Ṭīkā Giải Quyết Chỗ Chú Giải Bỏ Ngỏ: Năm Ví Dụ Từ Phụ Chú Giải Trường Bộ

Phụ chú giải (ṭīkā) thường làm việc ở đúng những chỗ Chú giải (aṭṭhakathā) đi qua quá nhanh: một chữ trong kinh không được giải thích, một phân loại bị bỏ trống, một câu hỏi triết học chưa được đặt ra. Năm ví dụ dưới đây đều lấy từ Līnatthappakāsanā, phụ chú giải Trường Bộ, và đều được đọc trực tiếp trong bản Pāli Chaṭṭha Saṅgāyana, đặt cạnh câu kinh và câu Chú giải tương ứng.

Mục đích là thấy phương pháp làm việc của ṭīkā: khi nào nó lấp một khoảng trống nhỏ, khi nào đưa ra kết luận dứt khoát (sanniṭṭhāna), và khi nào thành thật để ngỏ.

1. Hồ sơ chủ đề

  • Văn bản khảo sát: Sīlakkhandhavagga-ṭīkā và Mahāvagga-ṭīkā của Trường Bộ, mỗi phần tự gọi mình là Līnatthappakāsanā (“làm sáng tỏ nghĩa ẩn”)
  • Tác giả theo truyền thống: Gandhavaṃsa gán bộ ṭīkā cho Chú giải của bốn bộ Nikāya, tên Līnatthappakāsinī, cho Ācariya Dhammapāla
  • Đối chiếu: Sumaṅgalavilāsinī (Chú giải Trường Bộ) và kinh văn DN 1, DN 4, DN 15 trên SuttaCentral
  • Ba kiểu xử lý: lấp chỗ thiếu bằng ngữ cảnh, đưa ra kết luận sau khi cân nhắc nhiều ý kiến, giải thích vì sao Chú giải im lặng

Về tầng văn bản này nói chung, xem Ṭīkā là gì và Līnatthavaṇṇanā, phụ chú giải Trường Bộ.

2. Ví dụ một: vì sao giới không trộm cắp thiếu chữ “biết hổ thẹn”?

Trong Kinh Phạm Võng, phần giới, câu về sát sinh có đủ các phẩm chất tích cực, nhưng câu về trộm cắp thì không:

“Adinnādānaṃ pahāya adinnādānā paṭivirato samaṇo gotamo dinnādāyī dinnapāṭikaṅkhī, athenena sucibhūtena attanā viharatī’ti.” (DN 1:1.8.3)

“Sa-môn Gotama từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho; chỉ lấy vật đã cho, chỉ mong vật đã cho, sống với tự thân không trộm cắp, trong sạch.”

Câu trước đó (DN 1:1.8.1) có cụm “lajjī, dayāpanno, sabbapāṇabhūtahitānukampī” (biết hổ thẹn, có lòng từ, thương xót mọi loài). Chú giải chỉ ghi ngắn: “phần còn lại nên hiểu theo cách đã nói ở học giới thứ nhất”. Ṭīkā thấy khoảng trống và nêu thẳng:

“Kāmañcettha ‘lajjī dayāpanno’ti na vuttaṃ, adhikāravasena pana atthato vā vuttamevāti veditabbaṃ.” (DN-ṭ, Brahmajālasuttavaṇṇanā, §8)

“Dù ở đây không nói ‘biết hổ thẹn, có lòng từ’, nhưng nên hiểu rằng điều ấy đã được nói, hoặc do mạch văn đang tiếp diễn, hoặc xét theo ý nghĩa.”

Rồi ṭīkā đưa ra cách giải thứ hai: chữ sucibhūtena (“trong sạch”) đã hàm ý có tàm, quý và không có vô tàm, vô quý, nên không cần nhắc lại “lajjī”. Đây là kiểu xử lý đơn giản nhất: lấp chỗ thiếu bằng ngữ cảnh.

