Dị Bản Trong Kinh Pāli: Đọc Ghi Chú Văn Bản Của Ấn Bản Chaṭṭha Saṅgāyana Và PTS

Dị bản kinh Pāli là những chỗ mà cùng một câu kinh được các truyền thống chép tay hay các ấn bản in ghi khác nhau, từ một nguyên âm dài ngắn cho đến cả một chữ mang nghĩa khác. Ấn bản Chaṭṭha Saṅgāyana (VRI) ghi các dị bản này ngay trong văn bản, trong ngoặc đơn kèm ký hiệu như (sī.), (syā.), (pī.). Biết đọc những ghi chú ấy, người học có thể tự kiểm tra một câu kinh trước khi dịch hay trích dẫn.

Bài viết dựa trên bản VRI (Trung Bộ, Tương Ưng Bộ và chú giải), trang hướng dẫn của tipitaka.org, các ghi chú dị bản của SuttaCentral, và một nghiên cứu của Oskar von Hinüber.

1. Vì sao kinh Pāli có dị bản?

Theo Mahāvaṃsa, Tam Tạng và chú giải lúc đầu được truyền miệng, rồi đến thời vua Vaṭṭagāmaṇi ở Sri Lanka mới được ghi thành sách:

“Piṭakattayapāḷiñca, tassa aṭṭhakathampi ca; Mukhapāṭhena ānesuṃ, pubbe bhikkhū mahāmati. Hāniṃ disvāna sattānaṃ, tadā bhikkhū samāgatā; Ciraṭṭhitatthaṃ dhammassa, potthakesu likhāpayuṃ.” (Mahāvaṃsa, chương 33, kệ 102–103, bản VRI)

“Trước kia, các tỳ-khưu có đại trí truyền Pāli Tam Tạng và chú giải bằng lối tụng thuộc lòng. Thấy sự suy giảm của chúng sinh, các tỳ-khưu khi ấy hội họp lại và cho viết vào sách, để Chánh pháp được tồn tại lâu dài.”

Từ đó, văn bản được chép tay qua nhiều thế kỷ, ở nhiều vùng, bằng nhiều hệ chữ khác nhau. Mỗi lần chép lại, chữ có thể bị đổi: nhầm mặt chữ giống nhau, “sửa” từ khó thành từ quen, hoặc chuẩn hóa chính tả theo địa phương. Kết quả là các dòng truyền thừa Sri Lanka, Miến Điện, Thái Lan, Campuchia đều có những chỗ khác nhau, phần lớn nhỏ, một số đáng kể.

Theo trang giới thiệu của tipitaka.org, kỳ kết tập thứ sáu ở Yangon (1954–1956) đã đối chiếu Tam Tạng “trong mọi hệ chữ”, ghi lại các chỗ khác biệt, và kết luận rằng nội dung giữa các bản “không khác nhau nhiều”. Văn bản được thông qua rồi in bằng chữ Miến. Bản VRI ngày nay là bản số hóa của văn bản đó, giữ lại các ghi chú dị bản.

2. Đọc một ghi chú dị bản trong bản VRI

Khuôn của ghi chú là: chữ trong văn bản chính (chữ của bản khác (ký hiệu bản)). Trang Help của tipitaka.org giải thích các ký hiệu:

Ký hiệuTheo tipitaka.orgGhi chú
sī.bản Sri Lankatừ Sīhaḷa
syā.bản Tháitừ Syāma
pī.bản Pali Text Societyấn bản Latinh ở Anh
kaṃ. / ka.bản Campuchiaxem lưu ý bên dưới

Ví dụ mà chính trang Help đưa ra nằm trong kinh Tất Cả Lậu Hoặc (MN 2):

“Atthi me attā’ti vā assa (vāssa (sī. syā. pī.))” (MN 2, đoạn 19)

“Hoặc khởi lên (quan điểm) ‘Ta có tự ngã’.” Bản chính viết tách vā assa; các bản Sri Lanka, Thái và PTS viết nối âm thành vāssa.

Không có ký hiệu cho bản Miến, vì văn bản chính là bản kết tập ở Miến Điện. Còn hai dấu hiệu nên biết. Evamuparipi nghĩa là “ở các chỗ sau cũng vậy”, tức dị bản lặp lại trong cả đoạn. Dấu (?) đi kèm một dị bản mà không có tên bản, như nappaṭibhāseyya (nappaṭibheyya (?)) ở MN 24. Chúng tôi chưa tìm được lời giải thích chính thức cho dấu này; có vẻ nó đánh dấu một cách đọc không rõ nguồn.

Lưu ý về ka.: trang Help gộp kaṃ. và ka. là bản Campuchia, nhưng có ghi chú dùng cả hai ký hiệu cạnh nhau (ví dụ MN 34 bên dưới: syā. kaṃ. ka.). Vì vậy chúng tôi chưa xác minh được nghĩa chính xác của ka. trong mọi trường hợp.

