Tỳ-kheo Không Nhận Tiền: Giới Vàng Bạc (Nissaggiya 18) Và Người Kappiyakāraka

Tỳ-kheo không nhận tiền vì giới Nissaggiya Pācittiya 18 (Rūpiyasikkhāpada) cấm vị ấy tự cầm, bảo người khác cầm, hay ưng thuận cho vàng, bạc, tiền được để dành cho mình. Tuy vậy, Tạng Luật không bắt chư tăng sống ngoài nền kinh tế: Đức Phật cho phép thí chủ gửi tiền nơi một người hộ tịnh (kappiyakāraka), và vị tỳ-kheo chỉ nhận vật hợp lệ mua từ khoản ấy, chứ không bao giờ nhận chính đồng tiền (Kd 6:34.21.6–9).

Bài viết đọc sát giới NP 18, đoạn về người hộ tịnh trong chương Dược Phẩm, quy trình “quỹ mua y” của NP 10 và lời giải thích của Samantapāsādikā.

1. Hồ sơ chủ đề

  • Giới chính: Nissaggiya Pācittiya 18, điều học thứ tám của phẩm Tơ Tằm (Kosiyavagga), Tạng Luật Pāli
  • Địa điểm chế giới: Rājagaha, Trúc Lâm (Veḷuvana)
  • Nhân vật: Tôn giả Upananda dòng Thích-ca, một gia đình thí chủ
  • Văn bản liên quan: NP 10 (quỹ mua y), NP 19 (giao dịch bằng tiền), Kd 6:34.21 (người hộ tịnh), SN 42.10 (Maṇicūḷaka), Kd 22 (Kết tập lần hai)
  • Chủ đề: sở hữu tiền, người hộ tịnh, vật hợp lệ, niềm tin của thí chủ

2. Câu chuyện chế giới: một đồng kahāpaṇa

Một gia đình thường để phần ăn cho Tôn giả Upananda. Một chiều nhà ấy có thịt và để phần cho Ngài, nhưng sáng sớm đứa con khóc đòi thịt, người cha cho đứa bé phần ấy (NP 18:1.2–1.8). Khi Tôn giả đến, người cha thưa thật và hỏi nên mua gì cho Ngài với một đồng kahāpaṇa. Tôn giả hỏi lại đồng tiền ấy đã được dâng cho mình chưa, rồi bảo: “Hãy đưa ta chính đồng kahāpaṇa ấy” (NP 18:1.13–1.16).

Người đàn ông đưa tiền nhưng than phiền: “Chúng tôi nhận tiền thế nào thì các sa-môn Thích tử cũng nhận tiền như thế” (NP 18:1.17). Đức Phật quở trách và chế giới.

3. Văn bản giới và các định nghĩa

“Yo pana bhikkhu jātarūparajataṃ uggaṇheyya vā uggaṇhāpeyya vā upanikkhittaṃ vā sādiyeyya, nissaggiyaṃ pācittiyan”ti. (NP 18:1.28.1)

“Vị tỳ-kheo nào tự cầm, hoặc bảo người cầm, hoặc ưng thuận vàng, bạc, tiền được để dành cho mình, thì phạm ưng xả đối trị.”

Phần định nghĩa nói “vàng” (jātarūpa) là thứ có màu của bậc Đạo Sư; còn “bạc” (rajata) là đồng kahāpaṇa, đồng māsaka bằng đồng, bằng gỗ, bằng nhựa cánh kiến, “những gì dùng trong giao dịch” (NP 18:2.5–2.8). Chú thích của Bhikkhu Sujato ở SN 42.10 lưu ý rằng rajata ở đây được hiểu là tiền tệ bằng bất kỳ chất liệu nào dùng làm phương tiện trao đổi.

Ba hành vi bị cấm được định nghĩa rõ (NP 18:2.9–2.14):

  • Tự cầm (uggaṇhāti): chính mình nhận lấy.
  • Bảo người cầm (uggaṇhāpeti): bảo người khác nhận thay cho mình.
  • Ưng thuận khi được để dành (upanikkhittaṃ sādiyati): có người nói “cái này là của ngài” và vị ấy chấp nhận như vật sở hữu.

