Truyền thống Theravāda gọi ngôn ngữ của Tam Tạng là Māgadhī, tiếng xứ Magadha. Học giới hiện đại phần lớn cho rằng Pāli không trùng với tiếng Māgadhī mà ta biết qua các văn bia và văn phạm Prakrit, nhưng lại thấy trong kinh một số dạng mang đặc điểm phương Đông, thường gọi là “Māgadhism”. Bài viết này xem xét Māgadhī trong kinh Pāli qua các ví dụ thật, từ kinh văn đến cách chú giải xử lý chúng.
Bài viết đọc bản VRI (Trường Bộ, Trung Bộ, chú giải, Visuddhimagga) và tách riêng ý kiến của từng học giả: Wilhelm Geiger, Heinrich Lüders, K.R. Norman, O.H. de A. Wijesekera và Stefan Karpik.
1. Truyền thống nói gì?
Visuddhimagga, khi giải thích trí phân tích về ngôn từ (niruttipaṭisambhidā), gọi ngôn ngữ ấy là:
“sabhāvaniruttiyā māgadhikāya sabbasattānaṃ mūlabhāsāya pabhedagataṃ ñāṇaṃ niruttipaṭisambhidā” (Visuddhimagga, chương 14, Khandhaniddesa)
“Trí đạt đến sự phân biệt về ngôn ngữ tự nhiên, tức tiếng Māgadha, ngôn ngữ gốc của mọi chúng sinh, đó là trí phân tích về ngôn từ.”
Chú giải Luật còn đồng nhất Māgadhī với “ngôn ngữ của bậc Thánh” khi giải chữ ariyaka trong điều luật về xả giới:
“Tattha ariyakaṃ nāma ariyavohāro, māgadhabhāsā.” (Samantapāsādikā, chú giải Pārājika)
“Ở đây, ariyaka là lối nói của bậc Thánh, tức tiếng Māgadha.”
Đây là quan điểm của truyền thống chú giải. Nó không cho biết tiếng Māgadhī ấy giống những phương ngữ cụ thể nào; đó là câu hỏi của ngôn ngữ học hiện đại.
2. Học giới nói gì? Bốn quan điểm
- Heinrich Lüders (1869–1943): trong sách xuất bản sau khi ông mất, Beobachtungen über die Sprache des buddhistischen Urkanons (Ernst Waldschmidt biên tập, Berlin 1954), theo cách Geiger tóm lược, Lüders cho rằng kinh điển Pāli được dịch từ một phương ngữ khác là Ardhamāgadhī cổ. Karpik (xem dưới) cũng ghi rằng Lüders xếp các dạng -e thay cho -o vào loại “Māgadhism”.
- Wilhelm Geiger: trong Pāli Literatur und Sprache (1916; bản Anh của Batakrishna Ghosh), theo đoạn trích đăng trên diễn đàn SuttaCentral, Geiger viết rằng ông không thể tán thành quan điểm cho rằng kinh Pāli được dịch từ một phương ngữ khác (“theo Lüders, từ Ardha-Māgadhī cổ”), và cho rằng không nên vội bác bỏ hoàn toàn truyền thống.
- K.R. Norman: trong bài “The Origin of Pāli and its Position among the Indo-European Languages” (1988), Norman viết rằng ngôn ngữ của kinh điển “là một hỗn hợp các phương ngữ”, có những đặc điểm Māgadhī như “tiền tố pali- thay cho pari-, hay một số danh cách số ít tận cùng -e thay cho -o”. Ông cho rằng nhiều dạng ấy còn lại do kỹ thuật chuyển ngữ chưa triệt để: người chuẩn hóa văn bản đã sót, không “dịch” hết. Norman cũng có một bài riêng mang tên “Pāli and the Language of the Heretics” (1976).
- Stefan Karpik: trong “The Buddha taught in Pali: A working hypothesis” (Journal of the Oxford Centre for Buddhist Studies, 2019), Karpik phản biện đồng thuận trên. Ông cho rằng truyền thống “Đức Phật nói Māgadhī” là muộn, rằng chú giải định nghĩa Māgadhabhāsā là Ariyaka (như câu Samantapāsādikā ở trên), và đặt câu hỏi liệu các dạng -e, bhikkhave, pali- có thật là Māgadhism hay có cách giải thích khác.
Nói gọn: các học giả cùng thấy những dạng “phương Đông” trong kinh, nhưng giải thích khác nhau về nguồn gốc của chúng. Về bối cảnh rộng hơn, xem Lịch sử ngôn ngữ Pāli và So sánh Pāli và Sanskrit.