3. Bốn ví dụ thật, từ nhỏ đến lớn

Ví dụ 1: chính tả (MN 1)

Trong kinh Pháp Môn Căn Bản, bản chính viết sekkho (sekho (sī. syā. kaṃ. pī.)), “bậc hữu học”. Chỉ khác nhau một phụ âm đôi; nghĩa không đổi. Đây là loại dị bản phổ biến nhất.

Ví dụ 2: tên riêng, và một dị bản đã có từ thời chú giải (MN 15)

Mở đầu kinh Tư Lường (MN 15), bản chính ghi susumāragire (suṃsumāragire (sī. syā. pī.)). Tên khu rừng Bhesakaḷāvana thì bản kinh không ghi dị bản, nhưng chú giải Papañcasūdanī lại ghi:

“Bhesakaḷāvaneti bhesakaḷānāmake vane. ‘‘Bhesagaḷāvane’’tipi pāṭho.” (Papañcasūdanī, chú giải MN 15, đoạn 181)

“Bhesakaḷāvane: trong khu rừng tên Bhesakaḷā. Cũng có bản đọc là Bhesagaḷāvane.”

Cụm …tipi pāṭho, “cũng có bản đọc là”, cho thấy các nhà chú giải đã biết đến dị bản và ghi lại chúng. Trong 47 tệp aṭṭhakathā của bản VRI, chúng tôi đếm được hơn 500 lần cụm này. Về các cụm từ kỹ thuật khác của chú giải, xem bài về ti attho, vuttaṃ hoti, adhippāyo.

Ví dụ 3: văn bản chính và chú giải chọn hai cách đọc khác nhau (MN 34)

Câu kệ cuối của kinh Tiểu Kinh Người Chăn Bò (MN 34) trong bản VRI:

“Pāmojjabahulā hotha, khemaṃ pattattha (patthetha (syā. kaṃ. ka. aṭṭhakathāyaṃ saṃvaṇṇetabbapāṭho)) bhikkhavo” (MN 34, câu kệ cuối)

“Này các tỳ-khưu, hãy tràn đầy hân hoan; các vị đã đạt đến an ổn.”

Ghi chú nói: các bản Thái, Campuchia đọc patthetha (“hãy mong cầu”), và đó là “cách đọc được giải thích trong chú giải” (aṭṭhakathāyaṃ saṃvaṇṇetabbapāṭho). Mở chú giải ra, đúng như vậy:

“Khemaṃ patthethāti kattukamyatāchandena arahattaṃ patthetha, kattukāmā nibbattetukāmā hothāti attho. ‘‘Patta’tthā’’tipi pāṭho.” (Papañcasūdanī, chú giải MN 34)

“‘Hãy mong cầu an ổn’: hãy mong cầu quả A-la-hán bằng ý muốn làm; nghĩa là hãy muốn làm, muốn thành tựu. Cũng có bản đọc là patta’tthā (các vị đã đạt).”

Như vậy, chú giải lấy patthetha làm chính và ghi pattattha là dị bản, còn văn bản kết tập thứ sáu thì ngược lại. Một bên là lời khuyến khích (“hãy mong cầu”), một bên là lời xác nhận (“các vị đã đạt”). Người dịch phải chọn, và nên ghi rõ mình chọn cách nào. Đọc thêm về bản kinh này trong bài MN 34 – Tiểu Kinh Người Chăn Bò.

Ví dụ 4: một chữ, ba nghĩa (SN 1.71)

Bài kệ đầu của phẩm Chetvā trong Tương Ưng Bộ:

“Kiṃsu chetvā (jhatvā (sī.), ghatvā (syā. kaṃ.) evamuparipi) sukhaṃ seti” (SN 1.71)

“Cắt đứt cái gì thì ngủ an lạc?”

Bản chính đọc chetvā (“cắt đứt”); bản Sri Lanka đọc jhatvā; bản Thái và Campuchia đọc ghatvā; và evamuparipi báo rằng các chỗ sau cũng thế. Ghi chú dị bản của SuttaCentral cho cùng chỗ này ghi jhatvā ở bản Buddha Jayanti của Sri Lanka và ấn bản PTS lần hai.

Oskar von Hinüber, trong báo cáo về các bản chép tay Bắc Thái (Journal of the Siam Society, 1983), bàn đúng chỗ này (SN I 41). Ông viết rằng trong truyền thống Miến Điện, chetvā đã thay thế jhatvā ở mọi nơi, và đặt jhatvā cạnh hantvā (“đã giết”) của Dhammapada kệ 294. Ông cũng ghi rằng một bản chép tay ở Lampang (năm 1549) toàn phẩm Sagāthāvagga đều đọc jjhatvā. Nghĩa là cách đọc “quen tai” nhất không chắc là cách đọc cổ nhất.

