Các Công Thức Lặp (Peyyāla) Trong Kinh Pāli: Đọc Thế Nào Cho Đúng?

Peyyāla là thuật ngữ chỉ việc lược bỏ phần lặp lại trong kinh Pāli, và cũng là tên của ký hiệu …pe… đánh dấu chỗ lược. Khi đọc thấy …pe…, người đọc phải tự “điền” lại đoạn văn theo một mẫu đã có ở trước. Hiểu đúng cơ chế peyyala lặp lại kinh pali giúp tránh hai lỗi thường gặp: đọc lướt qua như thể không có gì bị lược, hoặc điền sai phần bị lược.

Bài viết dùng văn bản Pāli của SuttaCentral (bản Mahāsaṅgīti) và chú giải bản VRI, phân tích bốn kiểu lược qua ví dụ thật, rồi thực hành khôi phục một bài kinh bị lược.

1. Vì sao kinh Pāli lặp lại nhiều như vậy?

Kinh điển được truyền khẩu nhiều thế kỷ trước khi ghi chép. Các công thức cố định giúp người tụng nhớ chính xác: cùng một khung câu, chỉ thay một hai từ. Khi chép lên lá bối và sau này in thành sách, người chép giữ bản đầy đủ một lần và lược những lần sau. Về lịch sử truyền khẩu, xem thêm bài Phương Pháp Truyền Khẩu Kinh Điển.

Hệ quả là văn bản ta đọc ngày nay ngắn hơn nhiều so với văn bản được tụng. Người đọc có trách nhiệm hình dung lại phần bị lược.

2. Kiểu 1: lược phần mở đầu (nidāna)

Nhiều bài kinh trong Tương Ưng Bộ không ghi đầy đủ câu evaṃ me sutaṃ… mà chỉ ghi gọn:

“Sāvatthinidānaṃ.” (SN 45.91)

(Duyên khởi) tại Sāvatthī.

Một từ ghép thay cho cả đoạn: “Tôi nghe như vầy. Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, vườn ông Anāthapiṇḍika. Tại đây Thế Tôn gọi các tỳ-kheo…”. Người đọc cần biết rằng đây vẫn là một bài kinh có đầy đủ duyên khởi, chỉ là không được chép ra. Phân tích câu mở đầu ấy có trong bài “Evaṃ Me Sutaṃ”: Phân Tích Ngữ Pháp.

3. Kiểu 2: lược giữa một danh sách

Cũng trong SN 45.91, Đức Phật nói về tám chi đạo, nhưng văn bản chỉ ghi chi đầu và chi cuối:

“Idha, bhikkhave, bhikkhu sammādiṭṭhiṃ bhāveti vivekanissitaṃ virāganissitaṃ nirodhanissitaṃ vossaggapariṇāmiṃ …pe… sammāsamādhiṃ bhāveti vivekanissitaṃ virāganissitaṃ nirodhanissitaṃ vossaggapariṇāmiṃ.” (SN 45.91)

Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập chánh kiến y cứ viễn ly, y cứ ly tham, y cứ đoạn diệt, hướng đến từ bỏ …pe… tu tập chánh định y cứ viễn ly, y cứ ly tham, y cứ đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.

Cách đọc: lấy khung câu của chi đầu tiên, thay lần lượt sáu chi ở giữa. Khi khôi phục, phần bị lược là (văn bản của chúng tôi dựng lại, không phải trích dẫn): sammāsaṅkappaṃ bhāveti vivekanissitaṃ… sammāvācaṃ… sammākammantaṃ… sammāājīvaṃ… sammāvāyāmaṃ… sammāsatiṃ bhāveti vivekanissitaṃ virāganissitaṃ nirodhanissitaṃ vossaggapariṇāmiṃ. Chú ý: mỗi chi phải đổi sang cách thứ hai (sammāvācaṃ, không phải sammāvācā) vì là tân ngữ của bhāveti. Bản dịch Anh của Bhikkhu Sujato liệt kê đủ tám chi, nghĩa là người dịch đã điền lại phần lược.