3. Dấu vết thứ nhất: danh cách số ít tận cùng -e
Trong Pāli chuẩn, danh từ giống đực gốc -a có danh cách số ít tận cùng -o (dhammo, kāyo), giống trung tận cùng -aṃ (rūpaṃ). Theo Norman, một đặc điểm của Māgadhī là danh cách số ít tận cùng -e. Kinh Sa-môn Quả (DN 2) có một câu cho thấy hai kiểu đứng cạnh nhau. Pakudha Kaccāyana liệt kê bảy “thân” bất động:
“Pathavikāyo, āpokāyo, tejokāyo, vāyokāyo, sukhe, dukkhe, jīve sattame” (DN 2, đoạn 174)
“Thân đất, thân nước, thân lửa, thân gió, lạc, khổ, và mạng sống là thứ bảy.”
Bốn chữ đầu tận cùng -o, ba chữ sau tận cùng -e, dù đều là danh cách. Cũng trong kinh này, lời của Makkhali Gosāla và Ajita Kesakambalī:
“Natthi attakāre, natthi parakāre” (DN 2, đoạn 168, lời Makkhali Gosāla)
“Không có việc tự mình làm, không có việc người khác làm.”
“Bāle ca paṇḍite ca kāyassa bhedā ucchijjanti vinassanti” (DN 2, đoạn 171, lời Ajita Kesakambalī)
“Kẻ ngu cũng như người trí, khi thân hoại thì bị cắt đứt, tiêu diệt.”
Bāle ca paṇḍite ca ở đây là chủ ngữ số nhiều của động từ ucchijjanti; dạng Pāli chuẩn sẽ là bālā ca paṇḍitā ca.
O.H. de A. Wijesekera, trong luận án Syntax of the Cases in the Pali Nikayas (Đại học London, 1936), dẫn Geiger để gọi các dạng này là “cái gọi là Māgadhism”, đếm được 6 dạng giống đực và 8 dạng giống trung trong Trường Bộ và Trung Bộ, và nhận xét rằng chúng được đặt vào miệng các vị thầy ngoại đạo, những người mà phương ngữ “tự nhiên là một loại Prakrit phương Đông”. Ông cũng ghi lời gọi ehi tvaṃ samma Bhesike (DN 12) theo bản PTS, nơi danh cách -e dùng như hô cách. Bản VRI ở chỗ này đọc tên là Rosika, ghi bhesikaṃ (sī. pī.) là dị bản; xem cách đọc ký hiệu trong bài dị bản kinh Pāli.
Chú giải đọc các dạng này ra sao?
Các nhà chú giải nhận ra đây là danh cách. Sumaṅgalavilāsinī giải câu của Makkhali bằng cách “chuẩn hóa” luôn:
“Doṇamiteti doṇena mitaṃ viya. Sukhadukkheti sukhadukkhaṃ.” (Sumaṅgalavilāsinī, chú giải DN 2)
“Doṇamite: như được đong bằng cái đấu. Sukhadukkhe: tức là sukhadukkhaṃ (lạc khổ).”
Chú giải Trưởng lão Tăng kệ còn gọi tên hiện tượng khi giải chữ bhadante trong kệ của Tôn giả Kāḷudāyī:
“Paccattavacanañcetaṃ ekārantaṃ ‘‘sukaṭe paṭikamme sukhe dukkhepi ce’’tiādīsu viya.” (Theragāthā-aṭṭhakathā, Kāḷudāyittheragāthāvaṇṇanā)
“Và đây là danh cách tận cùng bằng e, như trong các câu ‘sukaṭe paṭikamme’, ‘sukhe dukkhe’…”
Như vậy truyền thống không coi đây là lỗi, mà là một kiểu danh cách được chấp nhận. Chú giải không gọi chúng là “phương Đông”; cái nhãn ấy là của học giới hiện đại.
4. Dấu vết thứ hai: l thay cho r
Một đặc điểm khác mà Norman nêu là tiền tố pali- thay cho pari- (“xung quanh”). Trong kinh Ví Dụ Con Rắn (MN 22):
“aṅgapaccaṅgaṃ bhogehi paliveṭheyya” (MN 22, đoạn 239)
“(Con rắn) có thể quấn quanh một chi thể nào đó bằng thân mình.”
Điều thú vị: trong các tệp kinh tạng của bản VRI mà chúng tôi tìm, động từ này chỉ xuất hiện với paliveṭh- và sampaliveṭh-, không thấy dạng pariveṭh-. Nghĩa là ở một số từ, dạng phương Đông đã trở thành dạng Pāli “chuẩn”. Tương tự, MN 8 dùng palipapalipanno, “bị lún trong bùn”.
