Đại Kinh Sư Tử Hống (Mahāsīhanādasutta, MN 12) – Phần 2 tiếp nối lời Đức Thế Tôn nói với Tôn giả Sāriputta: năm cõi cùng Niết-bàn qua sáu ví dụ về người lữ hành, những năm khổ hạnh tột bậc của Bồ-tát, sự bác bỏ các thuyết “thanh tịnh nhờ…” và trí tuệ Như Lai không suy giảm ở tuổi tám mươi. Phần này đặt nguyên văn Pāli bản Chaṭṭha Saṅgāyana (VRI) song song với bản dịch tiếng Việt và tiếng Anh sát chữ cho §153–162, hoàn tất trọn bài kinh, kèm chú thích ngữ pháp và thuật ngữ cho người học Pāli.
Hồ sơ bản văn
Tạng: Sutta Piṭaka › Majjhimanikāya › Mūlapaṇṇāsapāḷi › 2. Sīhanādavagga › 12. Mahāsīhanādasutta
Nơi thuyết: Vesālī, khu rừng ở phía tây, ngoài thành
Người thuyết: Đức Thế Tôn
Người nghe / nhân vật: Tôn giả Sāriputta; Tôn giả Nāgasamāla (người quạt hầu, đặt câu hỏi ở cuối kinh)
Bản Pāli: Chaṭṭha Saṅgāyana Tipiṭaka, Vipassana Research Institute (tipitaka.org), đoạn §153–162 (Phần 2; trọn kinh gồm §146–162)
Bản dịch: Theravada.blog, dịch trực tiếp từ Pāli sang Việt và Anh, văn phong sát chữ
Tạng: Sutta Piṭaka › Majjhimanikāya › Mūlapaṇṇāsapāḷi › 2. Sīhanādavagga › 12. Mahāsīhanādasutta
Nơi thuyết: Vesālī, khu rừng ở phía tây, ngoài thành
Người thuyết: Đức Thế Tôn
Người nghe / nhân vật: Tôn giả Sāriputta; Tôn giả Nāgasamāla (người quạt hầu, đặt câu hỏi ở cuối kinh)
Bản Pāli: Chaṭṭha Saṅgāyana Tipiṭaka, Vipassana Research Institute (tipitaka.org), đoạn §153–162 (Phần 2; trọn kinh gồm §146–162)
Bản dịch: Theravada.blog, dịch trực tiếp từ Pāli sang Việt và Anh, văn phong sát chữ
Mục lục
Quy ước trình bày · §153 – Năm cõi · §154 – Sáu ví dụ · §155 – Khổ hạnh · §156 – Thô xấu, nhờm gớm, viễn ly · §157 – Rừng đáng sợ và xả · §158–159 – Thanh tịnh nhờ vật thực · §160 – Luân hồi, tế đàn, thờ lửa · §161 – Trí tuệ không suy giảm · §162 – Pháp môn dựng lông tóc · Thuật ngữ · Nguồn
Quy ước trình bày · §153 – Năm cõi · §154 – Sáu ví dụ · §155 – Khổ hạnh · §156 – Thô xấu, nhờm gớm, viễn ly · §157 – Rừng đáng sợ và xả · §158–159 – Thanh tịnh nhờ vật thực · §160 – Luân hồi, tế đàn, thờ lửa · §161 – Trí tuệ không suy giảm · §162 – Pháp môn dựng lông tóc · Thuật ngữ · Nguồn
Quy ước trình bày
- Mỗi hàng gồm ba ô: Pāli (nền kem, in nghiêng) · Tiếng Việt · English. Trên điện thoại, ba ô tự xếp dọc theo thứ tự đó.
- Số đoạn (§) theo bản VRI; ví dụ “MN 12 §158.3” là ý thứ ba trong đoạn 158. Bản VRI đánh số liên tục trong cả Mūlapaṇṇāsa, nên MN 12 gồm §146–162; Phần 2 này gồm §153–162. Dòng căn giữa cuối bảng là câu kết kinh của chính bản Pāli.
- Chữ nhỏ màu xám trong ngoặc vuông là dị bản hoặc ghi chú do chính bản VRI ghi: sī. (Tích Lan), syā. (Thái), kaṃ. (Campuchia), pī. (PTS), ka. (bản khác).
- Ký hiệu tỉnh lược …pe… của bản Pāli (§155, §159) được giữ nguyên; bản Việt ghi “… (như trên)…”, bản Anh “… (and so on)…”. Các đoạn lặp lại đầy đủ trong nguồn (sáu ví dụ ở §154, phần mô tả thân gầy ở §159) đều được dịch đầy đủ.
- Dịch sát chữ: giữ trật tự và hình thái của câu Pāli, không thêm chữ diễn giải vào thân bản dịch (chữ trong ngoặc vuông [ ] ở bản dịch là phần ngầm hiểu). Phần giải thích đặt riêng trong các dòng Chú thích.
Bản văn song ngữ Pāli – Việt – Anh
Pāli (VRI)
Tiếng Việt
English
§153 – Năm cõi và Niết-bàn
153. ‘‘Pañca kho imā, sāriputta, gatiyo. Katamā pañca? Nirayo, tiracchānayoni, pettivisayo, manussā, devā.
153. “Này Sāriputta, có năm cõi này. Thế nào là năm? Địa ngục, loài bàng sinh, cõi ngạ quỷ, loài người, chư thiên.
153. “There are, Sāriputta, these five destinations. What five? Hell, the animal realm, the domain of ghosts, human beings, devas.
Nirayañcāhaṃ, sāriputta, pajānāmi, nirayagāmiñca maggaṃ, nirayagāminiñca paṭipadaṃ; yathā paṭipanno ca kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapajjati tañca pajānāmi.
Và này Sāriputta, Ta biết rõ địa ngục, con đường đưa đến địa ngục và lối thực hành đưa đến địa ngục; và người thực hành như thế nào mà sau khi thân hoại mạng chung sinh vào khổ cảnh, ác thú, đọa xứ, địa ngục, điều ấy Ta cũng biết rõ.
And I understand hell, Sāriputta, and the path leading to hell, and the way of practice leading to hell; and how one who has so practised, with the breakup of the body, after death, reappears in a state of deprivation, a bad destination, the nether world, hell – that too I understand.
Tiracchānayoniñcāhaṃ, sāriputta, pajānāmi, tiracchānayonigāmiñca maggaṃ, tiracchānayonigāminiñca paṭipadaṃ; yathā paṭipanno ca kāyassa bhedā paraṃ maraṇā tiracchānayoniṃ upapajjati tañca pajānāmi.
Và này Sāriputta, Ta biết rõ loài bàng sinh, con đường đưa đến loài bàng sinh và lối thực hành đưa đến loài bàng sinh; và người thực hành như thế nào mà sau khi thân hoại mạng chung sinh vào loài bàng sinh, điều ấy Ta cũng biết rõ.
And I understand the animal realm, Sāriputta, and the path leading to the animal realm, and the way of practice leading to the animal realm; and how one who has so practised, with the breakup of the body, after death, reappears in the animal realm – that too I understand.
Pettivisayaṃ cāhaṃ, sāriputta, pajānāmi, pettivisayagāmiñca maggaṃ, pettivisayagāminiñca paṭipadaṃ; yathā paṭipanno ca kāyassa bhedā paraṃ maraṇā pettivisayaṃ upapajjati tañca pajānāmi.
Và này Sāriputta, Ta biết rõ cõi ngạ quỷ, con đường đưa đến cõi ngạ quỷ và lối thực hành đưa đến cõi ngạ quỷ; và người thực hành như thế nào mà sau khi thân hoại mạng chung sinh vào cõi ngạ quỷ, điều ấy Ta cũng biết rõ.
And I understand the domain of ghosts, Sāriputta, and the path leading to the domain of ghosts, and the way of practice leading to the domain of ghosts; and how one who has so practised, with the breakup of the body, after death, reappears in the domain of ghosts – that too I understand.
Manusse cāhaṃ, sāriputta, pajānāmi, manussalokagāmiñca maggaṃ, manussalokagāminiñca paṭipadaṃ; yathā paṭipanno ca kāyassa bhedā paraṃ maraṇā manussesu upapajjati tañca pajānāmi.
Và này Sāriputta, Ta biết rõ loài người, con đường đưa đến thế giới loài người và lối thực hành đưa đến thế giới loài người; và người thực hành như thế nào mà sau khi thân hoại mạng chung sinh vào giữa loài người, điều ấy Ta cũng biết rõ.
And I understand human beings, Sāriputta, and the path leading to the human world, and the way of practice leading to the human world; and how one who has so practised, with the breakup of the body, after death, reappears among human beings – that too I understand.
Deve cāhaṃ, sāriputta, pajānāmi, devalokagāmiñca maggaṃ, devalokagāminiñca paṭipadaṃ; yathā paṭipanno ca kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjati tañca pajānāmi.
Và này Sāriputta, Ta biết rõ chư thiên, con đường đưa đến thế giới chư thiên và lối thực hành đưa đến thế giới chư thiên; và người thực hành như thế nào mà sau khi thân hoại mạng chung sinh vào thiện thú, cõi trời, điều ấy Ta cũng biết rõ.
And I understand devas, Sāriputta, and the path leading to the world of the devas, and the way of practice leading to the world of the devas; and how one who has so practised, with the breakup of the body, after death, reappears in a good destination, a heavenly world – that too I understand.
Nibbānañcāhaṃ, sāriputta, pajānāmi, nibbānagāmiñca maggaṃ, nibbānagāminiñca paṭipadaṃ; yathā paṭipanno ca āsavānaṃ khayā anāsavaṃ cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati tañca pajānāmi.
Và này Sāriputta, Ta biết rõ Niết-bàn, con đường đưa đến Niết-bàn và lối thực hành đưa đến Niết-bàn; và người thực hành như thế nào mà do sự đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình thắng tri, chứng ngộ, chứng đạt và an trú tâm giải thoát, tuệ giải thoát vô lậu, điều ấy Ta cũng biết rõ.
And I understand Nibbāna, Sāriputta, and the path leading to Nibbāna, and the way of practice leading to Nibbāna; and how one who has so practised, by the destruction of the taints, here and now enters and dwells in the taintless liberation of mind, liberation by wisdom, having directly known and realized it for himself – that too I understand.
Chú thích: Gati (từ √gam, “đi”) là “nơi đi đến”, tức cõi tái sinh; năm cõi: niraya (địa ngục), tiracchānayoni (bàng sinh, nghĩa đen “loài đi ngang”), pettivisaya (cảnh giới ngạ quỷ), manussā, devā. Kinh nói “năm cõi” nhưng nêu thêm Niết-bàn: theo Chú giải, Niết-bàn được nói đến như sự thoát ly khỏi các cõi, chứ không phải là một cõi thứ sáu. Cấu trúc yathā paṭipanno … upapajjati tañca pajānāmi: “thực hành như thế nào mà … sinh vào, điều ấy Ta cũng biết rõ”.
§154 – Sáu ví dụ về con đường: hố than, hầm phân, hai cây, lâu đài, hồ sen
154. ‘‘Idhāhaṃ, sāriputta, ekaccaṃ puggalaṃ evaṃ cetasā ceto paricca pajānāmi – tathāyaṃ puggalo paṭipanno tathā ca iriyati tañca maggaṃ samārūḷho, yathā kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapajjissatīti. Tamenaṃ passāmi aparena samayena dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapannaṃ, ekantadukkhā tibbā kaṭukā vedanā vedayamānaṃ.
154. “Ở đây, này Sāriputta, với tâm bao quát tâm, Ta biết rõ một số người như vầy: ‘Người này đã thực hành như thế, cư xử như thế và đã bước lên con đường ấy, đến nỗi sau khi thân hoại mạng chung sẽ sinh vào khổ cảnh, ác thú, đọa xứ, địa ngục.’ Rồi vào một thời gian sau, với thiên nhãn thanh tịnh, vượt quá loài người, Ta thấy người ấy sau khi thân hoại mạng chung đã sinh vào khổ cảnh, ác thú, đọa xứ, địa ngục, đang cảm thọ những cảm thọ hoàn toàn khổ, dữ dội, cay đắng.
154. “Here, Sāriputta, encompassing mind with mind, I understand a certain person thus: ‘This person has so practised, so behaves, and has so mounted that path, that with the breakup of the body, after death, he will reappear in a state of deprivation, a bad destination, the nether world, hell.’ And then at a later time, with the divine eye, which is purified and surpasses the human, I see him, with the breakup of the body, after death, reappeared in a state of deprivation, a bad destination, the nether world, hell, experiencing exclusively painful, sharp, bitter feelings.
Chú thích: Cetasā ceto paricca: “với tâm (công cụ cách) bao quát tâm” – paricca là danh động từ của pari + √i, “đi vòng quanh, bao trùm”. Cặp tathā … yathā (“như thế … đến nỗi”) nối hành vi hiện tại với kết quả tương lai (upapajjissati, vị lai). Lưu ý năm mức cảm thọ tăng dần qua sáu ví dụ: ekantadukkhā (hoàn toàn khổ, địa ngục) → dukkhā (bàng sinh) → dukkhabahulā (nhiều khổ, ngạ quỷ) → sukhabahulā (nhiều lạc, loài người) → ekantasukhā (hoàn toàn lạc, cõi trời và Niết-bàn). Trong ví dụ, paṭipanno được dịch “đã đi” vì nói về người lữ hành. Ở ví dụ thứ sáu (Niết-bàn), câu đầu bản VRI in anāsaṃ cetovimuttiṃ, trong khi các câu sau đều là anāsavaṃ; có lẽ là lỗi in sót chữ. Bản Pāli ở đây được giữ đúng như nguồn, bản dịch theo nghĩa anāsavaṃ (vô lậu). Cũng lưu ý: ở ví dụ Niết-bàn, bản Pāli không nói “với thiên nhãn” mà chỉ nói “Ta thấy người ấy … đang an trú”.
