Bốn Cõi (Bhūmi) Của Tâm: Dục, Sắc, Vô Sắc, Siêu Thế Khác Gì Bốn Cõi Sinh?

Bốn cõi của tâm (bhūmi) là bốn “tầng” mà Abhidhammattha Saṅgaha dùng để chia toàn bộ 89 tâm: tâm dục giới (kāmāvacara, 54 tâm), tâm sắc giới (rūpāvacara, 15 tâm), tâm vô sắc giới (arūpāvacara, 12 tâm) và tâm siêu thế (lokuttara, 8 tâm). Cần phân biệt với bốn cõi sinh tồn ở chương V của cùng tác phẩm: khổ cảnh, cõi vui dục giới, cõi sắc giới và cõi vô sắc giới. Tầng tâm và cõi sinh không trùng nhau hoàn toàn.

Site đã có bài về 31 cõi tái sinh và bảng 89 tâm. Bài này chỉ trả lời một câu hỏi hẹp mà người mới học hay nhầm: “dục giới, sắc giới, vô sắc giới” khi nói về tâm khác gì khi nói về cõi?

1. Hồ sơ chủ đề

  • Thuật ngữ: bhūmi (cõi, tầng, địa), avacara (thường lui tới), pariyāpanna / apariyāpanna (hệ thuộc / không hệ thuộc)
  • Tạng Abhidhamma: Dhammasaṅgaṇī, định nghĩa kāmāvacara, rūpāvacara, arūpāvacara, apariyāpanna (Ds 2.3.2:262.1–269.3)
  • Chú giải: Atthasālinī, Nikkhepakaṇḍa (đoạn 988)
  • Cẩm nang: Abhidhammattha Saṅgaha chương I (đoạn 3, 36), chương IV (đoạn 49–54), chương V (đoạn 3–12) bản CST

2. Bốn tầng tâm trong chương I

“Tattha cittaṃ tāva catubbidhaṃ hoti kāmāvacaraṃ rūpāvacaraṃ arūpāvacaraṃ lokuttarañceti.” (Abhidh-s I, đoạn 3 bản CST)

“Trong đó, trước hết tâm có bốn loại: dục giới, sắc giới, vô sắc giới và siêu thế.”

Bài kệ đếm: “Catupaññāsadhā kāme, rūpe pannarasīraye. Cittāni dvādasāruppe, aṭṭhadhānuttare tathā”, “ở dục giới 54 tâm, ở sắc giới 15, ở vô sắc giới 12, siêu thế 8” (Abhidh-s I, đoạn 36 bản CST). Cộng lại 54 + 15 + 12 + 8 = 89.

3. Bốn cõi sinh tồn trong chương V

“Tattha apāyabhūmi kāmasugatibhūmi rūpāvacarabhūmi arūpāvacarabhūmi ceti catasso bhūmiyo nāma.” (Abhidh-s V, đoạn 3 bản CST)

“Trong đó, khổ cảnh, cõi vui dục giới, cõi sắc giới, cõi vô sắc giới: đó là bốn cõi.”

Saṅgaha liệt kê chi tiết: khổ cảnh có 4 (địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ, a-tu-la); cõi vui dục giới có 7 (người và sáu cõi trời); hai nhóm này gộp lại là 11 cõi dục; cõi sắc giới có 16; cõi vô sắc có 4 (Abhidh-s V, đoạn 4–12 bản CST). Tổng cộng 31 cõi.

So sánh hai danh sách sẽ thấy ngay: danh sách tâm có “siêu thế” mà không có “khổ cảnh”; danh sách cõi có “khổ cảnh” mà không có “siêu thế”. Không có cõi nào tên là “cõi siêu thế”.

4. Dhammasaṅgaṇī định nghĩa bằng phạm vi

Dhammasaṅgaṇī định nghĩa các pháp dục giới bằng một vùng không gian:

“Katame dhammā kāmāvacarā? Heṭṭhato avīcinirayaṃ pariyantaṃ karitvā, uparito paranimmitavasavattī deve anto karitvā, yaṃ etasmiṃ antare etthāvacarā ettha pariyāpannā khandhadhātu āyatanā…” (Ds 2.3.2:262.1–262.2)

“Những pháp nào là dục giới? Lấy địa ngục Vô gián làm giới hạn dưới, lấy chư thiên Tha hóa tự tại làm giới hạn trên, các uẩn, giới, xứ thường lui tới, bị hệ thuộc trong khoảng giữa ấy…”

