Phá hòa hợp Tăng (saṅghabheda) theo Tạng Luật Pāli là khi một nhóm tỳ-kheo, dựa trên mười tám “sự việc gây chia rẽ”, tách ra và làm lễ Uposatha, Pavāraṇā hay Tăng sự riêng trong cùng một ranh giới (Kd 17:5.2.21–22). Còn saṅgharāji là “vết nứt” trong Tăng: có tranh cãi, có vận động bỏ thẻ, nhưng chưa đủ điều kiện để thành chia rẽ. Theo lời Đức Phật trả lời Tôn giả Upāli, cần ít nhất chín vị tỳ-kheo thì vết nứt mới đồng thời là sự phá hòa hợp Tăng (Kd 17:5.1.21–24).
Hai khái niệm này quan trọng vì phá hòa hợp Tăng là một trong những nghiệp nặng nhất trong giáo lý Theravāda. Bài viết đọc chương Saṅghabhedakakkhandhaka (Kd 17), đối chiếu với phần Upālipañcaka của Parivāra và chú giải Samantapāsādikā.
1. Hồ sơ chủ đề
- Vị trí chính: Saṅghabhedakakkhandhaka, chương 17 của Cūḷavagga (Kd 17:4–5), phần “Câu hỏi của Upāli”
- Đối chiếu: Parivāra, chương Upālipañcaka (Pvr 17:196–197); giới Saṅghādisesa 10
- Nhân vật: Tôn giả Upāli, Devadatta, các Tôn giả Sāriputta và Moggallāna
- Thuật ngữ: saṅghabheda (phá hòa hợp Tăng), saṅgharāji (bất đồng, rạn nứt trong Tăng), salākā (thẻ biểu quyết)
- Chủ đề: điều kiện của sự chia rẽ, hòa hợp, nghiệp quả
2. Bối cảnh: Devadatta và năm điều đề nghị
Theo Kd 17, vào một ngày Uposatha, Devadatta đứng dậy phát thẻ biểu quyết, nêu năm điều ông đã xin Đức Phật mà không được chấp thuận: tỳ-kheo suốt đời ở rừng, suốt đời đi khất thực, suốt đời mặc y phấn tảo, suốt đời ở gốc cây, suốt đời không ăn cá thịt (Kd 17:4.1.1–4.1.11). Năm trăm tỳ-kheo người Vajji ở Vesālī, mới xuất gia và chưa hiểu biết, nghĩ “đây là Pháp, đây là Luật” và nhận thẻ. Devadatta phá hòa hợp Tăng rồi cùng năm trăm vị ấy đi đến Gayāsīsa (Kd 17:4.1.12–14).
Đức Phật sai hai Tôn giả Sāriputta và Moggallāna đến Gayāsīsa vì lòng thương các vị tỳ-kheo trẻ; khi một vị tỳ-kheo khóc vì tưởng hai vị đại đệ tử theo Devadatta, Đức Phật nói hai vị đi để đưa các vị kia trở về (Kd 17:4.1.18–4.1.25).
3. Saṅgharāji khác saṅghabheda thế nào?
Sau đó, Tôn giả Upāli hỏi:
“Kittāvatā nu kho, bhante, saṅgharāji hoti, no ca saṅghabhedo? Kittāvatā ca pana saṅgharāji ceva hoti saṅghabhedo cā”ti? (Kd 17:5.1.4–5)
“Bạch Thế Tôn, đến mức nào thì có sự rạn nứt trong Tăng mà chưa phải là phá hòa hợp Tăng? Đến mức nào thì vừa là rạn nứt vừa là phá hòa hợp Tăng?”
Đức Phật trả lời bằng những con số. Một bên một vị, bên kia hai vị, vị thứ tư tuyên bố và phát thẻ: “Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của Bậc Đạo Sư, hãy nhận cái này, hãy chấp thuận cái này”; như vậy là rạn nứt, chưa phải phá hòa hợp Tăng. Tương tự với hai và hai, hai và ba, ba và ba, ba và bốn (Kd 17:5.1.6–5.1.20). Rồi:
“Ekato, upāli, cattāro honti, ekato cattāro, navamo anussāveti, salākaṃ gāheti… Evaṃ kho, upāli, saṅgharāji ceva hoti saṅghabhedo ca. Navannaṃ vā, upāli, atirekanavannaṃ vā saṅgharāji ceva hoti saṅghabhedo ca.” (Kd 17:5.1.21–24)
“Này Upāli, một bên bốn vị, bên kia bốn vị, vị thứ chín tuyên bố và phát thẻ… như vậy là vừa rạn nứt vừa phá hòa hợp Tăng. Này Upāli, với chín vị hoặc hơn chín vị thì vừa là rạn nứt vừa là phá hòa hợp Tăng.”
Đọc các con số, có thể thấy ở trường hợp cuối mỗi phe đều có bốn vị, là số tối thiểu của một nhóm Tăng trong nhiều hành sự của Luật, cộng thêm người khởi xướng. Ít hơn thế, đó chỉ là một nhóm bất đồng.