Seyyathāpi, sāriputta, aṅgārakāsu sādhikaporisā pūrā aṅgārānaṃ vītaccikānaṃ vītadhūmānaṃ. Atha puriso āgaccheyya ghammābhitatto ghammapareto kilanto tasito pipāsito ekāyanena maggena tameva aṅgārakāsuṃ paṇidhāya. Tamenaṃ cakkhumā puriso disvā evaṃ vadeyya – ‘tathāyaṃ bhavaṃ puriso paṭipanno tathā ca iriyati tañca maggaṃ samārūḷho, yathā imaṃyeva aṅgārakāsuṃ āgamissatī’ti. Tamenaṃ passeyya aparena samayena tassā aṅgārakāsuyā patitaṃ, ekantadukkhā tibbā kaṭukā vedanā vedayamānaṃ.
Ví như, này Sāriputta, một hố than sâu hơn tầm một người, đầy những than hồng không còn ngọn lửa, không còn khói. Rồi một người đi đến, bị sức nóng thiêu đốt, bị sức nóng vây bủa, mệt mỏi, khô cổ, khát nước, theo con đường chỉ có một lối đi, hướng thẳng đến chính hố than ấy. Một người có mắt thấy người ấy có thể nói như vầy: ‘Vị nam tử này đã đi như thế, cư xử như thế và đã bước lên con đường ấy, đến nỗi sẽ đi đến chính hố than này.’ Rồi vào một thời gian sau, người ấy có thể thấy vị kia đã rơi vào hố than ấy, đang cảm thọ những cảm thọ hoàn toàn khổ, dữ dội, cay đắng.
Suppose, Sāriputta, there were a charcoal pit deeper than a man’s height, full of glowing coals without flame or smoke. Then a man would come, scorched by the heat, overcome by the heat, weary, parched and thirsty, by a path going one way only, directed towards that same charcoal pit. A man with eyes, seeing him, would say thus: ‘This good man has so proceeded, so behaves, and has so mounted that path, that he will come to this very charcoal pit.’ Then at a later time he would see him fallen into that charcoal pit, experiencing exclusively painful, sharp, bitter feelings.
Evameva kho ahaṃ, sāriputta, idhekaccaṃ puggalaṃ evaṃ cetasā ceto paricca pajānāmi – tathāyaṃ puggalo paṭipanno tathā ca iriyati tañca maggaṃ samārūḷho yathā kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapajjissatīti. Tamenaṃ passāmi aparena samayena dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapannaṃ, ekantadukkhā tibbā kaṭukā vedanā vedayamānaṃ.
Cũng vậy, này Sāriputta, ở đây, với tâm bao quát tâm, Ta biết rõ một số người như vầy: ‘Người này đã thực hành như thế, cư xử như thế và đã bước lên con đường ấy, đến nỗi sau khi thân hoại mạng chung sẽ sinh vào khổ cảnh, ác thú, đọa xứ, địa ngục.’ Rồi vào một thời gian sau, với thiên nhãn thanh tịnh, vượt quá loài người, Ta thấy người ấy sau khi thân hoại mạng chung đã sinh vào khổ cảnh, ác thú, đọa xứ, địa ngục, đang cảm thọ những cảm thọ hoàn toàn khổ, dữ dội, cay đắng.
So too, Sāriputta, encompassing mind with mind, I here understand a certain person thus: ‘This person has so practised, so behaves, and has so mounted that path, that with the breakup of the body, after death, he will reappear in a state of deprivation, a bad destination, the nether world, hell.’ And then at a later time, with the divine eye, which is purified and surpasses the human, I see him, with the breakup of the body, after death, reappeared in a state of deprivation, a bad destination, the nether world, hell, experiencing exclusively painful, sharp, bitter feelings.
‘‘Idha panāhaṃ, sāriputta, ekaccaṃ puggalaṃ evaṃ cetasā ceto paricca pajānāmi – tathāyaṃ puggalo paṭipanno tathā ca iriyati tañca maggaṃ samārūḷho, yathā kāyassa bhedā paraṃ maraṇā tiracchānayoniṃ upapajjissatīti. Tamenaṃ passāmi aparena samayena dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena kāyassa bhedā paraṃ maraṇā tiracchānayoniṃ upapannaṃ, dukkhā tibbā kaṭukā vedanā vedayamānaṃ.
“Lại nữa, ở đây, này Sāriputta, với tâm bao quát tâm, Ta biết rõ một số người như vầy: ‘Người này đã thực hành như thế, cư xử như thế và đã bước lên con đường ấy, đến nỗi sau khi thân hoại mạng chung sẽ sinh vào loài bàng sinh.’ Rồi vào một thời gian sau, với thiên nhãn thanh tịnh, vượt quá loài người, Ta thấy người ấy sau khi thân hoại mạng chung đã sinh vào loài bàng sinh, đang cảm thọ những cảm thọ khổ, dữ dội, cay đắng.
“Again, here, Sāriputta, encompassing mind with mind, I understand a certain person thus: ‘This person has so practised, so behaves, and has so mounted that path, that with the breakup of the body, after death, he will reappear in the animal realm.’ And then at a later time, with the divine eye, which is purified and surpasses the human, I see him, with the breakup of the body, after death, reappeared in the animal realm, experiencing painful, sharp, bitter feelings.
Seyyathāpi, sāriputta, gūthakūpo sādhikaporiso, pūro gūthassa. Atha puriso āgaccheyya ghammābhitatto ghammapareto kilanto tasito pipāsito ekāyanena maggena tameva gūthakūpaṃ paṇidhāya. Tamenaṃ cakkhumā puriso disvā evaṃ vadeyya – ‘tathāyaṃ bhavaṃ puriso paṭipanno tathā ca iriyati tañca maggaṃ samārūḷho yathā imaṃyeva gūthakūpaṃ āgamissatī’ti. Tamenaṃ passeyya aparena samayena tasmiṃ gūthakūpe patitaṃ, dukkhā tibbā kaṭukā vedanā vedayamānaṃ.
Ví như, này Sāriputta, một hầm phân sâu hơn tầm một người, đầy phân. Rồi một người đi đến, bị sức nóng thiêu đốt, bị sức nóng vây bủa, mệt mỏi, khô cổ, khát nước, theo con đường chỉ có một lối đi, hướng thẳng đến chính hầm phân ấy. Một người có mắt thấy người ấy có thể nói như vầy: ‘Vị nam tử này đã đi như thế, cư xử như thế và đã bước lên con đường ấy, đến nỗi sẽ đi đến chính hầm phân này.’ Rồi vào một thời gian sau, người ấy có thể thấy vị kia đã rơi vào hầm phân ấy, đang cảm thọ những cảm thọ khổ, dữ dội, cay đắng.
Suppose, Sāriputta, there were a cesspit deeper than a man’s height, full of excrement. Then a man would come, scorched by the heat, overcome by the heat, weary, parched and thirsty, by a path going one way only, directed towards that same cesspit. A man with eyes, seeing him, would say thus: ‘This good man has so proceeded, so behaves, and has so mounted that path, that he will come to this very cesspit.’ Then at a later time he would see him fallen into that cesspit, experiencing painful, sharp, bitter feelings.
Evameva kho ahaṃ, sāriputta, idhekaccaṃ puggalaṃ evaṃ cetasā ceto paricca pajānāmi – tathāyaṃ puggalo paṭipanno tathā ca iriyati tañca maggaṃ samārūḷho, yathā kāyassa bhedā paraṃ maraṇā tiracchānayoniṃ upapajjissatīti. Tamenaṃ passāmi aparena samayena dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena kāyassa bhedā paraṃ maraṇā tiracchānayoniṃ upapannaṃ, dukkhā tibbā kaṭukā vedanā vedayamānaṃ.
Cũng vậy, này Sāriputta, ở đây, với tâm bao quát tâm, Ta biết rõ một số người như vầy: ‘Người này đã thực hành như thế, cư xử như thế và đã bước lên con đường ấy, đến nỗi sau khi thân hoại mạng chung sẽ sinh vào loài bàng sinh.’ Rồi vào một thời gian sau, với thiên nhãn thanh tịnh, vượt quá loài người, Ta thấy người ấy sau khi thân hoại mạng chung đã sinh vào loài bàng sinh, đang cảm thọ những cảm thọ khổ, dữ dội, cay đắng.
So too, Sāriputta, encompassing mind with mind, I here understand a certain person thus: ‘This person has so practised, so behaves, and has so mounted that path, that with the breakup of the body, after death, he will reappear in the animal realm.’ And then at a later time, with the divine eye, which is purified and surpasses the human, I see him, with the breakup of the body, after death, reappeared in the animal realm, experiencing painful, sharp, bitter feelings.
‘‘Idha panāhaṃ, sāriputta, ekaccaṃ puggalaṃ evaṃ cetasā ceto paricca pajānāmi – tathāyaṃ puggalo paṭipanno tathā ca iriyati tañca maggaṃ samārūḷho, yathā kāyassa bhedā paraṃ maraṇā pettivisayaṃ upapajjissatīti. Tamenaṃ passāmi aparena samayena dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena kāyassa bhedā paraṃ maraṇā pettivisayaṃ upapannaṃ, dukkhabahulā vedanā vedayamānaṃ.
“Lại nữa, ở đây, này Sāriputta, với tâm bao quát tâm, Ta biết rõ một số người như vầy: ‘Người này đã thực hành như thế, cư xử như thế và đã bước lên con đường ấy, đến nỗi sau khi thân hoại mạng chung sẽ sinh vào cõi ngạ quỷ.’ Rồi vào một thời gian sau, với thiên nhãn thanh tịnh, vượt quá loài người, Ta thấy người ấy sau khi thân hoại mạng chung đã sinh vào cõi ngạ quỷ, đang cảm thọ những cảm thọ nhiều khổ.
“Again, here, Sāriputta, encompassing mind with mind, I understand a certain person thus: ‘This person has so practised, so behaves, and has so mounted that path, that with the breakup of the body, after death, he will reappear in the domain of ghosts.’ And then at a later time, with the divine eye, which is purified and surpasses the human, I see him, with the breakup of the body, after death, reappeared in the domain of ghosts, experiencing feelings that are mostly painful.
Seyyathāpi, sāriputta, rukkho visame bhūmibhāge jāto tanupattapalāso kabaracchāyo. Atha puriso āgaccheyya ghammābhitatto ghammapareto kilanto tasito pipāsito ekāyanena maggena tameva rukkhaṃ paṇidhāya. Tamenaṃ cakkhumā puriso disvā evaṃ vadeyya – ‘tathāyaṃ bhavaṃ puriso paṭipanno tathā ca iriyati tañca maggaṃ samārūḷho, yathā imaṃyeva rukkhaṃ āgamissatī’ti. Tamenaṃ passeyya, aparena samayena tassa rukkhassa chāyāya nisinnaṃ vā nipannaṃ vā dukkhabahulā vedanā vedayamānaṃ.
Ví như, này Sāriputta, một cây mọc trên chỗ đất gồ ghề, lá thưa, bóng râm lốm đốm. Rồi một người đi đến, bị sức nóng thiêu đốt, bị sức nóng vây bủa, mệt mỏi, khô cổ, khát nước, theo con đường chỉ có một lối đi, hướng thẳng đến chính cây ấy. Một người có mắt thấy người ấy có thể nói như vầy: ‘Vị nam tử này đã đi như thế, cư xử như thế và đã bước lên con đường ấy, đến nỗi sẽ đi đến chính cây này.’ Rồi vào một thời gian sau, người ấy có thể thấy vị kia đang ngồi hay đang nằm dưới bóng cây ấy, đang cảm thọ những cảm thọ nhiều khổ.
Suppose, Sāriputta, there were a tree growing on uneven ground, with thin foliage and dappled shade. Then a man would come, scorched by the heat, overcome by the heat, weary, parched and thirsty, by a path going one way only, directed towards that same tree. A man with eyes, seeing him, would say thus: ‘This good man has so proceeded, so behaves, and has so mounted that path, that he will come to this very tree.’ Then at a later time he would see him sitting or lying in the shade of that tree, experiencing feelings that are mostly painful.
Evameva kho ahaṃ, sāriputta, idhekaccaṃ puggalaṃ evaṃ cetasā ceto paricca pajānāmi – tathāyaṃ puggalo paṭipanno tathā ca iriyati tañca maggaṃ samārūḷho, yathā kāyassa bhedā paraṃ maraṇā pettivisayaṃ upapajjissatīti. Tamenaṃ passāmi aparena samayena dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena kāyassa bhedā paraṃ maraṇā pettivisayaṃ upapannaṃ, dukkhabahulā vedanā vedayamānaṃ.
Cũng vậy, này Sāriputta, ở đây, với tâm bao quát tâm, Ta biết rõ một số người như vầy: ‘Người này đã thực hành như thế, cư xử như thế và đã bước lên con đường ấy, đến nỗi sau khi thân hoại mạng chung sẽ sinh vào cõi ngạ quỷ.’ Rồi vào một thời gian sau, với thiên nhãn thanh tịnh, vượt quá loài người, Ta thấy người ấy sau khi thân hoại mạng chung đã sinh vào cõi ngạ quỷ, đang cảm thọ những cảm thọ nhiều khổ.
So too, Sāriputta, encompassing mind with mind, I here understand a certain person thus: ‘This person has so practised, so behaves, and has so mounted that path, that with the breakup of the body, after death, he will reappear in the domain of ghosts.’ And then at a later time, with the divine eye, which is purified and surpasses the human, I see him, with the breakup of the body, after death, reappeared in the domain of ghosts, experiencing feelings that are mostly painful.