Hành vi thứ ba cho thấy không chạm tay vào tiền vẫn có thể phạm.

4. Phạm rồi thì xử lý thế nào?

Vật phạm phải được xả giữa Tăng, rồi vị ấy sám hối (NP 18:2.15–2.21). Văn bản tiếp tục mô tả: nếu có người làm vườn (ārāmika) hay cư sĩ đến, nên nói “Này đạo hữu, hãy biết việc này”. Nếu người ấy hỏi nên mua gì, không được chỉ định “hãy mua cái này cái kia”, mà chỉ nói đến vật hợp lệ:

“Kappiyaṃ ācikkhitabbaṃ — sappi vā telaṃ vā madhu vā phāṇitaṃ vā. Sace so tena parivattetvā kappiyaṃ āharati rūpiyappaṭiggāhakaṃ ṭhapetvā sabbeheva paribhuñjitabbaṃ.” (NP 18:2.29–2.31)

“Nên nói đến vật hợp lệ: bơ lỏng, dầu, mật ong hay đường mía. Nếu người ấy đổi lấy vật hợp lệ mang về, thì tất cả đều được dùng, trừ vị đã nhận tiền.”

Nếu không được vậy, nên bảo người ấy vứt bỏ. Nếu người ấy không vứt, Tăng chỉ định một vị tỳ-kheo đủ năm đức tính, không thiên vị vì ưa, ghét, si, sợ và biết điều gì đã vứt hay chưa, làm “người vứt tiền” (rūpiyachaḍḍaka). Vị này phải vứt mà không ghi nhớ chỗ; nếu ghi nhớ chỗ thì phạm tác ác (NP 18:2.36–2.52).

Phần không phạm có một trường hợp đáng chú ý: trong khuôn viên tu viện hay chỗ trú, vị tỳ-kheo nhặt lên hoặc bảo người nhặt, rồi cất đi với ý nghĩ “ai là chủ sẽ đến lấy” (NP 18:2.60–2.61). Đó là giữ hộ của rơi, không phải nhận làm của mình.

5. Kappiyakāraka: người hộ tịnh trong chương Dược Phẩm

Sau câu chuyện cư sĩ Meṇḍaka, Đức Phật nói đến những người có lòng tin gửi tiền nơi người hộ tịnh để lo vật dụng cho chư tăng:

“Santi, bhikkhave, manussā, saddhā pasannā, te kappiyakārakānaṃ hatthe hiraññaṃ upanikkhipanti — ‘iminā ayyassa yaṃ kappiyaṃ taṃ dethā’ti. Anujānāmi, bhikkhave, yaṃ tato kappiyaṃ taṃ sādituṃ; na tvevāhaṃ, bhikkhave, kenaci pariyāyena jātarūparajataṃ sāditabbaṃ pariyesitabbanti vadāmī.” (Kd 6:34.21.6–9)

“Này các tỳ-kheo, có những người có lòng tin, tịnh tín, gửi tiền vào tay người hộ tịnh và nói: ‘Với khoản này, hãy dâng cho ngài vật gì hợp lệ.’ Ta cho phép ưng thuận vật hợp lệ từ khoản ấy; nhưng Ta không nói rằng bằng bất cứ cách nào được phép ưng thuận hay tìm cầu vàng, bạc, tiền.”

Vế đầu mở một lối đi thực tế: tiền nằm trong tay cư sĩ, vật dụng đến tay tỳ-kheo. Vế sau đóng mọi lối vòng: “bằng bất cứ cách nào” (kenaci pariyāyena) cũng không nhận hay tìm cầu chính đồng tiền.