4. Ai có thể phá hòa hợp Tăng?
Văn bản nói rõ: tỳ-kheo-ni, thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ không thể phá hòa hợp Tăng, dù có cố gắng (Kd 17:5.1.25–26). Chỉ có:
“Bhikkhu kho, upāli, pakatatto, samānasaṃvāsako, samānasīmāyaṃ ṭhito, saṅghaṃ bhindatī”ti. (Kd 17:5.1.27)
“Này Upāli, chỉ vị tỳ-kheo bình thường (không bị đình chỉ), cùng cộng trú, đứng trong cùng một ranh giới, mới phá hòa hợp Tăng.”
Chú giải Samantapāsādikā đặt câu hỏi: Devadatta đã xúi giết vua và làm chảy máu Đức Phật, sao vẫn là “tỳ-kheo bình thường”? Chú giải trả lời rằng lời chế định về người làm chảy máu Đức Phật được nói sau khi Devadatta đã phá hòa hợp Tăng, nên lúc ấy ông vẫn ở tư cách bình thường (Samantapāsādikā, Upālipañhākathā, đoạn VRI 351).
5. Khi nào Tăng thật sự bị phá?
Upāli hỏi tiếp, và Đức Phật nêu mười tám sự việc: tuyên bố phi Pháp là Pháp, Pháp là phi Pháp; phi Luật là Luật, Luật là phi Luật; điều Như Lai không nói là có nói, có nói là không nói; điều Như Lai không thực hành là có thực hành và ngược lại; điều Như Lai không chế định là có chế định và ngược lại; không phạm là phạm và ngược lại; tội nhẹ là nặng và ngược lại; tội còn sửa được là không sửa được và ngược lại; tội thô là không thô và ngược lại (Kd 17:5.2.3–5.2.20). Rồi:
“Te imehi aṭṭhārasahi vatthūhi apakassanti, avapakassanti, āveniṃ uposathaṃ karonti, āveniṃ pavāraṇaṃ karonti, āveniṃ saṅghakammaṃ karonti. Ettāvatā kho, upāli, saṅgho bhinno hotī”ti. (Kd 17:5.2.21–22)
“Dựa trên mười tám sự việc ấy, họ kéo ra, tách đi, làm Uposatha riêng, làm Pavāraṇā riêng, làm Tăng sự riêng. Đến mức ấy, này Upāli, Tăng bị phá.”
Chú giải nhấn mạnh điểm này: dù đủ chín vị và đã phát thẻ, “chỉ chừng ấy thì Tăng chưa bị phá”; Tăng chỉ thật sự bị phá khi các hành sự được làm riêng.
6. Parivāra: một định nghĩa khác về saṅgharāji
Trong Upālipañcaka của Parivāra, Upāli hỏi lại cùng câu hỏi, nhưng câu trả lời lại nói về phận sự. Khi các tỳ-kheo vãng lai không làm phận sự vãng lai, các vị thường trú không làm phận sự thường trú, các vị nhỏ hạ giành chỗ ngồi trong nhà ăn hay giành chỗ ở của trưởng lão, thì “có rạn nứt trong Tăng nhưng chưa phải phá hòa hợp Tăng” (Pvr 17:197.4–197.17). Còn khi trong cùng một ranh giới, họ lập nhóm riêng và làm Uposatha, Pavāraṇā, Tăng sự riêng, thì “vừa là rạn nứt vừa là phá hòa hợp Tăng” (Pvr 17:197.18–20). Cũng trong chương này, Parivāra nói Tăng bị phá theo năm cách: bằng hành sự, bằng tụng giới, bằng lời nói, bằng tuyên bố, bằng phát thẻ (Pvr 17:196.1–5).
Đọc chung hai đoạn, ta thấy “rạn nứt” có thể bắt đầu từ những việc rất nhỏ như không giữ phận sự, chứ không chỉ từ tranh luận giáo lý.
7. Nghiệp quả của phá Tăng và của hòa giải
“Samaggaṃ kho, upāli, saṅghaṃ bhinditvā kappaṭṭhikaṃ kibbisaṃ pasavati, kappaṃ nirayamhi paccatīti.” (Kd 17:5.4.2)
“Này Upāli, ai phá hòa hợp một Tăng đang hòa hợp thì tạo ác nghiệp kéo dài một kiếp, bị nung nấu trong địa ngục một kiếp.”
Ngược lại, ai làm cho Tăng bị chia rẽ trở lại hòa hợp thì tạo phước cao thượng, hoan hỷ trên cõi trời một kiếp (Kd 17:5.4.10). Văn bản còn phân biệt: người phá Tăng mà thấy điều mình nói hoặc việc chia rẽ là phi Pháp, hoặc còn nghi ngờ, rồi vẫn che giấu quan điểm thật để tuyên bố và phát thẻ, thì bị đọa một kiếp, không thể cứu chữa (atekiccha); còn người thật lòng tin cả điều mình nói lẫn việc tách ra là đúng Pháp, không che giấu quan điểm, thì không bị như vậy (Kd 17:5.5.6–5.6.5).
