạo Sư sống làm người thừa tự Pháp, không phải người thừa tự tài vật.’
And if you, bhikkhus, were my heirs in Dhamma, not heirs in material things, you too would not be reproached for that: ‘The Teacher’s disciples live as heirs in Dhamma, not heirs in material things’; and I too would not be reproached for that: ‘The Teacher’s disciples live as heirs in Dhamma, not heirs in material things.’
Chú thích: Trong Tumhe ca me … bhaveyyātha, tiểu từ ca đi với động từ ở cách khả năng (optative) mang nghĩa điều kiện “nếu”. ādiya (dị bản ādissa) là tính từ khả năng: “đáng bị chỉ ra, đáng bị nêu tên”; theo Chú giải, ở đây là bị chỉ ra để chê trách, nên bản dịch ghi “bị chỉ trích”.
Tasmātiha me, bhikkhave, dhammadāyādā bhavatha, mā āmisadāyādā. Atthi me tumhesu anukampā – ‘kinti me sāvakā dhammadāyādā bhaveyyuṃ, no āmisadāyādā’ti.
Vì vậy, này các tỳ-khưu, hãy là những người thừa tự Pháp của Ta, chớ là những người thừa tự tài vật. Ta có lòng thương tưởng đối với các ông: ‘Làm sao để các đệ tử của Ta là những người thừa tự Pháp, không phải những người thừa tự tài vật?’
Therefore, bhikkhus, be my heirs in Dhamma, not heirs in material things. There is compassion in me for you: ‘How might my disciples be heirs in Dhamma, not heirs in material things?’
§30 – Ví dụ đồ ăn khất thực còn dư
‘‘Idhāhaṃ, bhikkhave, bhuttāvī assaṃ pavārito paripuṇṇo pariyosito suhito yāvadattho; siyā ca me piṇḍapāto atirekadhammo chaḍḍanīyadhammo [chaḍḍiyadhammo (sī. syā. pī.)].
“Ở đây, này các tỳ-khưu, giả sử Ta đã ăn xong, đã từ chối thêm, đã đủ, đã xong bữa, đã no, theo như ý muốn; và có đồ ăn khất thực của Ta là thứ còn dư, thứ phải bỏ đi.
“Here, bhikkhus, suppose I had eaten, had refused more, were satisfied, had finished, were sated, as much as I wanted; and there were almsfood of mine that was surplus, to be thrown away.
Chú thích: Toàn bộ §30 là một tình huống giả định, nên các động từ đều ở cách khả năng: assaṃ (“giả sử Ta là”), siyā, āgaccheyyuṃ, vadeyyaṃ, evamassa (= evaṃ assa, “vị ấy có thể nghĩ như vầy”). pavārito là thuật ngữ Luật: đã từ chối khi được mời thêm thức ăn; sau đó, theo Luật, tỳ-khưu không được ăn thêm thức ăn chưa được làm phép “đồ thừa”. -dhamma cuối từ ghép (atirekadhammo, chaḍḍanīyadhammo) nghĩa là “có tính chất”: “thuộc loại dư”, “thuộc loại phải bỏ”.
Atha dve bhikkhū āgaccheyyuṃ jighacchādubbalya- [jighacchādubballa (sī. pī.)] paretā.
Rồi có hai tỳ-khưu đi đến, bị đói lả và yếu sức chế ngự.
Then two bhikkhus might come, overcome by hunger and weakness.
Tyāhaṃ evaṃ vadeyyaṃ – ‘ahaṃ khomhi, bhikkhave, bhuttāvī pavārito paripuṇṇo pariyosito suhito yāvadattho; atthi ca me ayaṃ piṇḍapāto atirekadhammo chaḍḍanīyadhammo.
Ta sẽ nói với họ như vầy: ‘Này các tỳ-khưu, Ta đã ăn xong, đã từ chối thêm, đã đủ, đã xong bữa, đã no, theo như ý muốn; và có đồ ăn khất thực này của Ta, thứ còn dư, thứ phải bỏ đi.
I would speak to them thus: ‘Bhikkhus, I have eaten, have refused more, am satisfied, have finished, am sated, as much as I wanted; and there is this almsfood of mine that is surplus, to be thrown away.
Sace ākaṅkhatha, bhuñjatha, no ce tumhe bhuñjissatha [sace tumhe na bhuñjissatha (sī. syā. pī.)], idānāhaṃ appaharite vā chaḍḍessāmi, appāṇake vā udake opilāpessāmī’ti.
Nếu các ông muốn, hãy ăn; nếu các ông không ăn, thì bây giờ Ta sẽ bỏ nó nơi chỗ ít cỏ xanh, hoặc thả chìm nó trong nước không có sinh vật.’
If you wish, eat it; if you will not eat it, I will now throw it away where there is little greenery, or drop it into water where there are no living beings.’
Tatrekassa bhikkhuno evamassa – ‘bhagavā kho bhuttāvī pavārito paripuṇṇo pariyosito suhito yāvadattho; atthi cāyaṃ bhagavato piṇḍapāto atirekadhammo chaḍḍanīyadhammo. Sace mayaṃ na bhuñjissāma, idāni bhagavā appaharite vā chaḍḍessati, appāṇake vā udake opilāpessati’.