‘‘Idha panāhaṃ, sāriputta, ekaccaṃ puggalaṃ evaṃ cetasā ceto paricca pajānāmi – tathāyaṃ puggalo paṭipanno tathā ca iriyati tañca maggaṃ samārūḷho yathā kāyassa bhedā paraṃ maraṇā manussesu upapajjissatīti. Tamenaṃ passāmi aparena samayena dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena kāyassa bhedā paraṃ maraṇā manussesu upapannaṃ, sukhabahulā vedanā vedayamānaṃ.
“Lại nữa, ở đây, này Sāriputta, với tâm bao quát tâm, Ta biết rõ một số người như vầy: ‘Người này đã thực hành như thế, cư xử như thế và đã bước lên con đường ấy, đến nỗi sau khi thân hoại mạng chung sẽ sinh vào giữa loài người.’ Rồi vào một thời gian sau, với thiên nhãn thanh tịnh, vượt quá loài người, Ta thấy người ấy sau khi thân hoại mạng chung đã sinh vào giữa loài người, đang cảm thọ những cảm thọ nhiều lạc.
“Again, here, Sāriputta, encompassing mind with mind, I understand a certain person thus: ‘This person has so practised, so behaves, and has so mounted that path, that with the breakup of the body, after death, he will reappear among human beings.’ And then at a later time, with the divine eye, which is purified and surpasses the human, I see him, with the breakup of the body, after death, reappeared among human beings, experiencing feelings that are mostly pleasant.
Seyyathāpi, sāriputta, rukkho same bhūmibhāge jāto bahalapattapalāso sandacchāyo [saṇḍacchāyo (syā.), santacchāyo (ka.)]. Atha puriso āgaccheyya ghammābhitatto ghammapareto kilanto tasito pipāsito ekāyanena maggena tameva rukkhaṃ paṇidhāya. Tamenaṃ cakkhumā puriso disvā evaṃ vadeyya – ‘tathāyaṃ bhavaṃ puriso paṭipanno tathā ca iriyati tañca maggaṃ samārūḷho, yathā imameva rukkhaṃ āgamissatī’ti. Tamenaṃ passeyya aparena samayena tassa rukkhassa chāyāya nisinnaṃ vā nipannaṃ vā sukhabahulā vedanā vedayamānaṃ.
Ví như, này Sāriputta, một cây mọc trên chỗ đất bằng phẳng, lá dày, bóng râm rậm mát. Rồi một người đi đến, bị sức nóng thiêu đốt, bị sức nóng vây bủa, mệt mỏi, khô cổ, khát nước, theo con đường chỉ có một lối đi, hướng thẳng đến chính cây ấy. Một người có mắt thấy người ấy có thể nói như vầy: ‘Vị nam tử này đã đi như thế, cư xử như thế và đã bước lên con đường ấy, đến nỗi sẽ đi đến chính cây này.’ Rồi vào một thời gian sau, người ấy có thể thấy vị kia đang ngồi hay đang nằm dưới bóng cây ấy, đang cảm thọ những cảm thọ nhiều lạc.
Suppose, Sāriputta, there were a tree growing on even ground, with thick foliage and dense shade. Then a man would come, scorched by the heat, overcome by the heat, weary, parched and thirsty, by a path going one way only, directed towards that same tree. A man with eyes, seeing him, would say thus: ‘This good man has so proceeded, so behaves, and has so mounted that path, that he will come to this very tree.’ Then at a later time he would see him sitting or lying in the shade of that tree, experiencing feelings that are mostly pleasant.
Evameva kho ahaṃ, sāriputta, idhekaccaṃ puggalaṃ evaṃ cetasā ceto paricca pajānāmi – tathāyaṃ puggalo paṭipanno tathā ca iriyati tañca maggaṃ samārūḷho yathā kāyassa bhedā paraṃ maraṇā manussesu upapajjissatīti. Tamenaṃ passāmi aparena samayena dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena kāyassa bhedā paraṃ maraṇā manussesu upapannaṃ, sukhabahulā vedanā vedayamānaṃ.
Cũng vậy, này Sāriputta, ở đây, với tâm bao quát tâm, Ta biết rõ một số người như vầy: ‘Người này đã thực hành như thế, cư xử như thế và đã bước lên con đường ấy, đến nỗi sau khi thân hoại mạng chung sẽ sinh vào giữa loài người.’ Rồi vào một thời gian sau, với thiên nhãn thanh tịnh, vượt quá loài người, Ta thấy người ấy sau khi thân hoại mạng chung đã sinh vào giữa loài người, đang cảm thọ những cảm thọ nhiều lạc.
So too, Sāriputta, encompassing mind with mind, I here understand a certain person thus: ‘This person has so practised, so behaves, and has so mounted that path, that with the breakup of the body, after death, he will reappear among human beings.’ And then at a later time, with the divine eye, which is purified and surpasses the human, I see him, with the breakup of the body, after death, reappeared among human beings, experiencing feelings that are mostly pleasant.
‘‘Idha panāhaṃ, sāriputta, ekaccaṃ puggalaṃ evaṃ cetasā ceto paricca pajānāmi – tathāyaṃ puggalo paṭipanno tathā ca iriyati tañca maggaṃ samārūḷho, yathā kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjissatī’ti. Tamenaṃ passāmi aparena samayena dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapannaṃ, ekantasukhā vedanā vedayamānaṃ.
“Lại nữa, ở đây, này Sāriputta, với tâm bao quát tâm, Ta biết rõ một số người như vầy: ‘Người này đã thực hành như thế, cư xử như thế và đã bước lên con đường ấy, đến nỗi sau khi thân hoại mạng chung sẽ sinh vào thiện thú, cõi trời.’ Rồi vào một thời gian sau, với thiên nhãn thanh tịnh, vượt quá loài người, Ta thấy người ấy sau khi thân hoại mạng chung đã sinh vào thiện thú, cõi trời, đang cảm thọ những cảm thọ hoàn toàn lạc.
“Again, here, Sāriputta, encompassing mind with mind, I understand a certain person thus: ‘This person has so practised, so behaves, and has so mounted that path, that with the breakup of the body, after death, he will reappear in a good destination, a heavenly world.’ And then at a later time, with the divine eye, which is purified and surpasses the human, I see him, with the breakup of the body, after death, reappeared in a good destination, a heavenly world, experiencing exclusively pleasant feelings.
Seyyathāpi, sāriputta, pāsādo, tatrāssa kūṭāgāraṃ ullittāvalittaṃ nivātaṃ phusitaggaḷaṃ pihitavātapānaṃ. Tatrāssa pallaṅko gonakatthato paṭikatthato paṭalikatthato kadalimigapavarapaccattharaṇo sauttaracchado ubhatolohitakūpadhāno. Atha puriso āgaccheyya ghammābhitatto ghammapareto kilanto tasito pipāsito ekāyanena maggena tameva pāsādaṃ paṇidhāya. Tamenaṃ cakkhumā puriso disvā evaṃ vadeyya – ‘tathāyaṃ bhavaṃ puriso paṭipanno tathā ca iriyati tañca maggaṃ samārūḷho, yathā imaṃyeva pāsādaṃ āgamissatī’ti. Tamenaṃ passeyya aparena samayena tasmiṃ pāsāde tasmiṃ kūṭāgāre tasmiṃ pallaṅke nisinnaṃ vā nipannaṃ vā ekantasukhā vedanā vedayamānaṃ.
Ví như, này Sāriputta, có một tòa lâu đài; ở đó có một gian lầu nhọn, trát trong trát ngoài, kín gió, then cửa cài khít, cửa sổ đóng kín. Ở đó có một chiếc giường trải thảm lông dài, trải tấm phủ lông trắng, trải tấm phủ thêu hoa, có tấm trải bằng da nai kadali quý, có màn che phía trên, có gối đỏ ở hai đầu. Rồi một người đi đến, bị sức nóng thiêu đốt, bị sức nóng vây bủa, mệt mỏi, khô cổ, khát nước, theo con đường chỉ có một lối đi, hướng thẳng đến chính lâu đài ấy. Một người có mắt thấy người ấy có thể nói như vầy: ‘Vị nam tử này đã đi như thế, cư xử như thế và đã bước lên con đường ấy, đến nỗi sẽ đi đến chính lâu đài này.’ Rồi vào một thời gian sau, người ấy có thể thấy vị kia đang ngồi hay đang nằm trong lâu đài ấy, trong gian lầu nhọn ấy, trên chiếc giường ấy, đang cảm thọ những cảm thọ hoàn toàn lạc.
Suppose, Sāriputta, there were a mansion, and in it an upper chamber with a peaked roof, plastered inside and out, shut off from the wind, with door-bars fastened and windows shut. In it there would be a couch spread with long-fleeced woollen covers, spread with white woollen covers, spread with embroidered covers, with a choice covering of kadali-deer hide, with a canopy above and red cushions at both ends. Then a man would come, scorched by the heat, overcome by the heat, weary, parched and thirsty, by a path going one way only, directed towards that same mansion. A man with eyes, seeing him, would say thus: ‘This good man has so proceeded, so behaves, and has so mounted that path, that he will come to this very mansion.’ Then at a later time he would see him sitting or lying in that mansion, in that upper chamber, on that couch, experiencing exclusively pleasant feelings.
Evameva kho ahaṃ, sāriputta, idhekaccaṃ puggalaṃ evaṃ cetasā ceto paricca pajānāmi – tathāyaṃ puggalo paṭipanno tathā ca iriyati tañca maggaṃ samārūḷho yathā kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjissatīti. Tamenaṃ passāmi aparena samayena dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapannaṃ, ekantasukhā vedanā vedayamānaṃ.
Cũng vậy, này Sāriputta, ở đây, với tâm bao quát tâm, Ta biết rõ một số người như vầy: ‘Người này đã thực hành như thế, cư xử như thế và đã bước lên con đường ấy, đến nỗi sau khi thân hoại mạng chung sẽ sinh vào thiện thú, cõi trời.’ Rồi vào một thời gian sau, với thiên nhãn thanh tịnh, vượt quá loài người, Ta thấy người ấy sau khi thân hoại mạng chung đã sinh vào thiện thú, cõi trời, đang cảm thọ những cảm thọ hoàn toàn lạc.
So too, Sāriputta, encompassing mind with mind, I here understand a certain person thus: ‘This person has so practised, so behaves, and has so mounted that path, that with the breakup of the body, after death, he will reappear in a good destination, a heavenly world.’ And then at a later time, with the divine eye, which is purified and surpasses the human, I see him, with the breakup of the body, after death, reappeared in a good destination, a heavenly world, experiencing exclusively pleasant feelings.
‘‘Idha panāhaṃ, sāriputta, ekaccaṃ puggalaṃ cetasā ceto paricca pajānāmi – tathāyaṃ puggalo paṭipanno tathā ca iriyati tañca maggaṃ samārūḷho, yathā āsavānaṃ khayā anāsaṃ cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissatīti. Tamenaṃ passāmi aparena samayena āsavānaṃ khayā anāsavaṃ cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharantaṃ, ekantasukhā vedanā vedayamānaṃ.
“Lại nữa, ở đây, này Sāriputta, với tâm bao quát tâm, Ta biết rõ một số người như vầy: ‘Người này đã thực hành như thế, cư xử như thế và đã bước lên con đường ấy, đến nỗi sẽ do sự đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình thắng tri, chứng ngộ, chứng đạt và an trú tâm giải thoát, tuệ giải thoát vô lậu.’ Rồi vào một thời gian sau, Ta thấy người ấy, do sự đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình thắng tri, chứng ngộ, chứng đạt và đang an trú tâm giải thoát, tuệ giải thoát vô lậu, đang cảm thọ những cảm thọ hoàn toàn lạc.
“Again, here, Sāriputta, encompassing mind with mind, I understand a certain person thus: ‘This person has so practised, so behaves, and has so mounted that path, that he will by the destruction of the taints, here and now enter and dwell in the taintless liberation of mind, liberation by wisdom, having directly known and realized it for himself.’ And then at a later time I see him, by the destruction of the taints, here and now dwelling in the taintless liberation of mind, liberation by wisdom, having directly known and realized it for himself, experiencing exclusively pleasant feelings.
Seyyathāpi, sāriputta, pokkharaṇī acchodakā sātodakā sītodakā setakā supatitthā ramaṇīyā. Avidūre cassā tibbo vanasaṇḍo. Atha puriso āgaccheyya ghammābhitatto ghammapareto kilanto tasito pipāsito ekāyanena maggena tameva pokkharaṇiṃ paṇidhāya. Tamenaṃ cakkhumā puriso disvā evaṃ vadeyya – ‘tathā bhavaṃ puriso paṭipanno tathā ca iriyati tañca maggaṃ samārūḷho, yathā imaṃyeva pokkharaṇiṃ āgamissatī’ti. Tamenaṃ passeyya aparena samayena taṃ pokkharaṇiṃ ogāhetvā nhāyitvā ca pivitvā ca sabbadarathakilamathapariḷāhaṃ paṭippassambhetvā paccuttaritvā tasmiṃ vanasaṇḍe nisinnaṃ vā nipannaṃ vā, ekantasukhā vedanā vedayamānaṃ.
Ví như, này Sāriputta, một hồ sen nước trong, nước ngọt, nước mát, trong trắng, bến bãi tốt đẹp, khả ái; và không xa hồ ấy có một khu rừng rậm. Rồi một người đi đến, bị sức nóng thiêu đốt, bị sức nóng vây bủa, mệt mỏi, khô cổ, khát nước, theo con đường chỉ có một lối đi, hướng thẳng đến chính hồ sen ấy. Một người có mắt thấy người ấy có thể nói như vầy: ‘Vị nam tử này đã đi như thế, cư xử như thế và đã bước lên con đường ấy, đến nỗi sẽ đi đến chính hồ sen này.’ Rồi vào một thời gian sau, người ấy có thể thấy vị kia sau khi lội xuống hồ sen ấy, tắm và uống, làm lắng dịu mọi phiền muộn, mệt mỏi và nóng bức, rồi đi lên, đang ngồi hay đang nằm trong khu rừng ấy, đang cảm thọ những cảm thọ hoàn toàn lạc.