Năm từ Pāli cần nhớ
| Pāli | Nghĩa | Vị trí |
|---|---|---|
| saṅghabheda | phá hòa hợp Tăng | Kd 17:5.2 |
| saṅgharāji | rạn nứt, bất đồng trong Tăng | Kd 17:5.1 |
| salākā | thẻ biểu quyết | Kd 17:5.1.6 |
| āveni uposatha | Uposatha làm riêng | Kd 17:5.2.21 |
| saṅghasāmaggī | sự hòa hợp của Tăng | Kd 17:5.3.1 |
Một điểm dễ hiểu sai
Nhiều người nghĩ mọi bất đồng, tranh luận hay việc một nhóm tỳ-kheo chuyển sang chùa khác đều là “phá hòa hợp Tăng”. Văn bản rất cụ thể: phải là tỳ-kheo bình thường trong cùng ranh giới, dựa trên mười tám sự việc, đủ số người, và làm Uposatha hay Tăng sự riêng. Cư sĩ không thể phá hòa hợp Tăng theo nghĩa kỹ thuật này (Kd 17:5.1.26), dù vẫn có thể góp phần gây rạn nứt.
Ứng dụng trong đời sống
- Phân biệt bất đồng ý kiến với chia rẽ: có thể khác quan điểm mà vẫn hòa hợp trong hành sự chung.
- Giữ những phận sự nhỏ trong sinh hoạt chung, vì Parivāra cho thấy rạn nứt bắt đầu từ đó.
- Khi thấy cộng đồng bất hòa, chọn vai trò người hòa giải, như hai Tôn giả Sāriputta và Moggallāna.
- Thành thật về quan điểm của mình; văn bản đặc biệt nghiêm khắc với người che giấu quan điểm thật.
Ba câu hỏi ôn tập
- Cần ít nhất bao nhiêu vị tỳ-kheo để rạn nứt trở thành phá hòa hợp Tăng? Chín vị (Kd 17:5.1.24).
- Những ai không thể phá hòa hợp Tăng? Tỳ-kheo-ni, thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, nam và nữ cư sĩ (Kd 17:5.1.25–26).
- Theo Parivāra, Tăng bị phá theo mấy cách? Năm: hành sự, tụng giới, lời nói, tuyên bố, phát thẻ (Pvr 17:196.4).
Câu hỏi thường gặp
Phá hòa hợp Tăng có phải là một trong năm nghiệp vô gián không?
Bài viết này chỉ dựa vào Kd 17 và Parivāra, nơi phá Tăng được nói là nghiệp kéo dài một kiếp trong địa ngục (Kd 17:5.4.2). Về danh mục năm nghiệp vô gián, người đọc nên tra các nguồn Kinh và Abhidhamma liên quan.
Giới Saṅghādisesa 10 liên quan thế nào?
Saṅghādisesa 10 xử lý vị tỳ-kheo “nỗ lực phá hòa hợp Tăng” hoặc cố chấp một tranh chấp dẫn đến chia rẽ, sau khi được Tăng khuyên can mà không bỏ.
Hai nhóm Tăng ở hai ranh giới khác nhau có phải là phá Tăng?
Định nghĩa trong Kd 17 và Parivāra nói đến việc làm hành sự riêng “trong cùng một ranh giới”. Hai cộng đồng ở hai ranh giới khác nhau, tự nó, không thỏa định nghĩa này.
Một câu ghi nhớ
Bất đồng là rạn nứt; làm Uposatha riêng trong cùng ranh giới mới là phá Tăng. Người phá Tăng chịu khổ một kiếp, người hòa giải hưởng phước một kiếp.
Đọc thêm: Devadatta – bài học về chia rẽ Tăng đoàn, Adhikaraṇa – bốn loại tranh tụng, Sīmā – ranh giới hành Tăng sự, Vattakkhandhaka – mười bốn nhóm phận sự và Ngài Upāli – chuyên gia Vinaya.
Nguồn tham khảo
- Saṅghabhedakakkhandhaka (Kd 17), Pāli và bản dịch Anh của Bhikkhu Brahmali, SuttaCentral: https://suttacentral.net/pli-tv-kd17
- Parivāra, Upālipañcaka (Pvr 17), SuttaCentral: pli-tv-pvr17; Saṅghādisesa 10: pli-tv-bu-vb-ss10
- Samantapāsādikā, Cūḷavagga-aṭṭhakathā, Upālipañhākathā, bản Chaṭṭha Saṅgāyana của VRI.
- Tỳ-khưu Indacanda (dịch), Tạng Luật – Tiểu Phẩm, chương VII Chia Rẽ Hội Chúng: budsas.net