Ở đây, một tỳ-khưu có thể nghĩ như vầy: ‘Đức Thế Tôn đã ăn xong, đã từ chối thêm, đã đủ, đã xong bữa, đã no, theo như ý muốn; và có đồ ăn khất thực này của Đức Thế Tôn, thứ còn dư, thứ phải bỏ đi. Nếu chúng ta không ăn, bây giờ Đức Thế Tôn sẽ bỏ nó nơi chỗ ít cỏ xanh, hoặc thả chìm nó trong nước không có sinh vật.’
There one bhikkhu might think thus: ‘The Blessed One has eaten, has refused more, is satisfied, has finished, is sated, as much as he wanted; and there is this almsfood of the Blessed One that is surplus, to be thrown away. If we do not eat it, the Blessed One will now throw it away where there is little greenery, or drop it into water where there are no living beings.’
Vuttaṃ kho panetaṃ bhagavatā – ‘dhammadāyādā me, bhikkhave, bhavatha, mā āmisadāyādā’ti. Āmisaññataraṃ kho panetaṃ, yadidaṃ piṇḍapāto.
‘Nhưng điều này đã được Đức Thế Tôn nói: “Này các tỳ-khưu, hãy là những người thừa tự Pháp của Ta, chớ là những người thừa tự tài vật.” Mà đây là một loại tài vật, tức là đồ ăn khất thực.
‘But this was said by the Blessed One: “Bhikkhus, be my heirs in Dhamma, not heirs in material things.” And this is one kind of material thing, namely almsfood.
Yaṃnūnāhaṃ imaṃ piṇḍapātaṃ abhuñjitvā imināva jighacchādubbalyena evaṃ imaṃ rattindivaṃ [rattidivaṃ (ka.)] vītināmeyya’’nti. So taṃ piṇḍapātaṃ abhuñjitvā teneva jighacchādubbalyena evaṃ taṃ rattindivaṃ vītināmeyya.
Vậy ta hãy không ăn đồ ăn khất thực này, và với chính sự đói lả yếu sức này, trải qua ngày đêm này như vậy.’ Rồi vị ấy không ăn đồ ăn khất thực ấy, và với chính sự đói lả yếu sức ấy, trải qua ngày đêm ấy như vậy.
What if I, without eating this almsfood, were to pass this day and night thus, with this very hunger and weakness?’ He, without eating that almsfood, would pass that day and night thus, with that very hunger and weakness.
Atha dutiyassa bhikkhuno evamassa – ‘bhagavā kho bhuttāvī pavārito paripuṇṇo pariyosito suhito yāvadattho; atthi cāyaṃ bhagavato piṇḍapāto atirekadhammo chaḍḍanīyadhammo. Sace mayaṃ na bhuñjissāma, idāni bhagavā appaharite vā chaḍḍessati, appāṇake vā udake opilāpessati.
Rồi tỳ-khưu thứ hai có thể nghĩ như vầy: ‘Đức Thế Tôn đã ăn xong, đã từ chối thêm, đã đủ, đã xong bữa, đã no, theo như ý muốn; và có đồ ăn khất thực này của Đức Thế Tôn, thứ còn dư, thứ phải bỏ đi. Nếu chúng ta không ăn, bây giờ Đức Thế Tôn sẽ bỏ nó nơi chỗ ít cỏ xanh, hoặc thả chìm nó trong nước không có sinh vật.
Then the second bhikkhu might think thus: ‘The Blessed One has eaten, has refused more, is satisfied, has finished, is sated, as much as he wanted; and there is this almsfood of the Blessed One that is surplus, to be thrown away. If we do not eat it, the Blessed One will now throw it away where there is little greenery, or drop it into water where there are no living beings.
Yaṃnūnāhaṃ imaṃ piṇḍapātaṃ bhuñjitvā jighacchādubbalyaṃ paṭivinodetvā [paṭivinetvā (sī. syā. pī.)] evaṃ imaṃ rattindivaṃ vītināmeyya’nti. So taṃ piṇḍapātaṃ bhuñjitvā jighacchādubbalyaṃ paṭivinodetvā evaṃ taṃ rattindivaṃ vītināmeyya.
Vậy ta hãy ăn đồ ăn khất thực này, xua tan sự đói lả yếu sức, rồi trải qua ngày đêm này như vậy.’ Rồi vị ấy ăn đồ ăn khất thực ấy, xua tan sự đói lả yếu sức, rồi trải qua ngày đêm ấy như vậy.
What if I, having eaten this almsfood and dispelled my hunger and weakness, were to pass this day and night thus?’ He, having eaten that almsfood and dispelled his hunger and weakness, would pass that day and night thus.
Kiñcāpi so, bhikkhave, bhikkhu taṃ piṇḍapātaṃ bhuñjitvā jighacchādubbalyaṃ paṭivinodetvā evaṃ taṃ rattindivaṃ vītināmeyya, atha kho asuyeva me purimo bhikkhu pujjataro ca pāsaṃsataro ca.