Suppose, Sāriputta, there were a lotus pond with clear water, sweet water, cool water, clean, with good fords, delightful; and not far from it a dense grove. Then a man would come, scorched by the heat, overcome by the heat, weary, parched and thirsty, by a path going one way only, directed towards that same lotus pond. A man with eyes, seeing him, would say thus: ‘This good man has so proceeded, so behaves, and has so mounted that path, that he will come to this very lotus pond.’ Then at a later time he would see him having plunged into that lotus pond, bathed and drunk, and allayed all distress, fatigue and fever, come out again and sitting or lying in that grove, experiencing exclusively pleasant feelings.
Evameva kho ahaṃ, sāriputta, idhekaccaṃ puggalaṃ evaṃ cetasā ceto paricca pajānāmi – tathāyaṃ puggalo paṭipanno tathā ca iriyati tañca maggaṃ samārūḷho, yathā āsavānaṃ khayā anāsavaṃ cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissatī’ti. Tamenaṃ passāmi aparena samayena āsavānaṃ khayā anāsavaṃ cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharantaṃ, ekantasukhā vedanā vedayamānaṃ.
Cũng vậy, này Sāriputta, ở đây, với tâm bao quát tâm, Ta biết rõ một số người như vầy: ‘Người này đã thực hành như thế, cư xử như thế và đã bước lên con đường ấy, đến nỗi sẽ do sự đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình thắng tri, chứng ngộ, chứng đạt và an trú tâm giải thoát, tuệ giải thoát vô lậu.’ Rồi vào một thời gian sau, Ta thấy người ấy, do sự đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình thắng tri, chứng ngộ, chứng đạt và đang an trú tâm giải thoát, tuệ giải thoát vô lậu, đang cảm thọ những cảm thọ hoàn toàn lạc.
So too, Sāriputta, encompassing mind with mind, I here understand a certain person thus: ‘This person has so practised, so behaves, and has so mounted that path, that he will by the destruction of the taints, here and now enter and dwell in the taintless liberation of mind, liberation by wisdom, having directly known and realized it for himself.’ And then at a later time I see him, by the destruction of the taints, here and now dwelling in the taintless liberation of mind, liberation by wisdom, having directly known and realized it for himself, experiencing exclusively pleasant feelings.
Imā kho, sāriputta, pañca gatiyo.
Này Sāriputta, đây là năm cõi.
These, Sāriputta, are the five destinations.
‘‘Yo kho maṃ, sāriputta, evaṃ jānantaṃ evaṃ passantaṃ evaṃ vadeyya – ‘natthi samaṇassa gotamassa uttarimanussadhammā alamariyañāṇadassanaviseso; takkapariyāhataṃ samaṇo gotamo dhammaṃ deseti vīmaṃsānucaritaṃ sayaṃpaṭibhāna’nti taṃ, sāriputta, vācaṃ appahāya taṃ cittaṃ appahāya taṃ diṭṭhiṃ appaṭinissajjitvā yathābhataṃ nikkhitto evaṃ niraye.
“Này Sāriputta, ai nói về Ta – người biết như vậy, thấy như vậy – như vầy: ‘Sa-môn Gotama không có sự thù thắng của tri kiến xứng đáng bậc Thánh, vượt hơn pháp của loài người; Sa-môn Gotama thuyết pháp được đập ra bằng suy luận, đi theo sự thẩm sát, do tự mình nghĩ ra’, này Sāriputta, không từ bỏ lời ấy, không từ bỏ tâm ấy, không xả bỏ kiến ấy, thì như vật được mang đến rồi đặt xuống, người ấy cũng vậy [bị đặt] trong địa ngục.
“Sāriputta, whoever would say of me, who know thus and see thus: ‘The ascetic Gotama has no distinction in knowledge and vision worthy of the noble ones, surpassing the human state; the ascetic Gotama teaches a Dhamma hammered out by reasoning, following a course of investigation, self-devised’ – Sāriputta, not abandoning that speech, not abandoning that mind, not relinquishing that view, as if carried off and laid down, so is he [laid down] in hell.
Seyyathāpi, sāriputta, bhikkhu sīlasampanno samādhisampanno paññāsampanno diṭṭheva dhamme aññaṃ ārādheyya, evaṃ sampadamidaṃ, sāriputta, vadāmi ‘taṃ vācaṃ appahāya taṃ cittaṃ appahāya taṃ diṭṭhiṃ appaṭinissajjitvā yathābhataṃ nikkhitto evaṃ niraye’.
Này Sāriputta, ví như một tỳ-khưu thành tựu giới, thành tựu định, thành tựu tuệ có thể ngay trong hiện tại đạt đến chánh trí, cũng vậy, này Sāriputta, Ta nói sự việc này có kết quả như vậy: ‘Không từ bỏ lời ấy, không từ bỏ tâm ấy, không xả bỏ kiến ấy, thì như vật được mang đến rồi đặt xuống, người ấy cũng vậy [bị đặt] trong địa ngục.’
Just as, Sāriputta, a bhikkhu accomplished in virtue, accomplished in concentration, accomplished in wisdom would attain final knowledge here and now, so too, Sāriputta, I say this is the outcome: ‘Not abandoning that speech, not abandoning that mind, not relinquishing that view, as if carried off and laid down, so is he [laid down] in hell.’
§155 – Phạm hạnh đủ bốn chi: khổ hạnh
155. ‘‘Abhijānāmi kho panāhaṃ, sāriputta, caturaṅgasamannāgataṃ brahmacariyaṃ caritā [caritvā (ka.)] – tapassī sudaṃ homi paramatapassī, lūkho sudaṃ [lūkhassudaṃ (sī. pī.)] homi paramalūkho, jegucchī sudaṃ homi paramajegucchī, pavivitto sudaṃ [pavivittassudaṃ (sī. pī.)] homi paramapavivitto.
155. “Này Sāriputta, Ta nhớ rõ mình là người đã sống phạm hạnh đầy đủ bốn chi phần: Ta đã là người khổ hạnh, khổ hạnh tột bậc; Ta đã là người thô xấu, thô xấu tột bậc; Ta đã là người nhờm gớm [điều ác], nhờm gớm tột bậc; Ta đã là người sống viễn ly, viễn ly tột bậc.
155. “I recall, Sāriputta, having lived the holy life possessed of four factors: I was an ascetic, the foremost ascetic; I was coarse, the foremost in coarseness; I was scrupulous, the foremost in scrupulousness; I was secluded, the foremost in seclusion.
Chú thích: Abhijānāmi … caritā: caritā là danh từ tác nhân (carita + -tar, chủ cách số ít), nghĩa đen “Ta biết rõ [mình là] người đã sống”; ở thành ngữ này abhijānāmi mang nghĩa “nhớ rõ”, không phải nghĩa chuyên môn “thắng tri”. Sudaṃ là tiểu từ nhấn mạnh. Bốn chi: tapassī (khổ hạnh), lūkha (thô xấu), jegucchī (nhờm gớm, tức kiêng sợ làm hại), pavivitta (viễn ly). Theo Chú giải, những hạnh trong §155–157 là điều Bồ-tát đã thực hành trong một đời quá khứ xa xưa khi tu theo lối Ājīvaka; còn sự nhịn ăn ở §158–159 gần với các đoạn mô tả thời kỳ khổ hạnh trước khi giác ngộ trong MN 36.
Tatrāssu me idaṃ, sāriputta, tapassitāya hoti – acelako homi muttācāro hatthāpalekhano [hatthāvalekhano (syā.)], na ehibhaddantiko na tiṭṭhabhaddantiko; nābhihaṭaṃ na uddissakataṃ na nimantanaṃ sādiyāmi.
Trong đó, này Sāriputta, đây là sự khổ hạnh của Ta: Ta sống lõa thể, buông bỏ phép tắc, liếm tay [sau khi ăn], không [đến khi được gọi] ‘Thưa Ngài, hãy đến!’, không [dừng khi được gọi] ‘Thưa Ngài, hãy đứng lại!’; Ta không nhận đồ ăn mang đến, không nhận đồ ăn làm riêng cho mình, không nhận lời mời.
Therein, Sāriputta, this was my asceticism: I went naked, rejecting conventions, licking my hands, not coming when asked to ‘come, venerable one’, not stopping when asked to ‘stop, venerable one’; I did not consent to food brought, nor to food specially made, nor to an invitation.
So na kumbhimukhā paṭiggaṇhāmi, na kaḷopimukhā paṭiggaṇhāmi, na eḷakamantaraṃ, na daṇḍamantaraṃ, na musalamantaraṃ, na dvinnaṃ bhuñjamānānaṃ, na gabbhiniyā, na pāyamānāya [pāyantiyā (ka.)], na purisantaragatāya, na saṅkittīsu, na yattha sā upaṭṭhito hoti, na yattha makkhikā saṇḍasaṇḍacārinī;
Ta không nhận [thức ăn] từ miệng nồi, không nhận từ miệng chảo, không [nhận] qua ngưỡng cửa, không qua gậy, không qua chày giã, không [nhận] từ hai người đang ăn, không từ người đàn bà mang thai, không từ người đàn bà đang cho con bú, không từ người đàn bà đang ở với đàn ông, không [nhận] ở nơi [thức ăn] quyên góp, không ở nơi có chó đứng chờ, không ở nơi ruồi bay từng đàn;
I did not accept [food] from the mouth of a pot, nor from the mouth of a dish, nor across a threshold, nor across a stick, nor across a pestle, nor from two people eating together, nor from a pregnant woman, nor from a woman giving suck, nor from a woman lying with a man, nor from collections of food, nor where a dog was waiting, nor where flies were swarming;
na macchaṃ na maṃsaṃ na suraṃ na merayaṃ na thusodakaṃ pivāmi;
Ta không [nhận] cá, không [nhận] thịt, không uống rượu mạnh, rượu men, nước trấu lên men;
I took no fish, no meat, I drank no liquor, no wine, no fermented brew;
so ekāgāriko vā homi ekālopiko, dvāgāriko vā homi dvālopiko…pe… sattāgāriko vā homi sattālopiko; ekissāpi dattiyā yāpemi, dvīhipi dattīhi yāpemi…pe… sattahipi dattīhi yāpemi; ekāhikampi āhāraṃ āhāremi, dvīhikampi āhāraṃ āhāremi…pe… sattāhikampi āhāraṃ āhāremi; iti evarūpaṃ addhamāsikampi pariyāyabhattabhojanānuyogamanuyutto viharāmi.
Ta chỉ [khất thực] một nhà, chỉ [nhận] một miếng, hoặc hai nhà, hai miếng… (như trên)… hoặc bảy nhà, bảy miếng; Ta sống nhờ một đĩa nhỏ [đồ cúng], sống nhờ hai đĩa nhỏ… (như trên)… sống nhờ bảy đĩa nhỏ; Ta dùng vật thực một ngày một lần, hai ngày một lần… (như trên)… bảy ngày một lần; như vậy Ta sống chuyên chú tu tập việc ăn theo định kỳ, cho đến nửa tháng một lần.
I kept to one house, to one morsel, or to two houses, two morsels… (and so on)… or to seven houses, seven morsels; I lived on one saucerful, on two saucerfuls… (and so on)… on seven saucerfuls; I took food once a day, once every two days… (and so on)… once every seven days; thus I dwelt pursuing the practice of taking food at stated intervals, even up to once every half-month.
‘‘So sākabhakkho vā homi, sāmākabhakkho vā homi, nīvārabhakkho vā homi, daddulabhakkho vā homi, haṭabhakkho vā homi, kaṇabhakkho vā homi, ācāmabhakkho vā homi, piññākabhakkho vā homi, tiṇabhakkho vā homi, gomayabhakkho vā homi, vanamūlaphalāhāro yāpemi pavattaphalabhojī.
“Ta là người ăn rau, ăn hạt kê, ăn lúa hoang, ăn daddula, ăn haṭa, ăn cám, ăn váng cơm, ăn bã mè, ăn cỏ, ăn phân bò; Ta sống nhờ rễ và trái cây rừng, ăn trái cây tự rụng.
“I was an eater of greens, an eater of millet, an eater of wild rice, an eater of daddula, an eater of haṭa, an eater of rice-bran, an eater of rice-scum, an eater of sesame flour, an eater of grass, an eater of cow dung; I lived on forest roots and fruits, eating fallen fruits.