3. Ví dụ hai: tà dâm có mấy chi phần?

Với câu về phạm hạnh (DN 1:1.8.5), Chú giải chỉ giải nghĩa từ: abrahmacariya là “hạnh không cao thượng”, ārācārī là “sống xa”, gāmadhamma là “pháp của người làng”. Chú giải không bàn đến chi phần cấu thành hành vi, trong khi ở câu về trộm cắp ngay trước đó nó đã liệt kê năm chi phần.

Ṭīkā bổ sung phần còn thiếu: hành vi phi phạm hạnh có hai chi phần, còn tà dâm của người tại gia thường được nói là có bốn. Tiếp đó ṭīkā ghi lại một cuộc tranh luận: có vị cho rằng trong trường hợp bị cưỡng ép thì người bị cưỡng ép không phạm; “một số người” (eke) lại lập luận khác. Sau khi cân nhắc, ṭīkā kết luận:

“Idaṃ panettha sanniṭṭhānaṃ – attano ruciyā pavattitassa tayo, balakkārena pavattitassa tayo, anavasesaggahaṇena pana cattāroti.” (DN-ṭ, Brahmajālasuttavaṇṇanā, §8)

“Đây là kết luận ở chỗ này: với người tự ý làm thì có ba chi phần, với người bị cưỡng ép thì có ba chi phần, còn khi gom tất cả không sót thì là bốn.”

Ṭīkā nêu ý kiến của người khác (vadanti, eke) trước, rồi mới đưa ra sanniṭṭhāna của mình.

4. Ví dụ ba: biết tất cả cùng lúc hay lần lượt?

Đoạn chuyển tiếp nổi tiếng của Kinh Phạm Võng nói đến những pháp sâu xa mà Như Lai tự chứng và tuyên bố:

“Atthi, bhikkhave, aññeva dhammā gambhīrā duddasā duranubodhā santā paṇītā atakkāvacarā nipuṇā paṇḍitavedanīyā, ye tathāgato sayaṃ abhiññā sacchikatvā pavedeti.” (DN 1:1.28.1)

“Này các tỳ-kheo, có những pháp khác, sâu xa, khó thấy, khó hiểu, an tịnh, vi diệu, vượt ngoài suy luận, tế nhị, chỉ người trí mới cảm nhận, mà Như Lai đã tự mình chứng tri, chứng ngộ và tuyên bố.”

Chú giải đồng nhất “những pháp ấy” với trí Toàn Giác, và giải thích vì sao dùng số nhiều: vì trí ấy sinh khởi trong nhiều tâm và khởi lên lặp đi lặp lại (punappunaṃ uppattivasena). Chú giải dừng ở đó. Ṭīkā nhận ra rằng chính chữ “lặp đi lặp lại” mở ra một câu hỏi lớn: nếu trí biết lần lượt, làm sao biết hết được cái vô tận? Ṭīkā đặt vấn nạn, bác bỏ quan điểm “bậc toàn tri biết mọi thứ cùng một lúc” của ngoại đạo, viện dẫn câu “trí của Đức Phật tùy thuộc vào sự hướng tâm” (ākaṅkhāpaṭibaddha), rồi kết luận:

“Idaṃ panettha sanniṭṭhānaṃ – … bhagavā santānena sabbadhammapaṭivedhasamattho ahosi sabbaneyyāvaraṇassa pahānato, tasmā sabbaññū, na sakiṃyeva sabbadhammāvabodhato, yathā santānena sabbaindhanassa dahanasamatthatāya pāvako ‘sabbabhū’ti vuccatīti.” (DN-ṭ, Brahmajālasuttavaṇṇanā, §28)

“Đây là kết luận: … do đã đoạn trừ mọi chướng ngại đối với cái cần biết, Đức Thế Tôn có khả năng thấu suốt mọi pháp trong dòng tương tục; vì vậy Ngài là bậc Toàn Tri, không phải vì biết mọi pháp cùng một lúc; cũng như lửa được gọi là ‘thiêu tất cả’ vì trong dòng tiếp nối nó có khả năng đốt mọi thứ củi.”

Một ghi chú ngữ pháp của Chú giải đã được mở rộng thành một luận điểm triết học.