Này các tỳ-khưu, dù tỳ-khưu ấy ăn đồ ăn khất thực ấy, xua tan sự đói lả yếu sức, rồi trải qua ngày đêm ấy như vậy, nhưng đối với Ta, chính vị tỳ-khưu trước kia đáng tôn kính hơn và đáng tán thán hơn.
Although that bhikkhu, bhikkhus, having eaten that almsfood and dispelled his hunger and weakness, would pass that day and night thus, yet that former bhikkhu is to me more to be honoured and more to be praised.
Taṃ kissa hetu? Tañhi tassa, bhikkhave, bhikkhuno dīgharattaṃ appicchatāya santuṭṭhiyā sallekhāya subharatāya vīriyārambhāya saṃvattissati.
Vì cớ sao? Vì điều ấy, này các tỳ-khưu, sẽ dẫn tỳ-khưu ấy lâu dài đến ít dục, tri túc, đoạn giảm, dễ nuôi, khởi sự tinh tấn.
For what reason? Because that, bhikkhus, will lead that bhikkhu for a long time to fewness of wishes, contentment, effacement, being easy to support, and the arousing of energy.
Chú thích: asuyeva = asu (đại từ chỉ định “người kia”) + eva. pujjataro, pāsaṃsataro là so sánh hơn (-tara) của pujja (đáng tôn kính) và pāsaṃsa (đáng khen). Năm danh từ ở chỉ định cách / cách mục đích (appicchatāya … vīriyārambhāya) đi với saṃvattissati: “sẽ đưa đến”. sallekha là “gọt giũa, đoạn giảm” phiền não – chủ đề của MN 8.
Tasmātiha me, bhikkhave, dhammadāyādā bhavatha, mā āmisadāyādā. Atthi me tumhesu anukampā – ‘kinti me sāvakā dhammadāyādā bhaveyyuṃ, no āmisadāyādā’’’ti.
Vì vậy, này các tỳ-khưu, hãy là những người thừa tự Pháp của Ta, chớ là những người thừa tự tài vật. Ta có lòng thương tưởng đối với các ông: ‘Làm sao để các đệ tử của Ta là những người thừa tự Pháp, không phải những người thừa tự tài vật?’”
Therefore, bhikkhus, be my heirs in Dhamma, not heirs in material things. There is compassion in me for you: ‘How might my disciples be heirs in Dhamma, not heirs in material things?’”
Idamavoca bhagavā. Idaṃ vatvāna [vatvā (sī. pī.) evamīdisesu ṭhānesu] sugato uṭṭhāyāsanā vihāraṃ pāvisi.
Đức Thế Tôn đã nói như vậy. Nói xong điều ấy, bậc Thiện Thệ từ chỗ ngồi đứng dậy và đi vào tịnh xá.
This the Blessed One said. Having said this, the Sublime One rose from his seat and entered his dwelling.
§31 – Tôn giả Sāriputta: ba điểm đáng chê
Tatra kho āyasmā sāriputto acirapakkantassa bhagavato bhikkhū āmantesi – ‘‘āvuso bhikkhave’’ti. ‘‘Āvuso’’ti kho te bhikkhū āyasmato sāriputtassa paccassosuṃ. Āyasmā sāriputto etadavoca –
Tại đó, khi Đức Thế Tôn đi chưa bao lâu, Tôn giả Sāriputta gọi các tỳ-khưu: “Này chư hiền tỳ-khưu.” – “Thưa hiền giả”, các tỳ-khưu ấy đáp lời Tôn giả Sāriputta. Tôn giả Sāriputta nói điều này:
There, soon after the Blessed One had left, the venerable Sāriputta addressed the bhikkhus: “Friends, bhikkhus.” – “Friend,” those bhikkhus replied to the venerable Sāriputta. The venerable Sāriputta said this:
‘‘Kittāvatā nu kho, āvuso, satthu pavivittassa viharato sāvakā vivekaṃ nānusikkhanti, kittāvatā ca pana satthu pavivittassa viharato sāvakā vivekamanusikkhantī’’ti?
“Này chư hiền, đến mức độ nào, khi bậc Đạo Sư sống viễn ly, các đệ tử không học theo sự viễn ly; và đến mức độ nào, khi bậc Đạo Sư sống viễn ly, các đệ tử học theo sự viễn ly?”
“To what extent, friends, while the Teacher dwells secluded, do the disciples not train in seclusion; and to what extent, while the Teacher dwells secluded, do the disciples train in seclusion?”
‘‘Dūratopi kho mayaṃ, āvuso, āgacchāma āyasmato sāriputtassa santike etassa bhāsitassa atthamaññātuṃ. Sādhu vatāyasmantaṃyeva sāriputtaṃ paṭibhātu etassa bhāsitassa attho; āyasmato sāriputtassa sutvā bhikkhū dhāressantī’’ti.