‘‘So sāṇānipi dhāremi, masāṇānipi dhāremi, chavadussānipi dhāremi, paṃsukūlānipi dhāremi, tirīṭānipi dhāremi, ajinampi dhāremi, ajinakkhipampi dhāremi, kusacīrampi dhāremi, vākacīrampi dhāremi, phalakacīrampi dhāremi, kesakambalampi dhāremi, vāḷakambalampi dhāremi, ulūkapakkhampi dhāremi;
“Ta mặc vải gai, mặc vải gai pha, mặc vải bọc tử thi, mặc y phấn tảo, mặc vỏ cây tirīṭa, mặc da linh dương, mặc da linh dương xẻ mảnh, mặc áo bện cỏ kusa, mặc áo vỏ cây, mặc áo mảnh gỗ, mặc chăn bằng tóc người, mặc chăn bằng lông thú, mặc cánh chim cú;
“I wore hemp, I wore hemp-mixed cloth, I wore shrouds, I wore rag-robes from refuse heaps, I wore tirīṭa bark, I wore antelope hide, I wore strips of antelope hide, I wore kusa-grass fabric, I wore bark fabric, I wore wood-shaving fabric, I wore a blanket of human hair, I wore a blanket of animal hair, I wore owls’ wings;
kesamassulocakopi homi kesamassulocanānuyogamanuyutto; ubbhaṭṭhakopi homi āsanapaṭikkhitto; ukkuṭikopi homi ukkuṭikappadhānamanuyutto; kaṇṭakāpassayikopi homi kaṇṭakāpassaye seyyaṃ kappemi [imassānantare aññopi koci pāṭhapadeso aññesu ājīvakavatadīpakasuttesu dissati];
Ta là người nhổ tóc và râu, chuyên chú tu tập việc nhổ tóc và râu; Ta là người đứng mãi, từ chối chỗ ngồi; Ta là người ngồi chồm hổm, chuyên chú tinh cần trong tư thế ngồi chồm hổm; Ta là người nằm trên gai, nằm ngủ trên chỗ nằm bằng gai;
I was a puller-out of hair and beard, pursuing the practice of pulling out hair and beard; I was one who stood continuously, rejecting seats; I was one who squatted, devoted to striving in the squatting position; I was one who used a mattress of spikes, making my bed on a mattress of spikes;
sāyatatiyakampi udakorohanānuyogamanuyutto viharāmi – iti evarūpaṃ anekavihitaṃ kāyassa ātāpanaparitāpanānuyogamanuyutto viharāmi. Idaṃsu me, sāriputta, tapassitāya hoti.
Ta sống chuyên chú tu tập việc xuống nước [tắm], lần thứ ba vào buổi chiều – như vậy Ta sống chuyên chú tu tập đủ loại pháp hành hạ, làm khổ thân như thế. Này Sāriputta, đây là sự khổ hạnh của Ta.
I dwelt pursuing the practice of going down into water, the third time in the evening – thus I dwelt pursuing the practice of tormenting and mortifying the body in such various ways. This, Sāriputta, was my asceticism.
Chú thích: Ghi chú trong ngoặc của bản VRI sau kaṇṭakāpassaye seyyaṃ kappemi nói rằng: sau chỗ này, trong những kinh khác mô tả giới hạnh của Ājīvaka còn thấy thêm một đoạn văn nữa. Sāyatatiyaka: “có lần thứ ba vào buổi chiều”, tức xuống nước ba lần mỗi ngày. Nghĩa chính xác của một số món ăn và y phục ở §155 (như daddula, haṭa, masāṇa) còn được bàn luận; bản dịch giữ nguyên tên Pāli hoặc theo nghĩa thông dụng.
§156 – Thô xấu, nhờm gớm, viễn ly
156. ‘‘Tatrāssu me idaṃ, sāriputta, lūkhasmiṃ hoti – nekavassagaṇikaṃ rajojallaṃ kāye sannicitaṃ hoti papaṭikajātaṃ. Seyyathāpi, sāriputta, tindukakhāṇu nekavassagaṇiko sannicito hoti papaṭikajāto, evamevāssu me, sāriputta, nekavassagaṇikaṃ rajojallaṃ kāye sannicitaṃ hoti papaṭikajātaṃ.
156. “Trong đó, này Sāriputta, đây là sự thô xấu của Ta: bụi bặm cáu ghét nhiều năm tích tụ trên thân, đóng thành vảy. Ví như, này Sāriputta, một gốc cây tinduka nhiều năm tích tụ [bụi], đóng thành vảy, cũng vậy, này Sāriputta, bụi bặm cáu ghét nhiều năm tích tụ trên thân Ta, đóng thành vảy.
156. “Therein, Sāriputta, this was my coarseness: the dust and dirt of many years accumulated on my body, forming into scales. Just as, Sāriputta, the stump of a tinduka tree, of many years, is accumulated [with dirt], forming into scales, so too, Sāriputta, the dust and dirt of many years accumulated on my body, forming into scales.
Tassa mayhaṃ, sāriputta, na evaṃ hoti – ‘aho vatāhaṃ imaṃ rajojallaṃ pāṇinā parimajjeyyaṃ, aññe vā pana me imaṃ rajojallaṃ pāṇinā parimajjeyyu’nti. Evampi me, sāriputta, na hoti. Idaṃsu me, sāriputta, lūkhasmiṃ hoti.
Này Sāriputta, nơi Ta không khởi lên ý như vầy: ‘Ôi, mong rằng ta lấy tay chà sạch bụi cáu này, hoặc người khác lấy tay chà sạch bụi cáu này cho ta.’ Này Sāriputta, ngay cả như vậy cũng không khởi lên nơi Ta. Này Sāriputta, đây là sự thô xấu của Ta.
It did not occur to me, Sāriputta: ‘Oh, let me rub off this dust and dirt with my hand, or let others rub off this dust and dirt of mine with their hands.’ Even this, Sāriputta, did not occur to me. This, Sāriputta, was my coarseness.
‘‘Tatrāssu me idaṃ, sāriputta, jegucchismiṃ hoti – so kho ahaṃ, sāriputta, satova abhikkamāmi, satova paṭikkamāmi, yāva udakabindumhipi me dayā paccupaṭṭhitā hoti – ‘māhaṃ khuddake pāṇe visamagate saṅghātaṃ āpādesi’nti. Idaṃsu me, sāriputta, jegucchismiṃ hoti.
“Trong đó, này Sāriputta, đây là sự nhờm gớm của Ta: này Sāriputta, Ta luôn có niệm khi đi tới, luôn có niệm khi đi lui; lòng thương xót của Ta hiện khởi cho đến cả một giọt nước: ‘Mong rằng ta không làm hại những sinh vật nhỏ bé lâm vào chỗ gồ ghề.’ Này Sāriputta, đây là sự nhờm gớm của Ta.
“Therein, Sāriputta, this was my scrupulousness: I, Sāriputta, was always mindful in going forward, always mindful in going back; my compassion was present even towards a drop of water: ‘May I not bring destruction to tiny creatures that have got into the crevices.’ This, Sāriputta, was my scrupulousness.
‘‘Tatrāssu me idaṃ, sāriputta, pavivittasmiṃ hoti – so kho ahaṃ, sāriputta, aññataraṃ araññāyatanaṃ ajjhogāhetvā viharāmi. Yadā passāmi gopālakaṃ vā pasupālakaṃ vā tiṇahārakaṃ vā kaṭṭhahārakaṃ vā vanakammikaṃ vā, vanena vanaṃ gahanena gahanaṃ ninnena ninnaṃ thalena thalaṃ saṃpatāmi [papatāmi (sī. syā. pī.)]. Taṃ kissa hetu? Mā maṃ te addasaṃsu ahañca mā te addasanti.
“Trong đó, này Sāriputta, đây là sự viễn ly của Ta: này Sāriputta, Ta đi sâu vào một khu rừng nào đó mà sống. Khi Ta thấy người chăn bò, người chăn gia súc, người cắt cỏ, người lượm củi hay người làm rừng, Ta lao đi từ rừng này sang rừng khác, từ bụi rậm này sang bụi rậm khác, từ chỗ trũng này sang chỗ trũng khác, từ gò cao này sang gò cao khác. Vì sao vậy? Mong họ đừng thấy Ta, và Ta đừng thấy họ.
“Therein, Sāriputta, this was my seclusion: I, Sāriputta, would plunge into some forest region and dwell there. When I saw a cowherd or a shepherd or a grass-cutter or a gatherer of sticks or a woodsman, I would flee from grove to grove, from thicket to thicket, from hollow to hollow, from high ground to high ground. Why was that? So that they would not see me and I would not see them.
Seyyathāpi, sāriputta, āraññako mago manusse disvā vanena vanaṃ gahanena gahanaṃ ninnena ninnaṃ thalena thalaṃ saṃpatati, evameva kho ahaṃ, sāriputta, yadā passāmi gopālakaṃ vā pasupālakaṃ vā tiṇahārakaṃ vā kaṭṭhahārakaṃ vā vanakammikaṃ vā vanena vanaṃ gahanena gahanaṃ ninnena ninnaṃ thalena thalaṃ saṃpatāmi. Taṃ kissa hetu? Mā maṃ te addasaṃsu ahañca mā te addasanti. Idaṃsu me, sāriputta, pavivittasmiṃ hoti.
Ví như, này Sāriputta, con nai rừng thấy người thì lao đi từ rừng này sang rừng khác, từ bụi rậm này sang bụi rậm khác, từ chỗ trũng này sang chỗ trũng khác, từ gò cao này sang gò cao khác; cũng vậy, này Sāriputta, khi Ta thấy người chăn bò, người chăn gia súc, người cắt cỏ, người lượm củi hay người làm rừng, Ta lao đi từ rừng này sang rừng khác, từ bụi rậm này sang bụi rậm khác, từ chỗ trũng này sang chỗ trũng khác, từ gò cao này sang gò cao khác. Vì sao vậy? Mong họ đừng thấy Ta, và Ta đừng thấy họ. Này Sāriputta, đây là sự viễn ly của Ta.
Just as, Sāriputta, a forest deer, on seeing human beings, flees from grove to grove, from thicket to thicket, from hollow to hollow, from high ground to high ground, so too, Sāriputta, when I saw a cowherd or a shepherd or a grass-cutter or a gatherer of sticks or a woodsman, I would flee from grove to grove, from thicket to thicket, from hollow to hollow, from high ground to high ground. Why was that? So that they would not see me and I would not see them. This, Sāriputta, was my seclusion.
‘‘So kho ahaṃ, sāriputta, ye te goṭṭhā paṭṭhitagāvo apagatagopālakā, tattha catukkuṇḍiko upasaṅkamitvā yāni tāni vacchakānaṃ taruṇakānaṃ dhenupakānaṃ gomayāni tāni sudaṃ āhāremi.
“Này Sāriputta, Ta bò bằng tứ chi đến những chuồng bò mà đàn bò đã ra đi và người chăn bò đã rời khỏi, và những gì là phân của những con bê con còn bú mẹ, Ta ăn những thứ ấy.
“I, Sāriputta, would go on all fours to those cowpens from which the cattle had gone out and the cowherds had left, and whatever dung there was of young suckling calves, that I would eat.
Yāvakīvañca me, sāriputta, sakaṃ muttakarīsaṃ apariyādinnaṃ hoti, sakaṃyeva sudaṃ muttakarīsaṃ āhāremi. Idaṃsu me, sāriputta, mahāvikaṭabhojanasmiṃ hoti.
Và này Sāriputta, chừng nào phân và nước tiểu của chính Ta chưa cạn, Ta ăn chính phân và nước tiểu của mình. Này Sāriputta, đây là sự ăn đồ đại uế của Ta.
And as long as my own excrement and urine had not run out, Sāriputta, I would eat my own excrement and urine. This, Sāriputta, was my eating of the great filth.
§157 – Khu rừng đáng sợ, bài kệ và sự an trú trong xả
157. ‘‘So kho ahaṃ, sāriputta, aññataraṃ bhiṃsanakaṃ vanasaṇḍaṃ ajjhogāhetvā viharāmi. Tatrāssudaṃ, sāriputta, bhiṃsanakassa vanasaṇḍassa bhiṃsanakatasmiṃ hoti – yo koci avītarāgo taṃ vanasaṇḍaṃ pavisati, yebhuyyena lomāni haṃsanti.
157. “Này Sāriputta, Ta đi sâu vào một khu rừng đáng sợ nào đó mà sống. Này Sāriputta, về sự đáng sợ của khu rừng đáng sợ ấy là như vầy: hễ ai chưa ly tham đi vào khu rừng ấy, phần lớn đều dựng lông tóc.
157. “I, Sāriputta, would plunge into some frightful grove and dwell there. Such, Sāriputta, was the frightfulness of that frightful grove: whoever not free from lust entered that grove, for the most part his hair would stand on end.
So kho ahaṃ, sāriputta, yā tā rattiyo sītā hemantikā antaraṭṭhakā himapātasamayā [antaraṭṭhake himapātasamaye (sī. pī.)] tathārūpāsu rattīsu rattiṃ abbhokāse viharāmi, divā vanasaṇḍe; gimhānaṃ pacchime māse divā abbhokāse viharāmi, rattiṃ vanasaṇḍe.
Này Sāriputta, vào những đêm lạnh mùa đông, trong khoảng Antaraṭṭhaka, mùa tuyết rơi, trong những đêm như thế, Ta sống ban đêm ngoài trời trống, ban ngày trong rừng; vào tháng cuối của mùa nóng, Ta sống ban ngày ngoài trời trống, ban đêm trong rừng.
Sāriputta, on those cold winter nights of the Antaraṭṭhaka period, the time of snowfall, on such nights I dwelt by night in the open and by day in the grove; in the last month of the hot season I dwelt by day in the open and by night in the grove.
Apissu maṃ, sāriputta, ayaṃ anacchariyagāthā paṭibhāsi pubbe assutapubbā –
Và này Sāriputta, bài kệ hy hữu này, trước đây chưa từng được nghe, đã hiện đến với Ta:
And, Sāriputta, this marvellous verse, never heard before, occurred to me:
‘‘Sotatto sosinno [sosīno (sī. pī. ka.), sosino (syā.), sosindo (saddanīti)] ceva, eko bhiṃsanake vane;
“Bị nóng thiêu và bị lạnh buốt, một mình trong rừng đáng sợ;
“Scorched and soaked, alone in the frightful forest;
Naggo na caggimāsīno, esanāpasuto munī’’ti.
Lõa thể, không ngồi bên lửa, bậc ẩn sĩ chuyên tâm tầm cầu.”
Naked, not sitting by a fire, the sage is intent on his quest.”