6. Quy trình quỹ mua y trong NP 10

Giới NP 10 mô tả một tình huống cụ thể: vua, quan, bà-la-môn hay gia chủ sai sứ mang quỹ mua y đến cho một vị tỳ-kheo. Vị tỳ-kheo phải đáp:

“na kho mayaṃ, āvuso, cīvaracetāpannaṃ paṭiggaṇhāma. Cīvarañca kho mayaṃ paṭiggaṇhāma, kālena kappiyan”ti. (NP 10:1.3.6)

“Này hiền giả, chúng tôi không nhận quỹ mua y. Chúng tôi nhận y hợp lệ vào đúng thời.”

Nếu sứ giả hỏi có ai làm việc phục vụ cho ngài không, vị tỳ-kheo cần y có thể chỉ một người làm vườn hay cư sĩ và nói “người này làm việc phục vụ cho chư tỳ-kheo” (NP 10:1.3.8–1.3.10). Sau đó, vị ấy được nhắc người phục vụ hai, ba lần; nếu chưa có y, được im lặng đứng chờ tối đa sáu lần; cố gắng hơn thế mà được y thì phạm ưng xả đối trị. Nếu cuối cùng không có y, vị ấy phải tự đi hoặc nhắn tin báo cho người gửi quỹ để họ thu hồi tài sản của mình (NP 10:1.3.13–1.3.22).

Samantapāsādikā phân biệt nhiều loại người phục vụ. Với người do chính sứ giả chỉ định (không phải do vị tỳ-kheo chỉ), chú giải bảo hành xử theo đoạn Meṇḍaka, và ở đó “việc nhắc nhở không có giới hạn”, miễn là vị tỳ-kheo không ưng thuận khoản tiền gốc.

7. Tiền cúng cho chùa, cho tháp thì sao?

Chú giải bàn trường hợp này khá kỹ. Nếu ai đó mang vàng bạc đến nói “con dâng cho Tăng, xin làm tu viện, tháp, nhà ăn”, thì cũng không được nhận; theo Mahāpaccarī được trích trong chú giải, nhận thay cho người khác vẫn phạm tác ác. Nhưng nếu sau khi được từ chối, thí chủ nói khoản này sẽ ở trong tay thợ hay người làm, chư tăng chỉ cần biết việc gì làm tốt hay chưa, rồi giao cho họ, thì được phép. Nếu thí chủ nói “con dâng cho tháp, cho tu viện” mà không nhắm đến Tăng hay cá nhân nào, thì không nên từ chối, mà báo cho người hộ tịnh.

Trọng tâm vẫn là sự ưng thuận của vị tỳ-kheo đối với tiền.

8. Lời Đức Phật với thôn trưởng Maṇicūḷaka

Trong Kinh Tạng, khi triều thần ở Rājagaha bàn rằng sa-môn Thích tử được dùng vàng bạc, thôn trưởng Maṇicūḷaka phản bác, rồi đến hỏi Đức Phật mình nói vậy có đúng không. Đức Phật xác nhận và nói thêm:

“Yassa kho, gāmaṇi, jātarūparajataṃ kappati, pañcapi tassa kāmaguṇā kappanti.” (SN 42.10:3.3)

“Này thôn trưởng, ai được phép dùng vàng bạc, thì người ấy cũng được phép dùng năm dục.”

Ngài nói người cần cỏ có thể tìm cỏ, cần gỗ có thể tìm gỗ, cần xe tìm xe, cần người làm tìm người làm; nhưng không có cách nào được nhận hay tìm cầu vàng bạc (SN 42.10:3.6–3.7). Khoảng một thế kỷ sau, khi các tỳ-kheo Vajji ở Vesālī đặt bát đồng giữa Tăng xin tiền vào ngày Uposatha, Tôn giả Yasa đã dẫn chính kinh này và AN 4.50 để phản đối; “vàng bạc” là điểm thứ mười trong mười điều bị bác bỏ ở Kỳ Kết tập lần hai (Kd 22:1.1.2–1.1.9; 1.3–1.4).