Nhưng với pháp sắc giới và vô sắc giới, Dhammasaṅgaṇī thêm một chi tiết quan trọng: đó là tâm và tâm sở “của người đã nhập định, hoặc đã sinh vào cõi ấy, hoặc đang an trú lạc trú hiện tại” (samāpannassa vā upapannassa vā diṭṭhadhammasukhavihārissa vā, Ds 2.3.2:264.2; 266.2). Như vậy, một con người ở cõi dục vẫn có thể có tâm sắc giới khi đắc thiền.

Cuối cùng, nhóm “không hệ thuộc” (apariyāpanna) gồm: “các đạo, các quả của đạo, và giới vô vi” (Ds 2.3.2:269.2). Đó chính là tầng siêu thế, cộng với Niết-bàn.

5. Chữ “avacara” và chữ “bhūmi”

Theo chú thích của Ngài Narada, avacara nghĩa là “cái thường lui tới”. Tâm dục giới là tâm “phần lớn lui tới” trong cõi dục, hoặc liên quan đến các giác quan và cảnh của chúng; nhưng chúng cũng khởi ở các cõi khác khi có cảnh dục được biết. Tương tự, tâm sắc giới, vô sắc giới là tâm liên quan đến thiền sắc giới, vô sắc giới, hoặc phần lớn lui tới ở các cõi ấy.

Về chữ bhūmi, Atthasālinī cho một ví dụ hay: người ta gọi “đất mía”, “đất lúa” là nơi mía, lúa mọc lên; cũng vậy, tâm là nơi lạc thọ khởi lên nên được gọi là “đất của lạc” (sukhabhūmi) (Atthasālinī, đoạn 988). Bhūmi vì vậy có thể chỉ “nơi” theo nghĩa cõi sinh, hoặc “nền” theo nghĩa tầng tâm.

6. Tầng tâm nào khởi ở cõi nào?

Chương IV của Saṅgaha đếm số tâm lộ trình có thể khởi ở mỗi cõi:

“Asīti vīthicittāni, kāme rūpe yathārahaṃ. Catusaṭṭhi tathārūpe, dvecattālīsa labbhare.” (Abhidh-s IV, đoạn 54 bản CST)

“Ở cõi dục có 80 tâm lộ trình, ở cõi sắc 64, ở cõi vô sắc 42, tùy trường hợp.”

Lý do: ở cõi dục có đủ mọi tâm lộ trình (đoạn 49); ở cõi sắc không có tâm sân và tâm đăng ký (đoạn 50), cũng như các thức mũi, lưỡi, thân vì thiếu căn tương ứng (đoạn 52); ở cõi vô sắc không có đạo thứ nhất, tâm sắc giới, tâm tiếu sinh và các tâm vô sắc thấp hơn, cùng với các tâm qua năm môn (đoạn 51–52).

Bảng tóm tắt sự khác biệt:

Câu hỏiTrả lời theo văn bản
Người ở cõi dục có tâm sắc giới không?Có, khi nhập thiền (Ds 2.3.2:264.2)
Phạm thiên cõi sắc có tâm dục giới không?Có, trừ tâm sân, tâm đăng ký và các thức mũi, lưỡi, thân (Abhidh-s IV, đoạn 50, 52)
Có “cõi siêu thế” không?Không; siêu thế là tầng tâm “không hệ thuộc” (Ds 2.3.2:269.2)
Tâm siêu thế khởi ở cõi nào?Ở cõi dục, sắc, vô sắc, trừ đạo thứ nhất ở cõi vô sắc và trừ cõi vô tưởng (Abhidh-s IV, đoạn 51, 53)

7. Năm từ Pāli cần nhớ

Từ PāliNghĩaGhi chú
bhūmicõi, tầng, nềnDùng cho cả tầng tâm và cõi sinh
avacarathường lui tớikāmāvacara, rūpāvacara, arūpāvacara
apariyāpannakhông hệ thuộcĐạo, quả, Niết-bàn
apāyabhūmikhổ cảnhChỉ có trong danh sách cõi sinh
mahaggatađáo đạiTên chung của tâm sắc giới và vô sắc giới

8. Một điểm dễ hiểu sai

Hiểu lầm: “tâm dục giới” là tâm của chúng sinh ở cõi dục, “tâm sắc giới” là tâm của chư Phạm thiên.

