Sotāpatti Saṃyutta (SN 55): Bốn Chi Phần Của Bậc Nhập Lưu

Ba người ngồi bên dòng sông lúc bình minh hướng về bảo tháp xa, sen nở trên mặt nước – minh họa Tương Ưng Dự Lưu SN 55 và bốn chi phần của bậc Nhập lưu

Bốn chi phần dự lưu là tịnh tín bất động nơi Phật, Pháp, Tăng và giới được bậc Thánh ưa thích. Tương Ưng Dự Lưu (SN 55) còn nêu bốn điều kiện dẫn đến dự lưu, và cho thấy vì sao bốn pháp này quý hơn cả ngôi vị Chuyển Luân Vương.

Janapadakalyāṇī Sutta (SN 47.20): Bát Dầu Đầy Tràn Và Lưỡi Gươm Sau Lưng

Một người bước đi thận trọng ngang qua đám đông tụ tập trước sân lễ hội lúc chạng vạng – minh họa Kinh bát dầu Janapadakalyāṇī SN 47.20 về chánh niệm thân

Kinh bát dầu (SN 47.20): một người phải mang bát dầu đầy tràn đi giữa đám đông đang xem hoa hậu ca múa, sau lưng có người cầm gươm; đổ một giọt là mất đầu. Đức Phật giải thích: bát dầu đầy là chánh niệm về thân.

Kinh Akkosa (SN 7.2): Khi Bị Mắng Chửi, Món Ăn Không Được Nhận Thuộc Về Ai?

Bóng dáng Đức Phật ngồi an tịnh trước một người đứng nói lời gay gắt trong rừng trúc Veḷuvana, minh họa Kinh Akkosa SN 7.2 về việc bị mắng chửi

Một Bà-la-môn giận dữ đến mắng chửi Đức Phật. Ngài hỏi: nếu khách không nhận món ăn ông mời, món ấy thuộc về ai? Kinh Akkosa (SN 7.2) dạy cách không “nhận” lời mắng, và vì sao không giận lại là thắng một trận khó thắng.

Sedaka Sutta (SN 47.19): Hai Người Diễn Xiếc – Giữ Mình Là Giữ Người

Hai nghệ sĩ đứng giữa làng ven nước lúc hoàng hôn, vài người ngồi xem – minh họa Kinh người làm xiếc Sedaka SN 47.19 về giữ mình và giữ người

Kinh người làm xiếc (Sedaka, SN 47.19): hai nghệ sĩ leo cột tre, người thầy nói “em giữ thầy, thầy giữ em”, cô học trò đáp “mỗi người hãy tự giữ mình”. Đức Phật tán thành lời cô và dạy: giữ mình là giữ người, giữ người là giữ mình.

Kinh Phạm Thiên Thỉnh Cầu (Brahmāyācana Sutta, SN 6.1): Vì Sao Đức Phật Quyết Định Thuyết Pháp?

Bóng dáng Đức Phật ngồi dưới cây bàng bên hồ sen nở lúc bình minh, bóng Phạm Thiên Sahampati hiện đến thỉnh pháp, minh họa Kinh Phạm Thiên Thỉnh Cầu SN 6.1

Ngay sau khi giác ngộ, Đức Phật nghiêng về không thuyết pháp vì Pháp sâu xa, khó thấy. Kinh Phạm Thiên Thỉnh Cầu (SN 6.1) kể Phạm Thiên Sahampati quỳ thỉnh, và Đức Phật dùng Phật nhãn nhìn chúng sinh như hồ sen trước khi mở “cửa bất tử”.

Saṅgārava Sutta (SN 46.55): Năm Triền Cái Như Năm Chậu Nước Đục

Bà-la-môn đứng trước bậc ngồi thiền, mặt nước tĩnh lặng phản chiếu ánh sáng ấm ở Sāvatthī – minh họa Kinh Saṅgārava SN 46.55 về chậu nước và năm triền cái

Vì sao có lúc bài học thuộc lâu vẫn quên, có lúc bài chưa ôn lại nhớ ra? Trong Kinh Saṅgārava (SN 46.55), Đức Phật trả lời bằng năm chậu nước: nhuộm màu, sôi sục, rêu phủ, gợn sóng, vẩn đục, tượng trưng cho năm triền cái che lấp tâm.

Bhikkhunī Saṃyutta (SN 5): Mười Vị Tỳ-kheo-ni Đối Đáp Với Māra

Bóng dáng một vị Tỳ-kheo-ni ngồi thiền dưới gốc cây giữa khu rừng xanh thẫm, minh họa Tương Ưng Tỳ-kheo-ni SN 5

Tương Ưng Tỳ-kheo-ni (SN 5) gồm mười kinh, mỗi kinh kể một vị Tỳ-kheo-ni ngồi thiền một mình trong rừng và bị Māra quấy nhiễu. Các vị nhận ra Māra và đáp lại bằng những bài kệ về giải thoát, vô ngã và duyên khởi.

Channa Sutta (SN 22.90): Khi Lời Dạy Vô Ngã Khiến Người Nghe Sợ Hãi

Tỳ-kheo Channa mang bát y đến tu viện Ghosita gặp Tôn giả Ānanda lúc chiều tà – Kinh Channa SN 22.90

Kinh Channa (SN 22.90): Tỳ-kheo Channa hiểu “năm uẩn vô thường, vô ngã” nhưng tâm vẫn không hướng về Niết-bàn, vì lo âu trỗi dậy: “Vậy thì ai là tự ngã của tôi?”. Tôn giả Ānanda giúp ông bằng lời Đức Phật dạy Kaccānagotta.

Asibandhakaputta Sutta (SN 42.6): Cầu Nguyện Cho Người Chết Có Đưa Họ Lên Trời?

Những người đứng bên hồ nước sâu lặng, bảo tháp xa xa và hoa sen trên mặt nước – minh họa Kinh Asibandhakaputta SN 42.6 về cầu nguyện cho người chết

Có thể cầu nguyện để đưa người chết lên trời không? Trong Kinh Asibandhakaputta (SN 42.6), Đức Phật trả lời bằng hai ví dụ: tảng đá ném xuống hồ và bình dầu vỡ dưới nước. Bài viết đọc kỹ kinh và phân biệt với việc hồi hướng công đức.

Māra Saṃyutta (SN 4): Ma Vương Trong Kinh Điển Pāli Là Ai?

Bóng dáng Đức Phật ngồi an nhiên dưới cội cây bên sông Nerañjarā trong đêm, một bóng hình lớn đứng xa đe dọa, minh họa Tương Ưng Ma SN 4

Ma vương (Māra) trong kinh Pāli vừa là một nhân vật kể chuyện, kẻ cám dỗ và đe dọa Đức Phật, vừa là cách gọi cho chính năm uẩn bị chấp thủ. Tương Ưng Ma (SN 4) với 25 kinh cho thấy Māra luôn thất bại khi bị nhận diện.