“Thưa hiền giả, chúng tôi dù từ xa cũng đến bên Tôn giả Sāriputta để hiểu ý nghĩa của lời nói này. Lành thay, mong rằng ý nghĩa của lời nói này hiện rõ nơi chính Tôn giả Sāriputta; nghe từ Tôn giả Sāriputta, các tỳ-khưu sẽ thọ trì.”
“Friend, we come even from far away to the presence of the venerable Sāriputta to learn the meaning of this statement. It would be good indeed if the meaning of this statement would become clear to the venerable Sāriputta himself; having heard it from the venerable Sāriputta, the bhikkhus will retain it.”
‘‘Tena hāvuso, suṇātha, sādhukaṃ manasi karotha, bhāsissāmī’’ti. ‘‘Evamāvuso’’ti kho te bhikkhū āyasmato sāriputtassa paccassosuṃ. Āyasmā sāriputto etadavoca –
“Vậy thì, này chư hiền, hãy nghe, hãy khéo tác ý, tôi sẽ nói.” – “Thưa vâng, hiền giả”, các tỳ-khưu ấy đáp lời Tôn giả Sāriputta. Tôn giả Sāriputta nói điều này:
“Then, friends, listen and attend closely, I will speak.” – “Yes, friend,” those bhikkhus replied to the venerable Sāriputta. The venerable Sāriputta said this:
‘‘Kittāvatā nu kho, āvuso, satthu pavivittassa viharato sāvakā vivekaṃ nānusikkhanti? Idhāvuso, satthu pavivittassa viharato sāvakā vivekaṃ nānusikkhanti, yesañca dhammānaṃ satthā pahānamāha, te ca dhamme nappajahanti, bāhulikā [bāhullikā (syā.)] ca honti, sāthalikā, okkamane pubbaṅgamā, paviveke nikkhittadhurā.
“Này chư hiền, đến mức độ nào, khi bậc Đạo Sư sống viễn ly, các đệ tử không học theo sự viễn ly? Ở đây, này chư hiền, khi bậc Đạo Sư sống viễn ly, các đệ tử không học theo sự viễn ly; những pháp nào bậc Đạo Sư đã nói là phải đoạn trừ, họ không đoạn trừ các pháp ấy; họ sống sung túc, lơi lỏng, đi đầu trong sự sa sút, buông bỏ gánh vác trong sự viễn ly.
“To what extent, friends, while the Teacher dwells secluded, do the disciples not train in seclusion? Here, friends, while the Teacher dwells secluded, the disciples do not train in seclusion; they do not abandon those things which the Teacher spoke of abandoning; they are luxurious and lax, forerunners in backsliding, having laid down the burden of seclusion.
Chú thích: satthu pavivittassa viharato lại là thuộc cách tuyệt đối: “khi bậc Đạo Sư sống viễn ly”. anusikkhati = anu + sikkhati, “học theo, noi theo”. Theo Chú giải, viveka ở đây gồm ba loại: thân viễn ly (kāyaviveka), tâm viễn ly (cittaviveka) và y viễn ly (upadhiviveka, tức Niết-bàn); và okkamana (“sự đi xuống, sa sút”) được giải thích là năm triền cái. nikkhittadhura là “người đã đặt gánh (dhura) xuống”, tức không còn gánh vác.
Tatrāvuso, therā bhikkhū tīhi ṭhānehi gārayhā bhavanti. ‘Satthu pavivittassa viharato sāvakā vivekaṃ nānusikkhantī’ti – iminā paṭhamena ṭhānena therā bhikkhū gārayhā bhavanti.
Ở đây, này chư hiền, các tỳ-khưu trưởng lão đáng bị chê trách vì ba điểm. ‘Khi bậc Đạo Sư sống viễn ly, các đệ tử không học theo sự viễn ly’ – vì điểm thứ nhất này, các tỳ-khưu trưởng lão đáng bị chê trách.
Herein, friends, elder bhikkhus are blameworthy on three grounds. ‘While the Teacher dwells secluded, the disciples do not train in seclusion’ – on this first ground elder bhikkhus are blameworthy.
‘Yesañca dhammānaṃ satthā pahānamāha te ca dhamme nappajahantī’ti – iminā dutiyena ṭhānena therā bhikkhū gārayhā bhavanti.
‘Những pháp nào bậc Đạo Sư đã nói là phải đoạn trừ, họ không đoạn trừ các pháp ấy’ – vì điểm thứ hai này, các tỳ-khưu trưởng lão đáng bị chê trách.
‘They do not abandon those things which the Teacher spoke of abandoning’ – on this second ground elder bhikkhus are blameworthy.
‘Bāhulikā ca, sāthalikā, okkamane pubbaṅgamā, paviveke nikkhittadhurā’ti – iminā tatiyena ṭhānena therā bhikkhū gārayhā bhavanti. Therā, āvuso, bhikkhū imehi tīhi ṭhānehi gārayhā bhavanti.
‘Sống sung túc, lơi lỏng, đi đầu trong sự sa sút, buông bỏ gánh vác trong sự viễn ly’ – vì điểm thứ ba này, các tỳ-khưu trưởng lão đáng bị chê trách. Này chư hiền, các tỳ-khưu trưởng lão đáng bị chê trách vì ba điểm này.