Theo văn bản: tên tầng tâm không chỉ nơi chúng sinh đang sống. Một người ở cõi người có thể có tâm sắc giới, vô sắc giới khi nhập định, và có tâm siêu thế khi chứng đạo (Ds 2.3.2:264.2; 266.2). Ngược lại, chư Phạm thiên vẫn có nhiều tâm dục giới (Abhidh-s IV, đoạn 50 bản CST). Tầng tâm nói về phẩm chất và đối tượng của tâm; cõi sinh nói về nơi tâm tục sinh đặt chúng sinh vào.

9. Ứng dụng trong đời sống

  • Cõi trời ở ngay trong tâm: khi tâm định sâu, người tu đang có tâm “sắc giới” dù thân vẫn ở cõi người.
  • Siêu thế không phải nơi chốn: Niết-bàn không phải một cõi để đến, mà là thực tại được chứng ngộ bằng tâm đạo, quả.
  • Biết mình đang ở tầng nào: phần lớn thời gian, tâm ta là tâm dục giới; nhận biết điều đó giúp không ảo tưởng về trình độ tu tập.
  • Tâm tạo cõi: nghiệp thiện sắc giới đưa đến cõi sắc giới (Abhidh-s V, đoạn 75–88 bản CST); tầng tâm hôm nay chuẩn bị cõi sinh ngày mai.

Ba câu hỏi ôn tập

  1. Bốn tầng tâm và số tâm của mỗi tầng là gì?
  2. Bốn cõi sinh tồn trong chương V của Saṅgaha là gì?
  3. Nhóm pháp “không hệ thuộc” gồm những gì?

Đáp án: (1) Dục giới 54, sắc giới 15, vô sắc giới 12, siêu thế 8 (Abhidh-s I, đoạn 36 bản CST). (2) Khổ cảnh, cõi vui dục giới, cõi sắc giới, cõi vô sắc giới (Abhidh-s V, đoạn 3). (3) Các đạo, các quả và giới vô vi (Ds 2.3.2:269.2).

Câu hỏi thường gặp

Vì sao gọi là “sắc giới” khi chư thiên dục giới cũng có thân?

Narada dẫn giải thích của chú giải: các cõi ấy được gọi là cõi sắc vì chúng sinh tái sinh ở đó nhờ tu thiền dựa chủ yếu trên đề mục sắc như kasiṇa đất, nước, lửa.

Tâm siêu thế có thuộc “ba cõi” không?

Không. Ba cõi (tebhūmaka) chỉ gồm dục, sắc, vô sắc; tâm siêu thế thuộc nhóm không hệ thuộc (Ds 2.3.2:268.2–269.2).

Ở cõi vô sắc có tâm qua năm giác quan không?

Không. Ở đó không có sắc pháp nên không có các tâm qua năm môn (Abhidh-s IV, đoạn 52 bản CST).

Đọc thêm: 31 Cõi Tái Sinh — Hệ Thống Vũ Trụ Học Theravāda, 89 Tâm (Citta), 8 Hay 40 Tâm Siêu Thế?, Vīthimutta: Tâm Ngoài Lộ Trình và Bốn Pháp Chân Đế.

Một câu ghi nhớ

“Tâm có bốn loại: dục giới, sắc giới, vô sắc giới và siêu thế.” (Abhidh-s I, đoạn 3)

Nguồn tham khảo

  1. Dhammasaṅgaṇī, Dukanikkhepa (Ds 2.3.2), bản Pāli trên SuttaCentral: https://suttacentral.net/ds2.3.2
  2. Atthasālinī, Nikkhepakaṇḍa (tệp abh01a.att6), bản Chaṭṭha Saṅgāyana: tipitaka.org
  3. Abhidhammatthasaṅgaha, chương I, IV và V, bản Chaṭṭha Saṅgāyana (tệp abh07t.nrf0, abh07t.nrf3, abh07t.nrf4): tipitaka.org
  4. Nārada Mahā Thera, Vi Diệu Pháp Toát Yếu, Phạm Kim Khánh dịch, Chương 1, mục Bốn Loại Tâm Vương: budsas.net
  5. Nārada Mahā Thera, A Manual of Abhidhamma, Chapter I, chú thích 5–7: budsas.net