4. Kiểu 3: lược giữa câu

Có khi …pe… nằm ngay giữa một câu, cắt bỏ một phần quen thuộc. Trong kinh Chuyển Pháp Luân:

“Taṃ kho panidaṃ dukkhaṃ ariyasaccaṃ pariññeyyan’ti me, bhikkhave, pubbe …pe… udapādi.” (SN 56.11)

“Thánh đế về khổ này cần được liễu tri”: này các tỳ-kheo, đối với ta, trước đây …pe… đã khởi lên.

Phần bị lược được lấy từ câu đầy đủ ngay trước đó trong cùng bài kinh: ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi, ñāṇaṃ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko. Người đọc phải chép trọn năm vế “mắt, trí, tuệ, minh, ánh sáng” vào chỗ trống.

5. Kiểu 4: lược cả bài kinh

Đây là kiểu khiến số lượng kinh trở nên khó đếm. Phẩm thứ chín của Tương Ưng Đạo mang tên Gaṅgāpeyyālavagga, “phẩm lược lặp về sông Hằng”. Bài đầu tiên (SN 45.91) được chép đầy đủ với hình ảnh sông Hằng chảy về phương đông. Bốn bài tiếp theo được chép như sau:

“Seyyathāpi, bhikkhave, yamunā nadī pācīnaninnā pācīnapoṇā pācīnapabbhārā; evameva kho, bhikkhave …pe…” (SN 45.92–95)

Này các tỳ-kheo, ví như sông Yamunā xuôi về phương đông, hướng về phương đông, nghiêng về phương đông; cũng vậy, này các tỳ-kheo …pe…

Sau đó lần lượt là sông Aciravatī, Sarabhū và Mahī, mỗi sông chỉ một câu và một dấu …pe…. Như vậy bốn bài kinh hoàn chỉnh được nén trong vài dòng. Muốn đọc đủ, ta lấy toàn bộ SN 45.91, chỉ thay gaṅgā bằng tên con sông tương ứng.

Có khi văn bản còn ghi rõ lời chỉ dẫn của người biên tập trong ngoặc đơn:

“(Yathā satipaṭṭhānavagge tathā sammappadhānavasena vitthāretabbā.)” (AN 9.74–81)

(Như trong phẩm Niệm Xứ, cần được triển khai đầy đủ theo bốn chánh cần.)

Vitthāretabbā là phân từ tương lai bị động của vitthāreti (triển khai rộng): “cần được triển khai”. Đây là một mệnh lệnh dành cho người đọc: tự dựng lại cả phẩm kinh theo mẫu đã cho.

6. Chú giải nói gì về các kinh lược lặp?

Có người cho rằng các bài kinh bị lược chỉ là biến thể máy móc. Chú giải Tương Ưng Bộ (Sāratthappakāsinī) nhìn khác:

“Ekadhammapeyyālopi gaṅgāpeyyālopi pāṭiyekkaṃ puggalajjhāsayavaseneva tathā tathā vutte bujjhanakānaṃ ajjhāsayavasena kathito.” (Sāratthappakāsinī, chú giải Maggasaṃyutta)

Cả phần lược lặp “một pháp” lẫn phần lược lặp “sông Hằng” đều được thuyết riêng rẽ, theo khuynh hướng của từng người, tức theo khuynh hướng của những người sẽ giác ngộ khi được nghe nói theo cách này hay cách kia.

Theo cách hiểu của chú giải, mỗi bài kinh lược lặp là một bài thuyết riêng cho một nhóm người nghe riêng. Đây là quan điểm của truyền thống chú giải, không phải điều văn bản kinh tự nói ra; người đọc nên phân biệt hai tầng này.