Năm từ Pāli cần nhớ

PāliNghĩaVị trí
jātarūparajatavàng, bạc, tiềnNP 18:1.28.1
upanikkhittađược để dành, ký gửiNP 18:2.13
kappiyakārakangười hộ tịnhKd 6:34.21.6
veyyāvaccakarangười làm việc phục vụNP 10:1.3.8
rūpiyachaḍḍakavị được cử vứt tiềnNP 18:2.36

Một điểm dễ hiểu sai

Có người nghĩ chỉ cần không chạm tay vào tiền là giữ giới, nên nhờ người khác giữ tiền “của mình” là đủ. Văn bản NP 18 nói ngược lại: bảo người khác cầm và ưng thuận khoản tiền được để dành đều phạm như tự cầm. Người hộ tịnh không phải là “ví tiền ủy quyền” của vị tỳ-kheo; tiền vẫn thuộc thí chủ hoặc người hộ tịnh, và vị tỳ-kheo chỉ ưng thuận vật hợp lệ.

Ứng dụng trong đời sống

  • Khi muốn cúng dường một vị tỳ-kheo giữ giới nghiêm, hãy dâng vật dụng, hoặc gửi khoản tiền cho người hộ tịnh của chùa và thưa với vị ấy rằng có thể nhận vật cần dùng.
  • Đừng đặt phong bì tiền vào tay hay vào bát của vị tỳ-kheo rồi nói “cái này của thầy”.

Ba câu hỏi ôn tập

  1. Ba hành vi bị cấm trong NP 18 là gì? Tự cầm, bảo người cầm, ưng thuận khoản được để dành cho mình (NP 18:2.9–2.14).
  2. Vật mua từ tiền đã xả được ai dùng? Mọi người, trừ vị đã nhận tiền (NP 18:2.31).
  3. Trong NP 10, vị tỳ-kheo được im lặng đứng chờ tối đa mấy lần? Sáu lần (NP 10:1.3.16).

Câu hỏi thường gặp

Tại sao cầm tiền lại nặng đến mức phải xả và sám hối?

Người đời thấy sa-môn nhận tiền “y như chúng tôi”; SN 42.10 nói ai được dùng vàng bạc thì cũng được dùng năm dục.

Ngày nay chuyển khoản điện tử có khác không?

Tạng Luật không nói đến tiền điện tử. Định nghĩa “những gì dùng trong giao dịch” (NP 18:2.8) là căn cứ mà các truyền thống dùng để suy xét; bài viết không đưa ra phán quyết cho từng trường hợp hiện đại.

Một câu ghi nhớ

Tiền ở trong tay cư sĩ, vật hợp lệ đến tay tỳ-kheo; còn chính đồng tiền, “bằng bất cứ cách nào”, vị tỳ-kheo cũng không ưng thuận.

Đọc thêm: 30 giới xả đọa trong chú giải Luật, Kỳ Kết tập lần 2 tại Vesālī, Tứ sự cúng dường, Bốn loại kālika và Bảy nhóm tội āpatti.

Nguồn tham khảo

  1. Rūpiyasikkhāpada (NP 18), Pāli và bản dịch Anh của Bhikkhu Brahmali, SuttaCentral: https://suttacentral.net/pli-tv-bu-vb-np18
  2. NP 10 và NP 19, SuttaCentral: pli-tv-bu-vb-np10, pli-tv-bu-vb-np19
  3. Bhesajjakkhandhaka (Kd 6) và Sattasatikakkhandhaka (Kd 22), SuttaCentral: pli-tv-kd6, pli-tv-kd22
  4. Maṇicūḷaka Sutta (SN 42.10), bản dịch Bhikkhu Sujato: https://suttacentral.net/sn42.10
  5. Samantapāsādikā, chú giải giới NP 10 (Rājasikkhāpada), bản Chaṭṭha Saṅgāyana của VRI.
  6. Tỳ-khưu Indacanda (dịch), Tạng Luật – Phân Tích Giới Tỳ-khưu II, chương Nissaggiya, phẩm Tơ Tằm: budsas.net
  7. HT. Thích Minh Châu (dịch), Tương Ưng Bộ, Tương Ưng Thôn Trưởng, kinh X “Manicùlam”: budsas.net