‘Luxurious and lax, forerunners in backsliding, having laid down the burden of seclusion’ – on this third ground elder bhikkhus are blameworthy. Elder bhikkhus, friends, are blameworthy on these three grounds.
Tatrāvuso, majjhimā bhikkhū…pe… navā bhikkhū tīhi ṭhānehi gārayhā bhavanti. ‘Satthu pavivittassa viharato sāvakā vivekaṃ nānusikkhantī’ti – iminā paṭhamena ṭhānena navā bhikkhū gārayhā bhavanti.
Ở đây, này chư hiền, các tỳ-khưu trung niên… (như trên)… các tỳ-khưu mới tu đáng bị chê trách vì ba điểm. ‘Khi bậc Đạo Sư sống viễn ly, các đệ tử không học theo sự viễn ly’ – vì điểm thứ nhất này, các tỳ-khưu mới tu đáng bị chê trách.
Herein, friends, middle bhikkhus… (and so on)… new bhikkhus are blameworthy on three grounds. ‘While the Teacher dwells secluded, the disciples do not train in seclusion’ – on this first ground new bhikkhus are blameworthy.
‘Yesañca dhammānaṃ satthā pahānamāha te ca dhamme nappajahantī’ti – iminā dutiyena ṭhānena navā bhikkhū gārayhā bhavanti. ‘Bāhulikā ca honti, sāthalikā, okkamane pubbaṅgamā, paviveke nikkhittadhurā’ti – iminā tatiyena ṭhānena navā bhikkhū gārayhā bhavanti.
‘Những pháp nào bậc Đạo Sư đã nói là phải đoạn trừ, họ không đoạn trừ các pháp ấy’ – vì điểm thứ hai này, các tỳ-khưu mới tu đáng bị chê trách. ‘Họ sống sung túc, lơi lỏng, đi đầu trong sự sa sút, buông bỏ gánh vác trong sự viễn ly’ – vì điểm thứ ba này, các tỳ-khưu mới tu đáng bị chê trách.
‘They do not abandon those things which the Teacher spoke of abandoning’ – on this second ground new bhikkhus are blameworthy. ‘They are luxurious and lax, forerunners in backsliding, having laid down the burden of seclusion’ – on this third ground new bhikkhus are blameworthy.
Navā, āvuso, bhikkhū imehi tīhi ṭhānehi gārayhā bhavanti. Ettāvatā kho, āvuso, satthu pavivittassa viharato sāvakā vivekaṃ nānusikkhanti.
Này chư hiền, các tỳ-khưu mới tu đáng bị chê trách vì ba điểm này. Này chư hiền, đến mức độ ấy, khi bậc Đạo Sư sống viễn ly, các đệ tử không học theo sự viễn ly.
New bhikkhus, friends, are blameworthy on these three grounds. To this extent, friends, while the Teacher dwells secluded, the disciples do not train in seclusion.
§32 – Ba điểm đáng khen
‘‘Kittāvatā ca, panāvuso, satthu pavivittassa viharato sāvakā vivekamanusikkhanti?
“Và này chư hiền, đến mức độ nào, khi bậc Đạo Sư sống viễn ly, các đệ tử học theo sự viễn ly?
“And to what extent, friends, while the Teacher dwells secluded, do the disciples train in seclusion?
Idhāvuso, satthu pavivittassa viharato sāvakā vivekamanusikkhanti – yesañca dhammānaṃ satthā pahānamāha te ca dhamme pajahanti; na ca bāhulikā honti, na sāthalikā okkamane nikkhittadhurā paviveke pubbaṅgamā.
Ở đây, này chư hiền, khi bậc Đạo Sư sống viễn ly, các đệ tử học theo sự viễn ly; những pháp nào bậc Đạo Sư đã nói là phải đoạn trừ, họ đoạn trừ các pháp ấy; họ không sống sung túc, không lơi lỏng, buông bỏ gánh vác trong sự sa sút, đi đầu trong sự viễn ly.
Here, friends, while the Teacher dwells secluded, the disciples train in seclusion; they abandon those things which the Teacher spoke of abandoning; they are not luxurious, not lax, they have laid down the burden in backsliding, they are forerunners in seclusion.
Chú thích: Vế khen đảo ngược đúng hai cụm của vế chê: okkamane pubbaṅgamā, paviveke nikkhittadhurā (§31) thành okkamane nikkhittadhurā paviveke pubbaṅgamā (§32). Người học có thể đặt hai câu cạnh nhau để thấy cùng một cặp từ, chỉ đổi chỗ định sở cách (okkamane / paviveke), đã đổi hẳn nghĩa.
Tatrāvuso, therā bhikkhū tīhi ṭhānehi pāsaṃsā bhavanti. ‘Satthu pavivittassa viharato sāvakā vivekamanusikkhantī’ti – iminā paṭhamena ṭhānena therā bhikkhū pāsaṃsā bhavanti.