4. Ấn bản PTS: đọc số trang và chú thích chân trang

Pali Text Society (Anh) in Tam Tạng bằng chữ Latinh từ cuối thế kỷ 19, dựa trên một số bản chép tay, với dị bản ghi ở chân trang. Các bài nghiên cứu quốc tế thường dẫn kinh theo số tập và số trang PTS, như “S I 41” hay “M I 8”.

Bản VRI dạng XML có đánh dấu ngắt trang của bốn ấn bản: M (bản in Miến), V (VRI), T (bản Thái) và P (PTS). Nhờ vậy, khi mở tệp VRI tại SN 1.71, ta thấy mốc P 1.0041, tức trang 41 tập I của PTS, khớp với số mà von Hinüber dẫn.

Về độ tin cậy, chính học giới cũng thận trọng. Von Hinüber (1983) nói các ấn bản phương Đông vẫn được dùng để kiểm tra “các ấn bản PTS không phải lúc nào cũng đáng tin”. Theo bản tóm tắt của blog Jayarava về bài nói của Alexander Wynne tại Oxford, Wynne cho rằng ấn bản PTS dựa trên “chỉ một số ít bản chép tay”, còn bản kết tập thứ sáu chủ yếu dùng bản chép tay Miến, và cả hai đều chưa khai thác rộng truyền thống bản chép tay Pāli.

5. Bốn bước khi gặp một dị bản

  1. Xác định loại: chính tả, nối âm, tên riêng, hay khác nghĩa. Ba loại đầu thường không ảnh hưởng bản dịch.
  2. Xem chú giải: chú giải có giải thích chữ nào, có ghi tipi pāṭho không, như ví dụ MN 15 và MN 34.
  3. So với SuttaCentral: ghi chú dị bản ở đó dùng ký hiệu khác (bj, sya-all, pts1ed…) nhưng thường bổ sung thêm bản.
  4. Ghi rõ lựa chọn: khi dị bản đổi nghĩa, dịch theo một cách và chú thích cách kia.

Năm từ Pāli cần nhớ

Từ PāliNghĩaGhi chú
pāṭhacách đọc, bản văntrong tipi pāṭho
potthakasáchMahāvaṃsa 33
mukhapāṭhatụng thuộc lòngtruyền miệng
saṃvaṇṇetabbađược giải thíchghi chú MN 34
upariphía sau, phía trêntrong evamuparipi

Một điểm dễ hiểu sai

Có người nghĩ dị bản chứng tỏ kinh Pāli “không đáng tin”. Các ví dụ trên cho thấy điều ngược lại: phần lớn dị bản là chính tả, và các truyền thống tự ghi lại sự khác biệt của mình một cách minh bạch, từ thời chú giải cho đến ấn bản hiện đại. Ngược lại, cũng đừng coi bản VRI là chuẩn tuyệt đối: MN 34 cho thấy nó có lúc khác chú giải.

Ứng dụng trong đời sống học Pāli

Ba câu hỏi ôn tập

  1. Trong vā assa (vāssa (sī. syā. pī.)), chữ nào là của văn bản chính?
  2. Ở MN 34, chú giải chọn cách đọc nào?
  3. Mốc P 1.0041 trong tệp VRI nghĩa là gì?

Đáp án: (1) vā assa; vāssa là của các bản Sri Lanka, Thái, PTS. (2) Patthetha (“hãy mong cầu”), ghi patta’tthā là dị bản. (3) Trang 41 tập I của ấn bản PTS.

Câu hỏi thường gặp

Người mới học có cần quan tâm đến dị bản không?

Chưa cần đi sâu. Chỉ cần nhận ra ngoặc dị bản để không đọc nhầm chúng vào câu kinh.

Nên dùng bản VRI hay bản PTS?

Cả hai đều hữu ích. Bản VRI miễn phí, kèm chú giải và mốc trang PTS; bản PTS có chú thích bản chép tay riêng. Tốt nhất là đối chiếu.

Một câu ghi nhớ

Gặp ngoặc dị bản, đừng bỏ qua: hỏi xem đó là chính tả hay là nghĩa, rồi mở chú giải.

Nguồn tham khảo

  1. Trung Bộ, bản VRI: s0201m.mul0.xml (MN 1–2), s0201m.mul1.xml (MN 15), s0201m.mul3.xml (MN 34); chú giải s0201a.att2.xml, s0201a.att4.xml
  2. Tương Ưng Bộ, bản VRI: s0301m.mul0.xml (SN 1.71); Mahāvaṃsa: e0703n.nrf32.xml
  3. Tipitaka.org: Help (ký hiệu dị bản), Chaṭṭha Saṅgāyana – The Six Dhamma Councils
  4. SuttaCentral: SN 1.71, MN 34; ghi chú dị bản: sn1.71 variant
  5. Oskar von Hinüber, “Pali Manuscripts of Canonical Texts from North Thailand – A Preliminary Report”, Journal of the Siam Society 71 (1983): PDF
  6. Jayarava, “Pāḷi Ur-Text: Some Recent Observations by Alex Wynne” (2015): blog