Chú thích: Sotatto = su + tatta (“bị nung nóng kỹ”), sosinno = su + sinna (“bị ướt lạnh thấu”); bản VRI ghi các dị bản sosīno, sosino, sosindo. Caggimāsīno = ca + aggiṃ + āsīno (“ngồi bên lửa”). Anacchariya ở dòng dẫn kệ được dịch “hy hữu” theo cách hiểu thông dụng; cách phân tích từ này còn được bàn luận. Antaraṭṭhaka (§157): theo Chú giải là tám ngày giữa hai tháng Māgha và Phagguna, mùa lạnh nhất có sương tuyết.
‘‘So kho ahaṃ, sāriputta, susāne seyyaṃ kappemi chavaṭṭhikāni upadhāya. Apissu maṃ, sāriputta, gāmaṇḍalā [gomaṇḍalā (bahūsu) cariyāpiṭakaaṭṭhakathā oloketabbā] upasaṅkamitvā oṭṭhubhantipi, omuttentipi, paṃsukenapi okiranti, kaṇṇasotesupi salākaṃ pavesenti.
“Này Sāriputta, Ta nằm ngủ trong nghĩa địa, gối đầu trên xương tử thi. Và này Sāriputta, bọn trẻ làng đến gần, khạc nhổ lên Ta, đái lên Ta, rắc bụi đất lên Ta, chọc que vào lỗ tai Ta.
“I, Sāriputta, made my bed in a charnel ground, using the bones of corpses as a pillow. And, Sāriputta, village boys came up and spat on me, urinated on me, threw dirt on me, and poked sticks into my ears.
Na kho panāhaṃ, sāriputta, abhijānāmi tesu pāpakaṃ cittaṃ uppādetā. Idaṃsu me, sāriputta, upekkhāvihārasmiṃ hoti.
Nhưng này Sāriputta, Ta không nhớ là đã khởi lên tâm ác đối với họ. Này Sāriputta, đây là sự an trú trong xả của Ta.
Yet, Sāriputta, I do not recall having aroused an evil mind towards them. This, Sāriputta, was my abiding in equanimity.
§158–159 – “Thanh tịnh nhờ vật thực”
158. ‘‘Santi kho pana, sāriputta, eke samaṇabrāhmaṇā evaṃvādino evaṃdiṭṭhino – ‘āhārena suddhī’ti. Te evamāhaṃsu – ‘kolehi yāpemā’ti. Te kolampi khādanti, kolacuṇṇampi khādanti, kolodakampi pivanti – anekavihitampi kolavikatiṃ paribhuñjanti.
158. “Này Sāriputta, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: ‘Thanh tịnh nhờ vật thực.’ Họ nói như vầy: ‘Chúng ta sống nhờ trái táo.’ Họ ăn trái táo, ăn bột táo, uống nước táo – họ dùng nhiều loại chế phẩm từ táo.
158. “There are, Sāriputta, some ascetics and brahmins whose doctrine and view is this: ‘Purification comes through food.’ They say thus: ‘Let us live on jujubes.’ They eat jujubes, they eat jujube powder, they drink jujube water – they make use of many kinds of jujube preparations.
Abhijānāmi kho panāhaṃ, sāriputta, ekaṃyeva kolaṃ āhāraṃ āhāritā. Siyā kho pana te, sāriputta, evamassa – ‘mahā nūna tena samayena kolo ahosī’ti. Na kho panetaṃ, sāriputta, evaṃ daṭṭhabbaṃ. Tadāpi etaparamoyeva kolo ahosi seyyathāpi etarahi.
Này Sāriputta, Ta nhớ rõ đã ăn chỉ một trái táo làm vật thực. Này Sāriputta, có thể ông nghĩ như vầy: ‘Hẳn là vào thời ấy trái táo to lớn.’ Nhưng này Sāriputta, không nên thấy như vậy. Ngay cả khi ấy, trái táo cũng chỉ lớn tối đa như thế này, giống như hiện nay.
I recall, Sāriputta, having taken just one jujube as food. It may be, Sāriputta, that you think thus: ‘Surely the jujube was big at that time.’ But it should not be seen thus, Sāriputta. Even then the jujube was at most this size, just as it is now.
Tassa mayhaṃ, sāriputta, ekaṃyeva kolaṃ āhāraṃ āhārayato adhimattakasimānaṃ patto kāyo hoti. Seyyathāpi nāma āsītikapabbāni vā kāḷapabbāni vā, evamevassu me aṅgapaccaṅgāni bhavanti tāyevappāhāratāya.
Này Sāriputta, khi Ta ăn chỉ một trái táo làm vật thực, thân Ta đạt đến sự gầy ốm tột độ. Ví như những đốt dây āsītika hay những đốt dây kāḷa, cũng vậy, tay chân của Ta trở thành như thế, chính vì ăn quá ít.
As I took just one jujube as food, Sāriputta, my body reached a state of extreme emaciation. Just like the joints of āsītika creepers or kāḷa creepers, so my limbs became, because of eating so little.
Seyyathāpi nāma oṭṭhapadaṃ, evamevassu me ānisadaṃ hoti tāyevappāhāratāya. Seyyathāpi nāma vaṭṭanāvaḷī, evamevassu me piṭṭhikaṇṭako unnatāvanato hoti tāyevappāhāratāya.
Ví như dấu chân lạc đà, cũng vậy, mông của Ta trở thành như thế, chính vì ăn quá ít. Ví như một chuỗi hạt, cũng vậy, xương sống của Ta lồi lõm, chính vì ăn quá ít.
Just like a camel’s hoofprint, so my buttocks became, because of eating so little. Just like a string of beads, so my backbone stood out, bulging and sunken, because of eating so little.
Seyyathāpi nāma jarasālāya gopānasiyo oluggaviluggā bhavanti, evamevassu me phāsuḷiyo oluggaviluggā bhavanti tāyevappāhāratāya. Seyyathāpi nāma gambhīre udapāne udakatārakā gambhīragatā okkhāyikā dissanti, evamevassu me akkhikūpesu akkhitārakā gambhīragatā okkhāyikā dissanti tāyevappāhāratāya.
Ví như những cây kèo của một ngôi nhà cũ xiêu vẹo ngả nghiêng, cũng vậy, các xương sườn của Ta xiêu vẹo ngả nghiêng, chính vì ăn quá ít. Ví như trong một giếng sâu, ánh nước hiện ra tít sâu dưới đáy, chìm khuất, cũng vậy, trong hốc mắt Ta, ánh mắt hiện ra tít sâu, chìm khuất, chính vì ăn quá ít.
Just as the rafters of an old shed lean in and out at all angles, so my ribs leaned in and out at all angles, because of eating so little. Just as in a deep well the gleam of the water is seen far down and sunken, so in my eye-sockets the gleam of my eyes was seen far down and sunken, because of eating so little.
Seyyathāpi nāma tittakālābuāmakacchinno vātātapena saṃphuṭito [samphusito (syā.), saṃpuṭito (pī. ka.) ettha saṃphuṭitoti saṅkucitoti attho] hoti sammilāto, evamevassu me sīsacchavi saṃphuṭitā hoti sammilātā tāyevappāhāratāya.
Ví như trái bầu đắng bị cắt lúc còn non, bị gió và nắng làm teo lại, héo quắt, cũng vậy, da đầu của Ta teo lại, héo quắt, chính vì ăn quá ít.
Just as a bitter gourd cut off unripe becomes shrivelled and withered by wind and sun, so the skin of my head became shrivelled and withered, because of eating so little.
So kho ahaṃ, sāriputta, ‘udaracchaviṃ parimasissāmī’ti piṭṭhikaṇṭakaṃyeva pariggaṇhāmi, ‘piṭṭhikaṇṭakaṃ parimasissāmī’ti udaracchaviṃyeva pariggaṇhāmi, yāvassu me, sāriputta, udaracchavi piṭṭhikaṇṭakaṃ allīnā hoti tāyevappāhāratāya.
Này Sāriputta, Ta [nghĩ] ‘Ta sẽ sờ da bụng’ thì lại nắm phải xương sống, [nghĩ] ‘Ta sẽ sờ xương sống’ thì lại nắm phải da bụng, đến mức, này Sāriputta, da bụng của Ta dính sát vào xương sống, chính vì ăn quá ít.
Thinking, ‘I will touch the skin of my belly’, I, Sāriputta, took hold of my backbone; thinking, ‘I will touch my backbone’, I took hold of the skin of my belly – to such an extent, Sāriputta, did the skin of my belly cling to my backbone, because of eating so little.
So kho ahaṃ, sāriputta, ‘vaccaṃ vā muttaṃ vā karissāmī’ti tattheva avakujjo papatāmi tāyevappāhāratāya. So kho ahaṃ, sāriputta, tameva kāyaṃ assāsento pāṇinā gattāni anomajjāmi. Tassa mayhaṃ, sāriputta, pāṇinā gattāni anomajjato pūtimūlāni lomāni kāyasmā patanti tāyevappāhāratāya.
Này Sāriputta, Ta [nghĩ] ‘Ta sẽ đại tiện hay tiểu tiện’ thì ngã úp mặt xuống ngay tại đó, chính vì ăn quá ít. Này Sāriputta, để làm cho chính thân ấy dễ chịu, Ta lấy tay xoa bóp tay chân. Này Sāriputta, khi Ta lấy tay xoa bóp tay chân, những sợi lông đã mục chân rụng khỏi thân, chính vì ăn quá ít.
Thinking, ‘I will defecate or urinate’, I, Sāriputta, fell over on my face right there, because of eating so little. To relieve that very body, Sāriputta, I rubbed my limbs with my hand. As I rubbed my limbs with my hand, Sāriputta, the hairs, rotted at their roots, fell from my body, because of eating so little.
Chú thích: Tāyevappāhāratāya = tāya eva appāhāratāya: “chính do sự ăn ít ấy” (dụng cụ/nguyên nhân cách). Etaparamo: “lớn nhất là chừng này” (eta + parama). Dị bản ở hình ảnh trái bầu: bản VRI ghi thêm lời giải thích saṃphuṭitoti saṅkucitoti attho – “saṃphuṭita nghĩa là co rút lại”. Đoạn mô tả thân thể khô gầy này cũng có trong MN 36 (Đại Kinh Saccaka).
159. ‘‘Santi kho pana, sāriputta, eke samaṇabrāhmaṇā evaṃvādino evaṃdiṭṭhino – ‘āhārena suddhī’ti. Te evamāhaṃsu – ‘muggehi yāpema…pe… tilehi yāpema…pe… taṇḍulehi yāpemā’ti. Te taṇḍulampi khādanti, taṇḍulacuṇṇampi khādanti, taṇḍulodakampi pivanti – anekavihitampi taṇḍulavikatiṃ paribhuñjanti.
159. “Này Sāriputta, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: ‘Thanh tịnh nhờ vật thực.’ Họ nói như vầy: ‘Chúng ta sống nhờ đậu xanh… (như trên)… Chúng ta sống nhờ hạt mè… (như trên)… Chúng ta sống nhờ gạo.’ Họ ăn gạo, ăn bột gạo, uống nước gạo – họ dùng nhiều loại chế phẩm từ gạo.
159. “There are, Sāriputta, some ascetics and brahmins whose doctrine and view is this: ‘Purification comes through food.’ They say thus: ‘Let us live on mung beans… (and so on)… Let us live on sesamum… (and so on)… Let us live on rice.’ They eat rice, they eat rice powder, they drink rice water – they make use of many kinds of rice preparations.
Abhijānāmi kho panāhaṃ, sāriputta, ekaṃyeva taṇḍulaṃ āhāraṃ āhāritā. Siyā kho pana te, sāriputta, evamassa – ‘mahā nūna tena samayena taṇḍulo ahosī’ti. Na kho panetaṃ, sāriputta, evaṃ daṭṭhabbaṃ. Tadāpi etaparamoyeva taṇḍulo ahosi, seyyathāpi etarahi.
Này Sāriputta, Ta nhớ rõ đã ăn chỉ một hạt gạo làm vật thực. Này Sāriputta, có thể ông nghĩ như vầy: ‘Hẳn là vào thời ấy hạt gạo to lớn.’ Nhưng này Sāriputta, không nên thấy như vậy. Ngay cả khi ấy, hạt gạo cũng chỉ lớn tối đa như thế này, giống như hiện nay.
I recall, Sāriputta, having taken just one grain of rice as food. It may be, Sāriputta, that you think thus: ‘Surely the grain of rice was big at that time.’ But it should not be seen thus, Sāriputta. Even then the grain of rice was at most this size, just as it is now.
Tassa mayhaṃ, sāriputta, ekaṃyeva taṇḍulaṃ āhāraṃ āhārayato adhimattakasimānaṃ patto kāyo hoti. Seyyathāpi nāma āsītikapabbāni vā kāḷapabbāni vā, evamevassu me aṅgapaccaṅgāni bhavanti tāyevappāhāratāya.
Này Sāriputta, khi Ta ăn chỉ một hạt gạo làm vật thực, thân Ta đạt đến sự gầy ốm tột độ. Ví như những đốt dây āsītika hay những đốt dây kāḷa, cũng vậy, tay chân của Ta trở thành như thế, chính vì ăn quá ít.
As I took just one grain of rice as food, Sāriputta, my body reached a state of extreme emaciation. Just like the joints of āsītika creepers or kāḷa creepers, so my limbs became, because of eating so little.
