Kinh Mallikā (SN 3.8): Không Ai Thương Ai Hơn Chính Mình
Kinh Mallikā (SN 3.8): hoàng hậu Mallikā nói không ai thân hơn chính mình. Đức Phật dạy: ai cũng thương mình, nên người thương mình chớ làm hại ai.
Kinh Mallikā (SN 3.8): hoàng hậu Mallikā nói không ai thân hơn chính mình. Đức Phật dạy: ai cũng thương mình, nên người thương mình chớ làm hại ai.
Kinh Tuổi Trẻ (SN 3.1): vua Pasenadi hỏi vì sao Phật còn trẻ mà tự nhận giác ngộ. Bốn điều không nên khinh vì nhỏ: hoàng tử, rắn, lửa và vị tỳ-khưu.
Bốn chi phần dự lưu là tịnh tín bất động nơi Phật, Pháp, Tăng và giới được bậc Thánh ưa thích. Tương Ưng Dự Lưu (SN 55) còn nêu bốn điều kiện dẫn đến dự lưu, và cho thấy vì sao bốn pháp này quý hơn cả ngôi vị Chuyển Luân Vương.
Kinh bát dầu (SN 47.20): một người phải mang bát dầu đầy tràn đi giữa đám đông đang xem hoa hậu ca múa, sau lưng có người cầm gươm; đổ một giọt là mất đầu. Đức Phật giải thích: bát dầu đầy là chánh niệm về thân.
Một Bà-la-môn giận dữ đến mắng chửi Đức Phật. Ngài hỏi: nếu khách không nhận món ăn ông mời, món ấy thuộc về ai? Kinh Akkosa (SN 7.2) dạy cách không “nhận” lời mắng, và vì sao không giận lại là thắng một trận khó thắng.
Kinh người làm xiếc (Sedaka, SN 47.19): hai nghệ sĩ leo cột tre, người thầy nói “em giữ thầy, thầy giữ em”, cô học trò đáp “mỗi người hãy tự giữ mình”. Đức Phật tán thành lời cô và dạy: giữ mình là giữ người, giữ người là giữ mình.
Ngay sau khi giác ngộ, Đức Phật nghiêng về không thuyết pháp vì Pháp sâu xa, khó thấy. Kinh Phạm Thiên Thỉnh Cầu (SN 6.1) kể Phạm Thiên Sahampati quỳ thỉnh, và Đức Phật dùng Phật nhãn nhìn chúng sinh như hồ sen trước khi mở “cửa bất tử”.
Vì sao có lúc bài học thuộc lâu vẫn quên, có lúc bài chưa ôn lại nhớ ra? Trong Kinh Saṅgārava (SN 46.55), Đức Phật trả lời bằng năm chậu nước: nhuộm màu, sôi sục, rêu phủ, gợn sóng, vẩn đục, tượng trưng cho năm triền cái che lấp tâm.
Tương Ưng Tỳ-kheo-ni (SN 5) gồm mười kinh, mỗi kinh kể một vị Tỳ-kheo-ni ngồi thiền một mình trong rừng và bị Māra quấy nhiễu. Các vị nhận ra Māra và đáp lại bằng những bài kệ về giải thoát, vô ngã và duyên khởi.
Kinh Channa (SN 22.90): Tỳ-kheo Channa hiểu “năm uẩn vô thường, vô ngã” nhưng tâm vẫn không hướng về Niết-bàn, vì lo âu trỗi dậy: “Vậy thì ai là tự ngã của tôi?”. Tôn giả Ānanda giúp ông bằng lời Đức Phật dạy Kaccānagotta.