Kinh Giữ Giới (SN 22.122): 11 Cách Quán Năm Thủ Uẩn Đến A-la-hán
Kinh Giữ Giới (SN 22.122): từ người giữ giới đến bậc A-la-hán, đề mục vẫn là năm thủ uẩn quán theo 11 cách: vô thường, khổ, bệnh, ung nhọt, vô ngã.
Kinh Giữ Giới (SN 22.122): từ người giữ giới đến bậc A-la-hán, đề mục vẫn là năm thủ uẩn quán theo 11 cách: vô thường, khổ, bệnh, ung nhọt, vô ngã.
Kinh Con Chó Bị Cột (SN 22.100): như chó cột vào cọc, phàm phu đi đứng ngồi nằm quanh 5 uẩn. Tâm ô nhiễm thì chúng sinh ô nhiễm, tâm tịnh thì tịnh.
Kinh Hāliddikāni (SN 22.3): Tôn giả Mahākaccāna giảng rộng câu kệ Aṭṭhakavagga “bỏ nhà, đi không chỗ trú” qua năm uẩn, sáu trần và đời sống tu.
Kinh Bó Lau (SN 12.67): khổ không do mình, không do người, không ngẫu nhiên. Sāriputta dùng ví dụ 2 bó lau tựa nhau để giảng thức và danh sắc.
Kinh Trưởng Lão (SN 21.10): sống một mình không chỉ là đi, ngồi một mình. Đức Phật dạy: bỏ quá khứ, buông tương lai, nhiếp phục dục tham hiện tại.
Tương Ưng Lợi Đắc Cung Kính (SN 17): lợi đắc, cung kính, danh tiếng là lưỡi câu của Ma vương. Phân tích 10 ví dụ và bài học từ Devadatta.
Kinh Chánh Pháp Tượng Tự (SN 16.13): vàng thật chỉ mất khi vàng giả xuất hiện. 5 pháp làm Chánh pháp suy tàn và 5 pháp giữ Chánh pháp tồn tại.
Tương Ưng Rừng (SN 9): 14 kinh chư thiên trong rừng dùng kệ nhắc tỳ-khưu phóng dật: ngủ ngày, nhớ nhà, cô đơn, tư duy bất thiện, kẻ trộm hương.
Kinh Cung Kính (SN 6.2): vừa thành đạo, Đức Phật không thấy ai hơn mình về 5 pháp uẩn nên chọn tôn kính chính Pháp đã chứng ngộ. Phạm Thiên tán thành.
Kinh Doṇapāka (SN 3.13): vua Pasenadi ăn quá nhiều, Đức Phật dạy bài kệ 4 câu về chánh niệm và biết đủ khi ăn. Phân tích Pāli và cách ứng dụng.