Seyyathāpi nāma oṭṭhapadaṃ, evamevassu me ānisadaṃ hoti tāyevappāhāratāya. Seyyathāpi nāma vaṭṭanāvaḷī, evamevassu me piṭṭhikaṇṭako unnatāvanato hoti tāyevappāhāratāya. Seyyathāpi nāma jarasālāya gopānasiyo oluggaviluggā bhavanti, evamevassu me phāsuḷiyo oluggaviluggā bhavanti tāyevappāhāratāya. Seyyathāpi nāma gambhīre udapāne udakatārakā gambhīragatā okkhāyikā dissanti, evamevassu me akkhikūpesu akkhitārakā gambhīragatā okkhāyikā dissanti tāyevappāhāratāya. Seyyathāpi nāma tittakālābu āmakacchinno vātātapena saṃphuṭito hoti sammilāto, evamevassu me sīsacchavi saṃphuṭitā hoti sammilātā tāyevappāhāratāya.
Ví như dấu chân lạc đà, cũng vậy, mông của Ta trở thành như thế, chính vì ăn quá ít. Ví như một chuỗi hạt, cũng vậy, xương sống của Ta lồi lõm, chính vì ăn quá ít. Ví như những cây kèo của một ngôi nhà cũ xiêu vẹo ngả nghiêng, cũng vậy, các xương sườn của Ta xiêu vẹo ngả nghiêng, chính vì ăn quá ít. Ví như trong một giếng sâu, ánh nước hiện ra tít sâu dưới đáy, chìm khuất, cũng vậy, trong hốc mắt Ta, ánh mắt hiện ra tít sâu, chìm khuất, chính vì ăn quá ít. Ví như trái bầu đắng bị cắt lúc còn non, bị gió và nắng làm teo lại, héo quắt, cũng vậy, da đầu của Ta teo lại, héo quắt, chính vì ăn quá ít.
Just like a camel’s hoofprint, so my buttocks became, because of eating so little. Just like a string of beads, so my backbone stood out, bulging and sunken, because of eating so little. Just as the rafters of an old shed lean in and out at all angles, so my ribs leaned in and out at all angles, because of eating so little. Just as in a deep well the gleam of the water is seen far down and sunken, so in my eye-sockets the gleam of my eyes was seen far down and sunken, because of eating so little. Just as a bitter gourd cut off unripe becomes shrivelled and withered by wind and sun, so the skin of my head became shrivelled and withered, because of eating so little.
So kho ahaṃ, sāriputta, ‘udaracchaviṃ parimasissāmī’ti piṭṭhikaṇṭakaṃyeva pariggaṇhāmi, ‘piṭṭhikaṇṭakaṃ parimasissāmī’ti udaracchaviṃyeva pariggaṇhāmi. Yāvassu me, sāriputta, udaracchavi piṭṭhikaṇṭakaṃ allīnā hoti tāyevappāhāratāya. So kho ahaṃ, sāriputta, ‘vaccaṃ vā muttaṃ vā karissāmī’ti tattheva avakujjo papatāmi tāyevappāhāratāya. So kho ahaṃ, sāriputta, tameva kāyaṃ assāsento pāṇinā gattāni anomajjāmi. Tassa mayhaṃ, sāriputta, pāṇinā gattāni anomajjato pūtimūlāni lomāni kāyasmā patanti tāyevappāhāratāya.
Này Sāriputta, Ta [nghĩ] ‘Ta sẽ sờ da bụng’ thì lại nắm phải xương sống, [nghĩ] ‘Ta sẽ sờ xương sống’ thì lại nắm phải da bụng, đến mức, này Sāriputta, da bụng của Ta dính sát vào xương sống, chính vì ăn quá ít. Này Sāriputta, Ta [nghĩ] ‘Ta sẽ đại tiện hay tiểu tiện’ thì ngã úp mặt xuống ngay tại đó, chính vì ăn quá ít. Này Sāriputta, để làm cho chính thân ấy dễ chịu, Ta lấy tay xoa bóp tay chân. Này Sāriputta, khi Ta lấy tay xoa bóp tay chân, những sợi lông đã mục chân rụng khỏi thân, chính vì ăn quá ít.
Thinking, ‘I will touch the skin of my belly’, I, Sāriputta, took hold of my backbone; thinking, ‘I will touch my backbone’, I took hold of the skin of my belly – to such an extent, Sāriputta, did the skin of my belly cling to my backbone, because of eating so little. Thinking, ‘I will defecate or urinate’, I, Sāriputta, fell over on my face right there, because of eating so little. To relieve that very body, Sāriputta, I rubbed my limbs with my hand. As I rubbed my limbs with my hand, Sāriputta, the hairs, rotted at their roots, fell from my body, because of eating so little.
‘‘Tāyapi kho ahaṃ, sāriputta, iriyāya tāya paṭipadāya tāya dukkarakārikāya nājjhagamaṃ uttariṃ manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesaṃ.
“Nhưng này Sāriputta, dù với oai nghi ấy, với lối thực hành ấy, với sự hành trì khổ hạnh khó làm ấy, Ta vẫn không chứng đắc sự thù thắng của tri kiến xứng đáng bậc Thánh, vượt hơn pháp của loài người.
“But by that conduct, Sāriputta, by that practice, by that performance of austerities, I did not attain any distinction in knowledge and vision worthy of the noble ones, surpassing the human state.
Taṃ kissa hetu? Imissāyeva ariyāya paññāya anadhigamā, yāyaṃ ariyā paññā adhigatā ariyā niyyānikā, niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāya.
Vì sao vậy? Vì không chứng đắc chính tuệ Thánh này – tuệ Thánh này khi được chứng đắc thì là Thánh, dẫn đến xuất ly, dẫn người thực hành nó một cách chân chánh đến sự đoạn tận khổ.
Why was that? Because of not attaining this very noble wisdom – this noble wisdom which, when attained, is noble and emancipating, and leads the one who practises it rightly to the destruction of suffering.
§160 – Luân hồi, tái sinh, trú xứ, tế đàn, thờ lửa
160. ‘‘Santi kho pana, sāriputta, eke samaṇabrāhmaṇā evaṃvādino evaṃdiṭṭhino – ‘saṃsārena suddhī’ti. Na kho pana so [na kho paneso (sī. syā.)], sāriputta, saṃsāro sulabharūpo yo mayā asaṃsaritapubbo iminā dīghena addhunā, aññatra suddhāvāsehi devehi. Suddhāvāse cāhaṃ, sāriputta, deve saṃsareyyaṃ, nayimaṃ lokaṃ punarāgaccheyyaṃ.
160. “Này Sāriputta, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: ‘Thanh tịnh nhờ luân hồi.’ Nhưng này Sāriputta, không dễ tìm được sự luân chuyển nào mà Ta chưa từng luân chuyển qua trong thời gian dài này, ngoại trừ chư thiên Tịnh Cư. Và này Sāriputta, nếu Ta luân chuyển [làm] chư thiên Tịnh Cư, Ta đã không trở lại thế giới này.
160. “There are, Sāriputta, some ascetics and brahmins whose doctrine and view is this: ‘Purification comes through the round [of rebirths].’ But it is not easy, Sāriputta, to find a round that I have not already passed through in this long course, except for the devas of the Pure Abodes. And had I passed through [the round] as a deva of the Pure Abodes, Sāriputta, I would not have come back to this world.
‘‘Santi kho pana, sāriputta, eke samaṇabrāhmaṇā evaṃvādino evaṃdiṭṭhino – ‘upapattiyā suddhī’ti. Na kho pana sā, sāriputta, upapatti sulabharūpā yā mayā anupapannapubbā iminā dīghena addhunā, aññatra suddhāvāsehi devehi. Suddhāvāse cāhaṃ, sāriputta, deve upapajjeyyaṃ, nayimaṃ lokaṃ punarāgaccheyyaṃ.
“Này Sāriputta, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: ‘Thanh tịnh nhờ tái sinh.’ Nhưng này Sāriputta, không dễ tìm được sự tái sinh nào mà Ta chưa từng tái sinh vào trong thời gian dài này, ngoại trừ chư thiên Tịnh Cư. Và này Sāriputta, nếu Ta tái sinh [làm] chư thiên Tịnh Cư, Ta đã không trở lại thế giới này.
“There are, Sāriputta, some ascetics and brahmins whose doctrine and view is this: ‘Purification comes through rebirth.’ But it is not easy, Sāriputta, to find a rebirth into which I have not already been reborn in this long course, except for the devas of the Pure Abodes. And had I been reborn as a deva of the Pure Abodes, Sāriputta, I would not have come back to this world.
‘‘Santi kho pana, sāriputta, eke samaṇabrāhmaṇā evaṃvādino evaṃdiṭṭhino – ‘āvāsena suddhī’ti. Na kho pana so, sāriputta, āvāso sulabharūpo yo mayā anāvuṭṭhapubbo [anāvutthapubbo (sī. pī.)] iminā dīghena addhunā, aññatra suddhāvāsehi devehi. Suddhāvāse cāhaṃ, sāriputta, deve āvaseyyaṃ, nayimaṃ lokaṃ punarāgaccheyyaṃ.
“Này Sāriputta, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: ‘Thanh tịnh nhờ trú xứ.’ Nhưng này Sāriputta, không dễ tìm được trú xứ nào mà Ta chưa từng cư trú trong thời gian dài này, ngoại trừ chư thiên Tịnh Cư. Và này Sāriputta, nếu Ta cư trú [làm] chư thiên Tịnh Cư, Ta đã không trở lại thế giới này.
“There are, Sāriputta, some ascetics and brahmins whose doctrine and view is this: ‘Purification comes through abode.’ But it is not easy, Sāriputta, to find an abode in which I have not already dwelt in this long course, except for the devas of the Pure Abodes. And had I dwelt as a deva of the Pure Abodes, Sāriputta, I would not have come back to this world.
‘‘Santi kho pana, sāriputta, eke samaṇabrāhmaṇā evaṃvādino evaṃdiṭṭhino – ‘yaññena suddhī’ti. Na kho pana so, sāriputta, yañño sulabharūpo yo mayā ayiṭṭhapubbo iminā dīghena addhunā, tañca kho raññā vā satā khattiyena muddhāvasittena brāhmaṇena vā mahāsālena.
“Này Sāriputta, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: ‘Thanh tịnh nhờ tế đàn.’ Nhưng này Sāriputta, không dễ tìm được tế đàn nào mà Ta chưa từng cúng tế trong thời gian dài này, và khi ấy Ta là vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh hoặc là Bà-la-môn đại phú.
“There are, Sāriputta, some ascetics and brahmins whose doctrine and view is this: ‘Purification comes through sacrifice.’ But it is not easy, Sāriputta, to find a sacrifice that I have not already offered in this long course, and that while I was a head-anointed khattiya king or a well-to-do brahmin.
‘‘Santi kho pana, sāriputta, eke samaṇabrāhmaṇā evaṃvādino evaṃdiṭṭhino – ‘aggiparicariyāya suddhī’ti. Na kho pana so, sāriputta, aggi sulabharūpo yo mayā apariciṇṇapubbo iminā dīghena addhunā, tañca kho raññā vā satā khattiyena muddhāvasittena brāhmaṇena vā mahāsālena.
“Này Sāriputta, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: ‘Thanh tịnh nhờ thờ lửa.’ Nhưng này Sāriputta, không dễ tìm được ngọn lửa nào mà Ta chưa từng thờ phụng trong thời gian dài này, và khi ấy Ta là vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh hoặc là Bà-la-môn đại phú.
“There are, Sāriputta, some ascetics and brahmins whose doctrine and view is this: ‘Purification comes through fire-worship.’ But it is not easy, Sāriputta, to find a fire that I have not already worshipped in this long course, and that while I was a head-anointed khattiya king or a well-to-do brahmin.
Chú thích: Ở §160, cụm suddhāvāse … deve saṃsareyyaṃ, nayimaṃ lokaṃ punarāgaccheyyaṃ dùng thể khả năng (optative) như câu điều kiện trái thực tế: “nếu Ta đã luân chuyển [làm] chư thiên Tịnh Cư thì đã không trở lại đời này” – vì cõi Tịnh Cư (suddhāvāsa) là nơi chỉ các bậc Bất lai tái sinh và nhập Niết-bàn tại đó. Ba chữ saṃsāra – upapatti – āvāsa lần lượt được phủ định bằng asaṃsaritapubbo, anupapannapubbā, anāvuṭṭhapubbo (“chưa từng … trước đây”).
§161 – Trí tuệ Như Lai không suy giảm theo tuổi
161. ‘‘Santi kho pana, sāriputta, eke samaṇabrāhmaṇā evaṃvādino evaṃdiṭṭhino – ‘yāvadevāyaṃ bhavaṃ puriso daharo hoti yuvā susukāḷakeso bhadrena yobbanena samannāgato paṭhamena vayasā tāvadeva paramena paññāveyyattiyena samannāgato hoti. Yato ca kho ayaṃ bhavaṃ puriso jiṇṇo hoti vuddho mahallako addhagato vayoanuppatto, āsītiko vā nāvutiko vā vassasatiko vā jātiyā, atha tamhā paññāveyyattiyā, parihāyatī’ti.
161. “Này Sāriputta, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: ‘Chừng nào vị nam tử này còn non trẻ, thanh niên, tóc đen nhánh, đầy đủ tuổi xuân tươi đẹp, ở vào tuổi đầu đời, chừng ấy vị ấy thành tựu sự sáng suốt tột bậc của trí tuệ. Nhưng khi vị nam tử này già yếu, lão niên, tuổi cao, đã trải qua đường đời, đã đến tuổi cuối, tám mươi, chín mươi hay một trăm tuổi tính từ khi sinh, thì vị ấy suy giảm sự sáng suốt của trí tuệ ấy.’
161. “There are, Sāriputta, some ascetics and brahmins whose doctrine and view is this: ‘As long as this good man is young, a youth, with very black hair, endowed with the blessing of youth, in the first stage of life, so long is he endowed with the highest lucidity of wisdom. But when this good man is old, aged, burdened with years, advanced in life, come to the last stage, eighty or ninety or a hundred years from birth, then he falls away from that lucidity of wisdom.’