Ở đây, này chư hiền, các tỳ-khưu trưởng lão đáng được tán thán vì ba điểm. ‘Khi bậc Đạo Sư sống viễn ly, các đệ tử học theo sự viễn ly’ – vì điểm thứ nhất này, các tỳ-khưu trưởng lão đáng được tán thán.
Herein, friends, elder bhikkhus are praiseworthy on three grounds. ‘While the Teacher dwells secluded, the disciples train in seclusion’ – on this first ground elder bhikkhus are praiseworthy.
‘Yesañca dhammānaṃ satthā pahānamāha te ca dhamme pajahantī’ti – iminā dutiyena ṭhānena therā bhikkhū pāsaṃsā bhavanti.
‘Những pháp nào bậc Đạo Sư đã nói là phải đoạn trừ, họ đoạn trừ các pháp ấy’ – vì điểm thứ hai này, các tỳ-khưu trưởng lão đáng được tán thán.
‘They abandon those things which the Teacher spoke of abandoning’ – on this second ground elder bhikkhus are praiseworthy.
‘Na ca bāhulikā, na sāthalikā okkamane nikkhittadhurā paviveke pubbaṅgamā’ti – iminā tatiyena ṭhānena therā bhikkhū pāsaṃsā bhavanti. Therā, āvuso, bhikkhū imehi tīhi ṭhānehi pāsaṃsā bhavanti.
‘Không sống sung túc, không lơi lỏng, buông bỏ gánh vác trong sự sa sút, đi đầu trong sự viễn ly’ – vì điểm thứ ba này, các tỳ-khưu trưởng lão đáng được tán thán. Này chư hiền, các tỳ-khưu trưởng lão đáng được tán thán vì ba điểm này.
‘Not luxurious, not lax, having laid down the burden in backsliding, forerunners in seclusion’ – on this third ground elder bhikkhus are praiseworthy. Elder bhikkhus, friends, are praiseworthy on these three grounds.
Tatrāvuso, majjhimā bhikkhū…pe… navā bhikkhū tīhi ṭhānehi pāsaṃsā bhavanti. ‘Satthu pavivittassa viharato sāvakā vivekamanusikkhantī’ti – iminā paṭhamena ṭhānena navā bhikkhū pāsaṃsā bhavanti.
Ở đây, này chư hiền, các tỳ-khưu trung niên… (như trên)… các tỳ-khưu mới tu đáng được tán thán vì ba điểm. ‘Khi bậc Đạo Sư sống viễn ly, các đệ tử học theo sự viễn ly’ – vì điểm thứ nhất này, các tỳ-khưu mới tu đáng được tán thán.
Herein, friends, middle bhikkhus… (and so on)… new bhikkhus are praiseworthy on three grounds. ‘While the Teacher dwells secluded, the disciples train in seclusion’ – on this first ground new bhikkhus are praiseworthy.
‘Yesañca dhammānaṃ satthā pahānamāha te ca dhamme pajahantī’ti – iminā dutiyena ṭhānena navā bhikkhū pāsaṃsā bhavanti. ‘Na ca bāhulikā, na sāthalikā okkamane nikkhittadhurā paviveke pubbaṅgamā’ti – iminā tatiyena ṭhānena navā bhikkhū pāsaṃsā bhavanti.
‘Những pháp nào bậc Đạo Sư đã nói là phải đoạn trừ, họ đoạn trừ các pháp ấy’ – vì điểm thứ hai này, các tỳ-khưu mới tu đáng được tán thán. ‘Không sống sung túc, không lơi lỏng, buông bỏ gánh vác trong sự sa sút, đi đầu trong sự viễn ly’ – vì điểm thứ ba này, các tỳ-khưu mới tu đáng được tán thán.
‘They abandon those things which the Teacher spoke of abandoning’ – on this second ground new bhikkhus are praiseworthy. ‘Not luxurious, not lax, having laid down the burden in backsliding, forerunners in seclusion’ – on this third ground new bhikkhus are praiseworthy.
Navā, āvuso, bhikkhū imehi tīhi ṭhānehi pāsaṃsā bhavanti. Ettāvatā kho, āvuso, satthu pavivittassa viharato sāvakā vivekamanusikkhanti.
Này chư hiền, các tỳ-khưu mới tu đáng được tán thán vì ba điểm này. Này chư hiền, đến mức độ ấy, khi bậc Đạo Sư sống viễn ly, các đệ tử học theo sự viễn ly.
New bhikkhus, friends, are praiseworthy on these three grounds. To this extent, friends, while the Teacher dwells secluded, the disciples train in seclusion.
§33 – Trung đạo đoạn trừ mười sáu pháp ác
‘‘Tatrāvuso, lobho ca pāpako doso ca pāpako. Lobhassa ca pahānāya dosassa ca pahānāya atthi majjhimā paṭipadā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattati.
“Ở đây, này chư hiền, tham là ác và sân là ác. Để đoạn trừ tham và để đoạn trừ sân, có trung đạo, làm phát sinh mắt, làm phát sinh trí, đưa đến an tịnh, thắng tri, giác ngộ, Niết-bàn.