5. Ví dụ bốn: còn ông ngoại thì sao?

Trong Kinh Soṇadaṇḍa, các Bà-la-môn khen Soṇadaṇḍa là người “thiện sinh cả bên mẹ lẫn bên cha … cho đến bảy đời tổ phụ” (ubhato sujāto mātito ca pitito ca … yāva sattamā pitāmahayugā, DN 4:5.6). Chú giải định nghĩa: pitāmaha là cha của cha, và “xét theo nghĩa thì pitāmahayuga chính là ông nội”. Như vậy chữ “bên mẹ” trong kinh bị bỏ lửng.

Ṭīkā đọc lại từ ghép: “cha và mẹ là pitaro; các pitaro của pitaro là pitāmahā”, tức tính theo lối giữ lại một từ cho cả cặp (ekasesa). Rồi ṭīkā viết:

“Evañhi pitāmahaggahaṇeneva mātāmahopi gahitoti. So aṭṭhakathāyaṃ visuṃ na uddhaṭo.” (DN-ṭ, Soṇadaṇḍasuttavaṇṇanā, §303)

“Như vậy, chỉ bằng chữ ‘ông nội’ thì ông ngoại cũng đã được bao gồm. Trong Chú giải, ông ngoại không được nêu riêng.”

Ṭīkā nói thêm rằng nhờ cách đọc này, chữ “bên mẹ” (mātito) trong kinh mới có chỗ đứng. Ṭīkā bảo vệ kinh văn nhưng chỉ nói nhẹ “Chú giải không nêu riêng”, không nói “Chú giải sai”.

6. Ví dụ năm: vì sao một hạng người không được kể tên?

Kinh Đại Duyên (DN 15:25.1) hỏi: “Đến mức nào thì người không chủ trương một tự ngã là không chủ trương?”. Chú giải trả lời bằng một danh sách: người đa văn thuộc ba tạng, hai tạng, một tạng, người thuyết pháp đã học kỹ dù chỉ một bộ Nikāya, và người đã khởi sự tu tuệ (āraddhavipassaka), những người ấy không chủ trương tự ngã.

Ṭīkā bổ sung hai điểm. Thứ nhất, người tu tuệ dù không đa văn cũng không chủ trương tự ngã, vì sức mạnh của tuệ quán. Thứ hai, ṭīkā giải thích một khoảng trống trong danh sách:

“Sāsanikopi jhānābhiññālābhī ‘na paññapetī’ti na vattabboti so idha na uddhaṭo.” (DN-ṭ, Mahānidānasuttavaṇṇanā, §119)

“Người đắc thiền và thắng trí, dù ở trong giáo pháp, cũng không thể nói chắc là ‘không chủ trương’; vì vậy ở đây người ấy không được nêu ra.”

Theo cách hiểu của chúng tôi, lý do là ngay trước đó ṭīkā vừa mô tả những người đắc kasiṇa đã lấy tướng kasiṇa làm “tự ngã”; thiền chứng tự nó không bảo đảm khỏi tà kiến, còn tuệ quán thì có.

Năm từ Pāli cần nhớ

Từ PāliNghĩaVai trò trong ṭīkā
sanniṭṭhānakết luận dứt khoátđánh dấu ý kiến cuối cùng sau tranh luận
na uddhaṭakhông được nêu rachỉ ra và giải thích sự im lặng của Chú giải
adhikāramạch văn đang tiếp diễnlý do để hiểu một chữ không lặp lại
eke / vadanti“một số người” / “họ nói”ghi lại ý kiến khác trước khi kết luận
līnatthanghĩa ẩn, nghĩa chìmnhan đề và mục đích của bộ ṭīkā

Một điểm dễ hiểu sai

Dễ nghĩ rằng ṭīkā luôn đưa ra câu trả lời cuối cùng. Thực tế không phải vậy. Cuối phần giải thích Kinh Tevijja, sau khi nêu ý kiến của “các vị khác” (apare) về chữ appamāṇakata, ṭīkā chỉ ghi: “Vīmaṃsitvā gahetabbaṃ”, nghĩa là “nên khảo sát rồi hãy chấp nhận”. Ṭīkā biết giới hạn của mình, và người đọc ṭīkā cũng nên phân biệt chỗ nó kết luận với chỗ nó chỉ gợi ý. Đọc thêm: Phương pháp luận phụ chú giải.