Na kho panetaṃ, sāriputta, evaṃ daṭṭhabbaṃ. Ahaṃ kho pana, sāriputta, etarahi jiṇṇo vuddho mahallako addhagato vayoanuppatto, āsītiko me vayo vattati.
Nhưng này Sāriputta, không nên thấy như vậy. Này Sāriputta, nay Ta đã già yếu, lão niên, tuổi cao, đã trải qua đường đời, đã đến tuổi cuối; tuổi của Ta đang là tám mươi.
But it should not be seen thus, Sāriputta. For I, Sāriputta, am now old, aged, burdened with years, advanced in life, come to the last stage; my age is turning eighty.
Idha me assu, sāriputta, cattāro sāvakā vassasatāyukā vassasatajīvino, paramāya satiyā ca gatiyā ca dhitiyā ca samannāgatā paramena ca paññāveyyattiyena.
Này Sāriputta, giả sử ở đây Ta có bốn vị đệ tử thọ một trăm năm, sống một trăm năm, thành tựu niệm tột bậc, sự lĩnh hội tột bậc, sự kiên trì tột bậc và sự sáng suốt tột bậc của trí tuệ.
Suppose, Sāriputta, I had here four disciples with a life span of a hundred years, living a hundred years, endowed with the utmost mindfulness, comprehension and fortitude, and with the highest lucidity of wisdom.
Seyyathāpi, sāriputta, daḷhadhammā [daḷhadhammo (bahūsu) ṭīkā ca moggallānabyākaraṇaṃ ca oloketabbaṃ] dhanuggaho sikkhito katahattho katūpāsano lahukena asanena appakasireneva tiriyaṃ tālacchāyaṃ atipāteyya, evaṃ adhimattasatimanto evaṃ adhimattagatimanto evaṃ adhimattadhitimanto evaṃ paramena paññāveyyattiyena samannāgatā.
Ví như, này Sāriputta, một cung thủ có cây cung chắc chắn, đã được huấn luyện, khéo tay, đã luyện tập thành thạo, với một mũi tên nhẹ, không chút khó khăn, có thể bắn xuyên ngang qua bóng một cây thốt nốt; cũng vậy, [bốn vị ấy] có niệm vượt bậc như vậy, có sự lĩnh hội vượt bậc như vậy, có sự kiên trì vượt bậc như vậy, thành tựu sự sáng suốt tột bậc của trí tuệ như vậy.
Just as, Sāriputta, a firm-bowed archer, trained, skilful, practised, could with a light arrow easily shoot across the shadow of a palmyra tree, so they would be of such surpassing mindfulness, such surpassing comprehension, such surpassing fortitude, endowed with such highest lucidity of wisdom.
Te maṃ catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ upādāyupādāya pañhaṃ puccheyyuṃ, puṭṭho puṭṭho cāhaṃ tesaṃ byākareyyaṃ, byākatañca me byākatato dhāreyyuṃ, na ca maṃ dutiyakaṃ uttari paṭipuccheyyuṃ.
Họ hỏi Ta hết câu hỏi này đến câu hỏi khác về bốn niệm xứ; được hỏi câu nào Ta trả lời họ câu ấy; họ thọ trì điều Ta đã trả lời đúng như đã được trả lời, và không hỏi lại Ta thêm lần thứ hai.
They would ask me question after question about the four establishments of mindfulness; being asked again and again, I would answer them; they would remember what I had answered as answered, and would not ask me any further second question.
Aññatra asitapītakhāyitasāyitā aññatra uccārapassāvakammā, aññatra niddākilamathapaṭivinodanā apariyādinnāyevassa, sāriputta, tathāgatassa dhammadesanā, apariyādinnaṃyevassa tathāgatassa dhammapadabyañjanaṃ, apariyādinnaṃyevassa tathāgatassa pañhapaṭibhānaṃ.
Ngoại trừ [lúc] ăn, uống, nhai, nếm, ngoại trừ việc đại tiện, tiểu tiện, ngoại trừ việc xua tan buồn ngủ và mệt nhọc, này Sāriputta, sự thuyết pháp của Như Lai vẫn không cạn kiệt, câu chữ và văn cú của Pháp nơi Như Lai vẫn không cạn kiệt, sự ứng đáp các câu hỏi của Như Lai vẫn không cạn kiệt.
Apart from eating, drinking, chewing and tasting, apart from defecating and urinating, apart from dispelling sleep and fatigue, the Tathāgata’s teaching of the Dhamma, Sāriputta, would remain unexhausted, the Tathāgata’s phrasing and wording of the Dhamma would remain unexhausted, the Tathāgata’s readiness in answering questions would remain unexhausted.
Atha me te cattāro sāvakā vassasatāyukā vassasatajīvino vassasatassa accayena kālaṃ kareyyuṃ. Mañcakena cepi maṃ, sāriputta, pariharissatha, nevatthi tathāgatassa paññāveyyattiyassa aññathattaṃ.
Rồi bốn vị đệ tử thọ một trăm năm, sống một trăm năm ấy của Ta, khi một trăm năm trôi qua, có thể mệnh chung. Này Sāriputta, dù các ông có phải khiêng Ta đi trên một chiếc giường nhỏ, sự sáng suốt của trí tuệ nơi Như Lai cũng không hề đổi khác.
Then those four disciples of mine, with a life span of a hundred years, living a hundred years, would die at the end of a hundred years. Even if you have to carry me about on a small bed, Sāriputta, there will be no change in the lucidity of wisdom of the Tathāgata.
Yaṃ kho taṃ [yaṃ kho panetaṃ (sī.)], sāriputta, sammā vadamāno vadeyya – ‘asammohadhammo satto loke uppanno bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussāna’nti, mameva taṃ sammā vadamāno vadeyya ‘asammohadhammo satto loke uppanno bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussāna’’’nti.
Này Sāriputta, nếu ai nói chân chánh mà nói: ‘Một chúng sinh không bị chi phối bởi si mê đã xuất hiện ở đời, vì lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng thương tưởng thế gian, vì sự tốt đẹp, lợi ích và hạnh phúc của chư thiên và loài người’, thì chính về Ta mà người ấy nói chân chánh như vậy: ‘Một chúng sinh không bị chi phối bởi si mê đã xuất hiện ở đời, vì lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng thương tưởng thế gian, vì sự tốt đẹp, lợi ích và hạnh phúc của chư thiên và loài người.’”
Sāriputta, if anyone speaking rightly were to say: ‘A being not subject to delusion has appeared in the world for the welfare of the many, for the happiness of the many, out of compassion for the world, for the good, welfare and happiness of devas and humans’, it is of me that, speaking rightly, he would say: ‘A being not subject to delusion has appeared in the world for the welfare of the many, for the happiness of the many, out of compassion for the world, for the good, welfare and happiness of devas and humans.’”
Chú thích: Āsītiko me vayo vattati: “tuổi tám mươi của Ta đang diễn tiến” – cho thấy kinh này được thuyết vào những năm cuối đời Đức Phật. Paññāveyyattiya: “sự sáng suốt, nhạy bén của trí tuệ”. Bộ ba sati – gati – dhiti được dịch “niệm – lĩnh hội – kiên trì”; nghĩa chính xác của gati ở đây còn được bàn luận. Asammohadhammo satto: “chúng sinh có bản chất không si mê” (dhamma cuối hợp từ chỉ bản tính).
§162 – Pháp môn khiến lông tóc dựng đứng
162. Tena kho pana samayena āyasmā nāgasamālo bhagavato piṭṭhito ṭhito hoti bhagavantaṃ bījayamāno. Atha kho āyasmā nāgasamālo bhagavantaṃ etadavoca –
162. Lúc bấy giờ, Tôn giả Nāgasamāla đang đứng phía sau Đức Thế Tôn, quạt hầu Đức Thế Tôn. Rồi Tôn giả Nāgasamāla bạch Đức Thế Tôn như vầy:
162. Now on that occasion the venerable Nāgasamāla was standing behind the Blessed One, fanning the Blessed One. Then the venerable Nāgasamāla said this to the Blessed One:
‘‘acchariyaṃ, bhante, abbhutaṃ, bhante! Api hi me, bhante, imaṃ dhammapariyāyaṃ sutvā lomāni haṭṭhāni. Konāmo ayaṃ, bhante, dhammapariyāyo’’ti?
“Thật kỳ diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, khi con nghe pháp môn này, lông tóc con dựng đứng. Bạch Thế Tôn, pháp môn này tên là gì?”
“It is wonderful, venerable sir, it is marvellous, venerable sir! For as I heard this exposition of the Dhamma, venerable sir, my hair stood on end. What is the name of this exposition of the Dhamma, venerable sir?”
‘‘Tasmātiha tvaṃ, nāgasamāla, imaṃ dhammapariyāyaṃ lomahaṃsanapariyāyo tveva naṃ dhārehī’’ti.
“Vậy thì, này Nāgasamāla, ông hãy thọ trì pháp môn này là ‘Pháp môn khiến lông tóc dựng đứng’.”
“Then, Nāgasamāla, you may remember this exposition of the Dhamma as ‘The Hair-raising Exposition’.”
Idamavoca bhagavā. Attamano āyasmā nāgasamālo bhagavato bhāsitaṃ abhinandīti.
Đức Thế Tôn đã nói như vậy. Tôn giả Nāgasamāla hoan hỷ, tín thọ lời Đức Thế Tôn dạy.
This is what the Blessed One said. The venerable Nāgasamāla was satisfied and delighted in the Blessed One’s words.
Mahāsīhanādasuttaṃ niṭṭhitaṃ dutiyaṃ.
Đại Kinh Sư Tử Hống, kinh thứ hai, chấm dứt.
The Greater Discourse on the Lion’s Roar, the second, is finished.
Thuật ngữ then chốt trong MN 12 (Phần 2)
| Pāli | Tiếng Việt | English | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| gati | cõi, nơi đi đến | destination | Năm cõi tái sinh; Niết-bàn được nêu riêng (§153). |
| cetasā ceto paricca | với tâm bao quát tâm | encompassing mind with mind | Tha tâm trí, biết hướng đi của người khác (§154). |
| dibba cakkhu | thiên nhãn | divine eye | Thấy chỗ tái sinh của người ấy về sau (§154). |
| tapassī · lūkha · jegucchī · pavivitta | khổ hạnh · thô xấu · nhờm gớm · viễn ly | ascetic · coarse · scrupulous · secluded | Bốn chi của phạm hạnh khổ hạnh (§155–156). |
| upekkhāvihāra | sự an trú trong xả | abiding in equanimity | Không khởi tâm ác khi bị nhục mạ (§157). |
| āhārena suddhi | thanh tịnh nhờ vật thực | purification through food | Một trong các thuyết “thanh tịnh nhờ…” bị bác bỏ (§158–160). |
| appāhāratā | sự ăn quá ít | eating so little | Điệp ngữ tāyevappāhāratāya (§158–159). |
| ariyā paññā | tuệ Thánh | noble wisdom | Điều khổ hạnh không đem lại; dẫn đến đoạn tận khổ (§159). |
| suddhāvāsa | Tịnh Cư thiên | Pure Abodes | Cõi duy nhất Bồ-tát chưa từng sinh vào (§160). |
| paññāveyyattiya | sự sáng suốt của trí tuệ | lucidity of wisdom | Không suy giảm nơi Như Lai dù đã tám mươi tuổi (§161). |
| lomahaṃsanapariyāya | pháp môn khiến lông tóc dựng đứng | hair-raising exposition | Tên khác của kinh do Đức Thế Tôn đặt (§162). |
Một câu ghi nhớ: Khổ hạnh tột bậc, nhịn ăn đến chỉ còn một hạt gạo, cũng không đem lại tri kiến thù thắng; chỉ tuệ Thánh – dẫn đến xuất ly – mới đưa người thực hành đến sự đoạn tận khổ, và trí tuệ ấy nơi Như Lai không suy giảm theo tuổi tác.
Đọc tiếp
- Phần trước: MN 12 Đại Kinh Sư Tử Hống – Song Ngữ Pāli Việt Anh – Phần 1 (§146–152)
- Bài song ngữ trước nữa: MN 11 Tiểu Kinh Sư Tử Hống – Song Ngữ Pāli Việt Anh
- Bài song ngữ kế tiếp: MN 13 Đại Kinh Khổ Uẩn (Mahādukkhakkhandhasutta) – sẽ đăng trong kỳ tới.
- Bài giảng giải nội dung: MN 12 – Đại Kinh Sư Tử Hống (Mahāsīhanādasutta)
- Toàn bộ Trung Bộ song ngữ: Trung Bộ Song Ngữ Pāli – Việt – Anh
- Trang tổng: Tam Tạng Song Ngữ Pāli – Việt – Anh
- Loạt giảng giải: Blog Kinh Trung Bộ
Nguồn tham khảo
- Bản Pāli: Chaṭṭha Saṅgāyana Tipiṭaka, Majjhimanikāya, Mūlapaṇṇāsapāḷi, Mahāsīhanādasutta (MN 12) – Vipassana Research Institute: tipitaka.org
- Đối chiếu đoạn văn: SuttaCentral – MN 12
- Chú giải: Papañcasūdanī (Majjhimanikāya-aṭṭhakathā), phần Mahāsīhanādasuttavaṇṇanā – bản VRI tại tipitaka.org
- Đối chiếu nghĩa (không trích lời dịch): HT. Thích Minh Châu; Bhikkhu Ñāṇamoli & Bhikkhu Bodhi; Bhikkhu Sujato.
Bản dịch Việt – Anh trên trang này do Theravada.blog thực hiện trực tiếp từ Pāli, theo lối sát chữ dành cho người học Pāli. Nếu quý độc giả phát hiện chỗ cần sửa, xin để lại bình luận.