Kinh Đầu Móng Tay (SN 22.97): Ngay Cả Chừng Này Cũng Không Thường Còn
Kinh Đầu Móng Tay (SN 22.97): không có chút uẩn nào thường còn, nên phạm hạnh mới thành tựu; đối chiếu với SN 13.1 và SN 20.2 cùng ẩn dụ.
Tương Ưng Bộ
Kinh Đầu Móng Tay (SN 22.97): không có chút uẩn nào thường còn, nên phạm hạnh mới thành tựu; đối chiếu với SN 13.1 và SN 20.2 cùng ẩn dụ.
Kinh Mahānāma (SN 55.21–22): sợ chết lúc thất niệm, Mahānāma được Đức Phật trấn an bằng hình ảnh bình bơ vỡ dưới nước và cây nghiêng về hướng đông.
Kinh Veḷudvāra (SN 55.7): dân làng muốn sống với gia đình mà vẫn sinh thiên. Đức Phật dạy pháp môn lấy mình làm ví dụ và bốn chi phần dự lưu.
Kinh Cái Chốt (SN 20.7): chiếc trống vá chốt mãi đến mất thân gỗ. Lời cảnh báo của Đức Phật về việc bỏ kinh sâu sắc, chuộng văn chương bên ngoài.
Kinh Chim Ưng (SN 47.6): chim cun cút thoát chim ưng nhờ ở đúng vùng của cha ông. Hành xứ của người tu là 4 niệm xứ, ngoài hành xứ là 5 dục.
Kinh Thức Ăn (SN 46.51): cái gì nuôi 5 triền cái, cái gì nuôi 7 giác chi. Tác ý như lý hay không như lý nhiều lần là yếu tố quyết định.
Kinh Talapuṭa (SN 42.2): diễn viên làm khán giả cười có được lên trời? Đức Phật từ chối 3 lần rồi giải thích vì sao khơi tham sân si không dẫn lên trời.
Kinh Sīvaka (SN 36.21): có phải mọi cảm thọ đều do nghiệp quá khứ? Đức Phật nêu 8 nguồn gốc cảm thọ: mật, đàm, gió, thời tiết… nghiệp chỉ là một.
Kinh Koṭṭhika (SN 35.232): mắt không trói sắc, sắc không trói mắt; kiết sử là dục tham ở giữa, như sợi dây cột 2 con bò đen trắng.
Kinh Thế Giới Trống Không (SN 35.85): thế giới trống không vì trống không tự ngã và ngã sở. Đọc cùng SN 35.84 và lời dạy cho Mogharāja.