“Herein, friends, greed is evil and hatred is evil. For the abandoning of greed and for the abandoning of hatred there is the middle way, which gives vision, which gives knowledge, which leads to peace, to direct knowledge, to enlightenment, to Nibbāna.
Katamā ca sā, āvuso, majjhimā paṭipadā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattati? Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, seyyathidaṃ [seyyathīdaṃ (sī. syā. pī.)] – sammādiṭṭhi sammāsaṅkappo sammāvācā sammākammanto sammāājīvo sammāvāyāmo sammāsati sammāsamādhi.
Và này chư hiền, trung đạo ấy là gì, làm phát sinh mắt, làm phát sinh trí, đưa đến an tịnh, thắng tri, giác ngộ, Niết-bàn? Chính là Thánh đạo tám ngành này, tức là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
And what, friends, is that middle way, which gives vision, which gives knowledge, which leads to peace, to direct knowledge, to enlightenment, to Nibbāna? It is just this noble eightfold path, that is: right view, right intention, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, right concentration.
Ayaṃ kho sā, āvuso, majjhimā paṭipadā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattati.
Này chư hiền, đây chính là trung đạo ấy, làm phát sinh mắt, làm phát sinh trí, đưa đến an tịnh, thắng tri, giác ngộ, Niết-bàn.
This, friends, is that middle way, which gives vision, which gives knowledge, which leads to peace, to direct knowledge, to enlightenment, to Nibbāna.
Chú thích: cakkhukaraṇī, ñāṇakaraṇī là tính từ giống cái (-karaṇī, “làm ra”) hợp với paṭipadā; bốn chữ upasamāya … nibbānāya ở cách mục đích đi với saṃvattati (“đưa đến”). Cùng công thức này mở đầu bài pháp đầu tiên (SN 56.11), nhưng ở đây trung đạo được nêu ra như phương tiện đoạn trừ từng cặp pháp ác.
‘‘Tatrāvuso, kodho ca pāpako upanāho ca pāpako…pe… makkho ca pāpako paḷāso ca pāpako, issā ca pāpikā maccherañca pāpakaṃ, māyā ca pāpikā sāṭheyyañca pāpakaṃ, thambho ca pāpako sārambho ca pāpako, māno ca pāpako atimāno ca pāpako, mado ca pāpako pamādo ca pāpako.
“Ở đây, này chư hiền, phẫn nộ là ác và hận là ác… (như trên)… gièm pha là ác và tranh hơn là ác, tật đố là ác và xan tham là ác, man trá là ác và xảo trá là ác, ngoan cố là ác và kình địch là ác, mạn là ác và quá mạn là ác, kiêu là ác và phóng dật là ác.
“Herein, friends, anger is evil and resentment is evil… (and so on)… contempt is evil and insolence is evil, envy is evil and avarice is evil, deceit is evil and fraud is evil, obstinacy is evil and rivalry is evil, conceit is evil and arrogance is evil, vanity is evil and negligence is evil.
Chú thích: Tổng cộng có mười sáu pháp ác, xếp thành tám cặp: tham–sân, phẫn–hận, gièm pha–tranh hơn, tật đố–xan tham, man trá–xảo trá, ngoan cố–kình địch, mạn–quá mạn, kiêu–phóng dật. Chỗ …pe… lược đi công thức trung đạo lặp lại sau từng cặp; bản văn chỉ viết đủ cho cặp đầu (§33.1–3) và cặp cuối (§33.5–7). paḷāsa theo Chú giải là tâm muốn ngang hàng, so đo với người hơn mình; makkha là xóa bỏ, coi nhẹ công đức của người khác. Lưu ý tính từ pāpaka đổi giống theo danh từ: pāpako (giống đực), pāpikā (giống cái: issā, māyā), pāpakaṃ (giống trung: macchera, sāṭheyya).
Madassa ca pahānāya pamādassa ca pahānāya atthi majjhimā paṭipadā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattati.
Để đoạn trừ kiêu và để đoạn trừ phóng dật, có trung đạo, làm phát sinh mắt, làm phát sinh trí, đưa đến an tịnh, thắng tri, giác ngộ, Niết-bàn.
For the abandoning of vanity and for the abandoning of negligence there is the middle way, which gives vision, which gives knowledge, which leads to peace, to direct knowledge, to enlightenment, to Nibbāna.
Katamā ca sā, āvuso, majjhimā paṭipadā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattati? Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, seyyathidaṃ – sammādiṭṭhi sammāsaṅkappo sammāvācā sammākammanto sammāājīvo sammāvāyāmo sammāsati sammāsamādhi.
Và này chư hiền, trung đạo ấy là gì, làm phát sinh mắt, làm phát sinh trí, đưa đến an tịnh, thắng tri, giác ngộ, Niết-bàn? Chính là Thánh đạo tám ngành này, tức là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
And what, friends, is that middle way, which gives vision, which gives knowledge, which leads to peace, to direct knowledge, to enlightenment, to Nibbāna? It is just this noble eightfold path, that is: right view, right intention, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, right concentration.
Ayaṃ kho sā, āvuso, majjhimā paṭipadā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattatī’’ti.
