Maṇisāramañjūsā: Phụ Chú Giải Miến Điện Thế Kỷ XV Về Vibhāvinī

Maṇisāramañjūsā là một bộ phụ chú giải tầng ba (anuṭīkā) viết bằng Pāli, giải thích Vibhāvinī, tức bộ ṭīkā nổi tiếng của Abhidhammatthasaṅgaha. Theo các biên niên Pāli của Miến Điện, tác giả là Trưởng lão Ariyavaṃsa, sống ở Ratanapūra vào thế kỷ XV. Tên tác phẩm có nghĩa là “chiếc hộp đựng tinh túy của ngọc”.

Bản văn Maṇisāramañjūsā không có trong bộ Chaṭṭha Saṅgāyana trên tipitaka.org, nên bài viết này không đoán nội dung của nó. Chúng tôi chỉ dựa vào những gì đọc được trực tiếp: lời ghi chép trong Gandhavaṃsa và Sāsanavaṃsa, lời bạt của Vibhāvinī, và hai đoạn Ledi Sayadaw trích dẫn Maṇisāramañjūsā trong Paramatthadīpanī.

1. Hồ sơ tác phẩm

  • Tên: Maṇisāramañjūsā; Ledi Sayadaw có chỗ gọi tắt là Maṇimañjūsā
  • Thể loại: anuṭīkā (phụ chú giải của phụ chú giải); Sāsanavaṃsa gọi là anusaṃvaṇṇanā (sự giải thích tiếp nối)
  • Đối tượng giải thích: Abhidhammatthavibhāvinī (Vibhāvinī) của Sumaṅgala, vốn là ṭīkā của Abhidhammatthasaṅgaha
  • Tác giả: Ariyavaṃsa (Sāsanavaṃsa gọi là Mahā-Ariyavaṃsa), thuộc dòng truyền thừa Chappada từ Arimaddana (Pagan)
  • Nơi và thời gian: Ratanapūra, dưới triều vua Mahānarapati; Sāsanavaṃsa ghi năm 804 theo kỷ nguyên lịch Miến, quy đổi thông thường khoảng năm 1442
  • Tình trạng văn bản: không có trong bộ CSCD trực tuyến; nội dung chỉ được biết gián tiếp qua các trích dẫn

2. Ba tầng văn bản: Saṅgaha, Vibhāvinī, Maṇisāramañjūsā

Để hiểu Maṇisāramañjūsā, cần đặt nó vào chuỗi ba tầng. Tầng gốc là Abhidhammatthasaṅgaha của Ngài Anuruddha, cẩm nang chín chương tóm lược Abhidhamma. Tầng thứ hai là Vibhāvinī. Lời bạt cuối Vibhāvinī trong bản CSCD cho biết tác giả là học trò của Trưởng lão Sāriputta, vị thầy sống ở tinh xá Jetavana tại Pulatthinagara do vua Parakkamabhuja xây dựng. Lời bạt còn nói bộ ṭīkā được hoàn thành trong hai mươi bốn ngày:

“Dinehi catuvīsehi, ṭīkāyaṃ niṭṭhitā yathā; tathā kalyāṇasaṅkappā, sīghaṃ sijjhantu pāṇinanti.” (Vibhāvinī, Nigamanakathā, kệ 7)

“Như bộ ṭīkā này đã hoàn tất trong hai mươi bốn ngày, mong những ước nguyện tốt lành của chúng sinh cũng mau thành tựu như vậy.”

Theo Bhikkhu Bodhi trong phần dẫn nhập của A Comprehensive Manual of Abhidhamma, tác giả Vibhāvinī là Sumaṅgalasāmi, sống vào thế kỷ XII. Bodhi cũng ghi nhận rằng bộ ṭīkā này nhanh chóng thay thế bộ Chú giải Cũ (Porāṇa-ṭīkā) và được xem là sâu sắc, đáng tin cậy nhất. Tầng thứ ba là Maṇisāramañjūsā, ra đời ở Miến Điện khoảng ba thế kỷ sau. Đó là tầng anuṭīkā: giải thích lời giải thích.

3. Gandhavaṃsa ghi nhận gì?

Gandhavaṃsa (trong bộ CSCD mang tên Cūḷaganthavaṃsa) là danh mục tác giả và tác phẩm Pāli do người Miến Điện biên soạn. Ở chương thứ tư, khi liệt kê những bộ sách được viết theo ý riêng của tác giả hay theo lời thỉnh cầu, sách ghi:

“Abhidhammatthasaṅgahaṭīkāya [maṇi] mañjūsā [maṇisāramañjūsā] nāma navānuṭīkā attano matiyā ariyavaṃsācariyena katā.” (Gandhavaṃsa, chương 4)

“Bộ anuṭīkā mới tên là Maṇisāramañjūsā, giải thích ṭīkā của Abhidhammatthasaṅgaha, do Ngài Ariyavaṃsa soạn theo ý riêng của mình.”