5. Dấu vết đang tranh luận: bhikkhave
Lời gọi quen thuộc nhất trong kinh, bhikkhave (“này các tỳ-khưu”), có tận cùng -e thay vì dạng hô cách số nhiều bhikkhavo. Theo Karpik, Geiger (1916) cho rằng bhikkhave là một Māgadhism đã đi từ tiếng nói dân gian vào ngôn ngữ văn học. Karpik thì đặt nghi vấn về cách giải thích này. Chúng tôi ghi nhận cả hai, không kết luận thay người đọc.
Năm từ Pāli cần nhớ
| Từ Pāli | Nghĩa | Ghi chú |
|---|---|---|
| māgadhabhāsā | tiếng Magadha | tên truyền thống của Pāli |
| mūlabhāsā | ngôn ngữ gốc | Visuddhimagga 14 |
| paccattavacana | danh cách (cách thứ nhất) | thuật ngữ chú giải |
| ekāranta | tận cùng bằng e | Theragāthā-aṭṭhakathā |
| ariyaka | ngôn ngữ của bậc Thánh | Samantapāsādikā |
Một điểm dễ hiểu sai
Thấy chữ “Māgadhism”, có người kết luận rằng “Pāli chính là tiếng Māgadhī” hoặc ngược lại “Pāli chẳng liên quan gì đến Magadha”. Cả hai đều vượt quá chứng cứ. Các dạng -e trong kinh chỉ cho thấy văn bản có những lớp phương ngữ khác nhau; còn chúng đến từ đâu (một bản gốc phương Đông, sự pha trộn trong truyền khẩu, hay chủ ý mô tả giọng nói của người ngoại đạo) thì học giới vẫn tranh luận.
Ứng dụng trong đời sống học Pāli
- Khi phân tích ngữ pháp: gặp một danh từ tận cùng -e mà ngữ cảnh đòi danh cách, đừng vội cho là vị trí cách; xem chú giải, như cách bài về các cụm từ kỹ thuật của chú giải hướng dẫn.
- Khi đọc DN 2: để ý rằng các dạng -e tập trung trong lời sáu vị thầy ngoại đạo; đây là một chi tiết văn bản đáng nhớ.
- Khi đọc học thuật: luôn hỏi “ai nói điều này, dựa vào chứng cứ nào”, vì chủ đề này có nhiều quan điểm đối lập.
Ba câu hỏi ôn tập
- Trong câu của Pakudha Kaccāyana, chữ nào cho thấy danh cách -e?
- Chú giải DN 2 giải sukhadukkhe bằng dạng nào?
- Norman nêu hai đặc điểm Māgadhī nào trong bài năm 1988?
Đáp án: (1) sukhe, dukkhe, jīve, đứng cạnh pathavikāyo tận cùng -o. (2) Sukhadukkhaṃ. (3) Tiền tố pali- thay pari- và danh cách số ít -e thay -o.
Câu hỏi thường gặp
Vậy Đức Phật nói tiếng gì?
Chúng ta không có bản ghi nào trực tiếp từ thời Đức Phật. Truyền thống nói là Māgadhī; nhiều học giả như Norman cho rằng Ngài dùng nhiều phương ngữ khi du hành; Karpik cho rằng khả năng Ngài dùng chính Pāli chưa bị bác bỏ. Câu trả lời trung thực là: còn tranh luận.
Có nên “sửa” các dạng -e thành -o khi đọc tụng không?
Không. Văn bản truyền thống và chú giải đều giữ nguyên các dạng này. Hiểu chúng là danh cách là đủ.
Một câu ghi nhớ
“Sukhe, dukkhe, jīve”: một chữ e nhỏ trong lời người ngoại đạo mở ra cả một cuộc tranh luận về quê hương của tiếng Pāli.
Nguồn tham khảo
- Trường Bộ, bản VRI: s0101m.mul1.xml (DN 2), s0101m.mul11.xml (DN 12); chú giải s0101a.att2.xml; Trung Bộ s0201m.mul2.xml (MN 22)
- Visuddhimagga: e0102n.mul2.xml; Samantapāsādikā: vin01a.att2.xml; Theragāthā-aṭṭhakathā: s0508a2.att6.xml
- K.R. Norman, “The Origin of Pāli and its Position among the Indo-European Languages”, Journal of Pali and Buddhist Studies 1 (1988): bản trực tuyến
- O.H. de A. Wijesekera, Syntax of the Cases in the Pali Nikayas (luận án 1936; Kelaniya 1993), §10: Case-Forms in the Nikayas
- Stefan Karpik, “The Buddha taught in Pali: A working hypothesis”, JOCBS 16 (2019): Academia
- Về Geiger và Lüders: thảo luận “Stefan Karpik on Pali”, SuttaCentral; Lüders, Heinrich – Who Was Who in Indology