Này chư hiền, đây chính là trung đạo ấy, làm phát sinh mắt, làm phát sinh trí, đưa đến an tịnh, thắng tri, giác ngộ, Niết-bàn.”
This, friends, is that middle way, which gives vision, which gives knowledge, which leads to peace, to direct knowledge, to enlightenment, to Nibbāna.”
Idamavocāyasmā sāriputto. Attamanā te bhikkhū āyasmato sāriputtassa bhāsitaṃ abhinandunti.
Tôn giả Sāriputta đã nói như vậy. Hoan hỷ, các tỳ-khưu ấy tán thưởng lời nói của Tôn giả Sāriputta.
This the venerable Sāriputta said. Satisfied, those bhikkhus delighted in the venerable Sāriputta’s words.
Dhammadāyādasuttaṃ niṭṭhitaṃ tatiyaṃ.
Dứt Kinh Thừa Tự Pháp, kinh thứ ba.
The Discourse on Heirs in Dhamma, the third, is finished.
Thuật ngữ then chốt trong MN 3
| Pāli | Tiếng Việt | English | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| dhammadāyāda | người thừa tự Pháp | heir in Dhamma | Theo Chú giải: thừa hưởng đạo, quả, Niết-bàn và các thiện hạnh dẫn đến đó. |
| āmisadāyāda | người thừa tự tài vật | heir in material things | āmisa: mồi, vật chất; ở §30 đồ ăn khất thực được nêu là một loại āmisa. |
| anukampā | lòng thương tưởng | compassion | Động cơ của lời khuyên: atthi me tumhesu anukampā. |
| pavārita | đã từ chối thêm | has refused more | Thuật ngữ Luật về bữa ăn; quá khứ phân từ của pavāreti. |
| appicchatā · santuṭṭhi · sallekha | ít dục · tri túc · đoạn giảm | fewness of wishes · contentment · effacement | Ba trong năm phẩm chất mà vị tỳ-khưu nhịn đói được dẫn đến (§30). |
| viveka · paviveka | viễn ly | seclusion | Theo Chú giải: thân, tâm và y viễn ly. |
| okkamana | sự sa sút | backsliding | Theo Chú giải: năm triền cái. |
| nikkhittadhura | buông bỏ gánh vác | having laid down the burden | nikkhitta (đặt xuống) + dhura (ách, gánh). |
| majjhimā paṭipadā | trung đạo | the middle way | Ở đây là Thánh đạo tám ngành, phương tiện đoạn trừ từng cặp pháp ác. |
| cakkhukaraṇī · ñāṇakaraṇī | làm phát sinh mắt · làm phát sinh trí | giving vision · giving knowledge | Tính từ giống cái hợp với paṭipadā. |
Một câu ghi nhớ: Ngay cả phần đồ ăn còn dư của Đức Thế Tôn cũng là tài vật (āmisa); người thừa tự Pháp (dhammadāyāda) là người chọn điều đưa mình lâu dài đến ít dục, tri túc, đoạn giảm, dễ nuôi và tinh tấn – và theo Tôn giả Sāriputta, đó là học theo sự viễn ly của bậc Đạo Sư.
Đọc tiếp
- Bài song ngữ trước: MN 2 Kinh Tất Cả Lậu Hoặc – Song Ngữ Pāli Việt Anh
- Bài giảng giải nội dung: MN 3 – Kinh Thừa Tự Pháp (Dhammadāyāda Sutta)
- Toàn bộ Trung Bộ song ngữ: Trung Bộ Song Ngữ Pāli – Việt – Anh
- Trang tổng: Tam Tạng Song Ngữ Pāli – Việt – Anh
- Loạt giảng giải: Blog Kinh Trung Bộ
Nguồn tham khảo
- Bản Pāli: Chaṭṭha Saṅgāyana Tipiṭaka, Majjhimanikāya, Mūlapaṇṇāsapāḷi, Dhammadāyādasutta – Vipassana Research Institute: tipitaka.org
- Đối chiếu đoạn văn: SuttaCentral – MN 3
- Chú giải: Papañcasūdanī (Majjhimanikāya-aṭṭhakathā), phần Dhammadāyādasuttavaṇṇanā – bản VRI tại tipitaka.org
- Đối chiếu nghĩa (không trích lời dịch): HT. Thích Minh Châu; Bhikkhu Ñāṇamoli & Bhikkhu Bodhi; Bhikkhu Sujato.
Bản dịch Việt – Anh trên trang này do Theravada.blog thực hiện trực tiếp từ Pāli, theo lối sát chữ dành cho người học. Nếu quý độc giả phát hiện chỗ cần sửa, xin để lại bình luận.
Tải bản song ngữ Pāli – Việt – Anh (MN 3)
Toàn bộ bản văn ba cột Pāli – Tiếng Việt – English của bài này, kèm chú thích và bảng thuật ngữ: bản PDF khổ ngang để in và đọc ngoại tuyến, bản Excel để tra cứu, lọc và học theo từng đoạn.
Đọc thêm về bài kinh này