Ứng dụng trong đời sống

  • Đọc chậm từng chữ: ví dụ “ông ngoại” cho thấy một chữ nhỏ như mātito có thể thay đổi cách hiểu cả câu. Khi đọc kinh, đừng lướt qua các từ lặp.
  • Ghi lại ý kiến khác: trước khi kết luận một vấn đề Pháp, hãy nêu công bằng các quan điểm khác như ṭīkā làm với eke và vadanti.
  • Thiền chứng chưa phải là tuệ: ví dụ năm nhắc người tu rằng định sâu không tự động đoạn tà kiến; cần quán vô ngã.

Ba câu hỏi ôn tập

  1. Ṭīkā đưa ra hai cách giải nào cho việc thiếu chữ “lajjī” ở câu về trộm cắp?
  2. Hình ảnh nào được dùng để giải thích danh hiệu Toàn Tri?
  3. Vì sao ṭīkā cho rằng ông ngoại đã được bao gồm trong chữ pitāmaha?

Đáp án: (1) Do mạch văn tiếp diễn hoặc theo nghĩa; hoặc chữ sucibhūtena đã hàm ý tàm quý (DN-ṭ, Brahmajāla, §8). (2) Lửa được gọi là “thiêu tất cả” vì có khả năng đốt mọi củi trong dòng tiếp nối (DN-ṭ, Brahmajāla, §28). (3) Vì pitaro được hiểu là “cha và mẹ”, nên “cha của cha mẹ” gồm cả ông nội lẫn ông ngoại (DN-ṭ, Soṇadaṇḍa, §303).

Câu hỏi thường gặp

Ṭīkā có được xem là có thẩm quyền ngang Chú giải không?

Không. Trong năm ví dụ, ṭīkā luôn đứng sau Chú giải: nó lấp chỗ trống hoặc giải thích sự im lặng, chứ không tuyên bố Chú giải sai. Về thứ bậc các tầng, xem Mūlaṭīkā và Anuṭīkā.

Số đoạn §8, §28 ở đây là gì?

Đó là số đoạn trong ấn bản Chaṭṭha Saṅgāyana của phụ chú giải, tương ứng với số đoạn của kinh văn mà ṭīkā đang giải thích. Số đoạn kinh văn theo SuttaCentral được ghi riêng, ví dụ DN 1:1.8.3.

Một câu ghi nhớ

“Vīmaṃsitvā gahetabbaṃ — nên khảo sát rồi hãy chấp nhận.” (DN-ṭ, Tevijjasuttavaṇṇanā)

Đọc thêm các bài về hai bản kinh liên quan: Kinh Phạm Võng (DN 1) và Kinh Đại Duyên (DN 15).

Nguồn tham khảo

  1. Dīghanikāya, Sīlakkhandhavagga-ṭīkā (Līnatthappakāsanā), Brahmajālasuttavaṇṇanā, bản Pāli Chaṭṭha Saṅgāyana (VRI): tipitaka.org/romn/cscd/s0101t.tik1.xml; Soṇadaṇḍasuttavaṇṇanā: s0101t.tik4.xml; Tevijjasuttavaṇṇanā: s0101t.tik13.xml
  2. Dīghanikāya, Mahāvagga-ṭīkā, Mahānidānasuttavaṇṇanā, bản VRI: s0102t.tik1.xml
  3. Sumaṅgalavilāsinī (Chú giải Trường Bộ), Brahmajāla và Soṇadaṇḍa, bản VRI: s0101a.att1.xml, s0101a.att4.xml; Mahānidāna: s0102a.att1.xml
  4. Kinh văn Pāli và bản dịch Anh của Bhikkhu Sujato: DN 1, DN 4, DN 15
  5. Gandhavaṃsa (Cūḷaganthavaṃsapāḷi), chương 2, về các tác phẩm của Dhammapāla: e0701n.nrf1.xml