7. Peyyāla và con số kinh

Vì có peyyāla, câu hỏi “Tương Ưng Bộ có bao nhiêu kinh?” không có đáp án đơn giản. Chú giải Trường Bộ ghi con số truyền thống:

“Katamo saṃyuttanikāyo? Devatāsaṃyuttādivasena kathitāni oghataraṇādīni satta suttasahassāni satta ca suttasatāni dvāsaṭṭhi ca suttāni.” (Sumaṅgalavilāsinī, Nidānakathā)

Thế nào là Tương Ưng Bộ? Là bảy nghìn bảy trăm sáu mươi hai bài kinh, bắt đầu từ kinh Vượt Bộc Lưu, được thuyết theo các tương ưng như Tương Ưng Chư Thiên…

Các ấn bản hiện đại đánh số ít hơn con số này rất nhiều, phần lớn vì nhiều bài peyyāla được gộp dưới một số hiệu, như “SN 45.92–95” ở trên. Khi thấy hai nguồn ghi số kinh khác nhau, nguyên nhân thường nằm ở cách đếm các bài lược lặp.

8. Năm bước đọc một đoạn có …pe…

  1. Tìm mẫu: lần ngược lên để tìm đoạn đầy đủ gần nhất có cùng khung câu.
  2. Xác định ô thay đổi: từ nào khác giữa mẫu và đoạn bị lược (tên sông, tên pháp, số thứ tự)?
  3. Kiểm tra cách và số: từ thay vào phải cùng cách, giống, số với vị trí của nó trong mẫu.
  4. Xác định phạm vi lược: …pe… kết thúc ở đâu? Từ đứng ngay sau ký hiệu thường là từ cuối của phần lặp.
  5. Đối chiếu bản dịch: các bản dịch tốt thường điền lại hoặc ghi chú phần lược; so sánh để kiểm tra.

Năm từ Pāli cần nhớ

Từ PāliNghĩaGhi chú
peyyālasự lược lặpký hiệu …pe…
vitthāretabbacần được triển khailời chỉ dẫn điền lại
nidānaduyên khởi, phần mở đầuSāvatthinidānaṃ
vaggaphẩmGaṅgāpeyyālavagga
ajjhāsayakhuynh hướng, chí hướnglý do của các kinh lặp theo chú giải

Một điểm dễ hiểu sai

…pe… không có nghĩa là “còn nữa, không quan trọng”. Phần bị lược là một phần của bài kinh, đôi khi chứa chính nội dung cốt lõi, như sáu chi đạo ở giữa trong SN 45.91. Bỏ qua …pe… khi tụng hay khi trích dẫn có thể làm sai lệch nội dung. Ngược lại, cũng đừng tự thêm vào phần lược những chi tiết không có trong mẫu.

Ứng dụng trong đời sống học Pāli

Ba câu hỏi ôn tập

  1. Sāvatthinidānaṃ thay cho phần nào của bài kinh?
  2. Trong SN 45.92–95, cần thay từ nào trong mẫu SN 45.91?
  3. Theo chú giải, vì sao các bài kinh lược lặp được thuyết riêng?

Đáp án: (1) Toàn bộ phần duyên khởi tại Sāvatthī. (2) Tên con sông: gaṅgā được thay bằng yamunā, aciravatī, sarabhū, mahī. (3) Vì được thuyết theo khuynh hướng của từng người nghe.

Câu hỏi thường gặp

“Pe” có phải là viết tắt của “peyyāla”?

Đúng vậy. Trong các bản in chữ La-tinh, nó thường được viết …pe…; trong bản Mahāsaṅgīti của SuttaCentral cũng dùng đúng ký hiệu này.

Có nên đọc bản dịch đã điền đầy đủ thay vì bản Pāli bị lược?

Có thể dùng để đối chiếu, nhưng nên tự khôi phục trước. Mỗi người dịch có thể điền phần lược hơi khác nhau, và chỉ khi tự làm ta mới biết đâu là phần do văn bản cho, đâu là phần do người dịch dựng lại.

Một câu ghi nhớ

…pe… không phải là chỗ trống để bỏ qua, mà là lời mời người đọc tự tụng lại phần lời dạy đã quen.

Nguồn tham khảo

  1. SN 45.91 và 45.92–95, Pāli và dịch Anh: SuttaCentral SN 45.91, SN 45.92–95
  2. SN 56.11: SuttaCentral SN 56.11; AN 9.74–81: SuttaCentral AN 9.74–81
  3. Sāratthappakāsinī (chú giải SN Mahāvagga), bản VRI: s0305a.att0.xml; Sumaṅgalavilāsinī, Nidānakathā: s0101a.att0.xml