Hai chi tiết đáng chú ý. Thứ nhất, Gandhavaṃsa gọi đây là navānuṭīkā, “anuṭīkā mới”, nghĩa là nhà biên soạn ý thức được nó thuộc lớp chú giải muộn. Thứ hai, cụm attano matiyā (“theo ý riêng”) phân biệt với những sách viết theo lời thỉnh cầu. Điều thú vị là Sāsanavaṃsa lại kể rằng chính vị thầy của Ariyavaṃsa đã khuyên ông viết. Hai cách kể này không hẳn mâu thuẫn, nhưng nên biết.

4. Câu chuyện ra đời trong Sāsanavaṃsa

Sāsanavaṃsa, biên niên sử Phật giáo Miến Điện viết bằng Pāli, do Paññāsāmi hoàn thành năm 1223 lịch Miến (khoảng 1861), dành một đoạn dài cho Ariyavaṃsa trong chương về xứ Aparanta. Đây là nguồn chi tiết nhất hiện có.

Người thầy ngậm nước trong miệng

Sāsanavaṃsa kể: dưới triều vua Mahānarapati ở Ratanapūra, có vị Trưởng lão Mahā-Ariyavaṃsa, thông thạo kinh điển, thuộc dòng truyền thừa Chappada từ Arimaddana. Ông đến Jeyyapura học ngữ pháp với một đại trưởng lão. Vị này không muốn nói chuyện phiếm nên thường ngồi ngậm nước trong miệng, vì thế người Miến gọi ngài là “Reṅgu”. Ariyavaṃsa đến, không mở lời, chỉ lặng lẽ phục vụ thầy hai ngày; sang ngày thứ ba thầy mới nhổ nước ra hỏi lý do.

Vị thầy nói ngài bận giảng sách và quét sân tháp, nhưng thấy người học trò đã học nhiều mà chưa được chỉ dẫn đúng cách, ngài tạm gác việc quét sân và dạy cho Ariyavaṃsa bộ “lakkhaṇaṭīkā” về Abhidhammattha, tức Vibhāvinī, bằng nhiều phương pháp.

“Hãy giải thích chính cuốn sách đã giúp con thông suốt”

“Atha ācariyo āha, yaṃ pana ganthaṃ nissāya tvaṃ chekataṃ pattosi, tassa saṃvaṇṇanaṃ katvā upakāraṃ karohīti. Atha ariyavaṃsatthero ācariyassa vacanaṃ sirasā paṭiggahetvā abhidhammatthavibhāviniyā maṇisāramañjūsaṃ nāma anusaṃvaṇṇanaṃ akāsi.” (Sāsanavaṃsa, chương 6, Aparantaraṭṭhasāsanavaṃsakathāmaggo)

“Rồi vị thầy nói: ‘Cuốn sách nào nhờ đó con đạt được sự thông thạo, hãy làm một bản giải thích cho nó mà giúp ích.’ Trưởng lão Ariyavaṃsa cung kính nhận lời thầy và soạn bản giải thích tiếp nối tên là Maṇisāramañjūsā cho Abhidhammatthavibhāvinī.”

Đọc công khai để Tăng chúng bắt lỗi

Phần nào viết xong, vào mỗi ngày Uposatha ngài cho đọc trước Tăng chúng tại sân tháp và mời: nếu có lỗi gì, xin hãy nói ra. Một vị tỳ-kheo từ Arimaddana ngồi ở rìa hội chúng, hai lần phát ra tiếng “e e”. Ariyavaṃsa ghi nhớ hai chỗ đó, về tinh xá xem lại và tự tìm ra hai lỗi: một chỗ cùng một ý được nói hai lần (punaruttidosa), và một chỗ dùng idaṃ ganthaṃ theo giống trung trong khi phải là imaṃ ganthaṃ theo giống đực (liṅgavirodhidosa).

Vị tỳ-kheo kia được mời đến, xác nhận đúng hai lỗi đó và khen sách đầy đủ cả chữ lẫn nghĩa. Ariyavaṃsa vui mừng, cởi tấm y hai lớp đang đắp tặng vị ấy để “cúng dường trí tuệ của ngài”. Sāsanavaṃsa kết thúc rằng về sau vua Adhikarājā nghe chuyện đã ban cho Ariyavaṃsa một tước hiệu.

Những tác phẩm khác của Ariyavaṃsa

Cũng theo Sāsanavaṃsa, Ariyavaṃsa soạn bằng Pāli các sách Maṇidīpa, Ganthābharaṇa và Jātakavisodhana, đồng thời làm một bản giảng nghĩa (atthayojanā) bằng tiếng Miến cho chính bộ anuṭīkā. Từ điển DPPN của Malalasekera cũng xếp Ariyavaṃsa là một vị thầy và tác giả nổi tiếng thế kỷ XV, đến từ Pagan và thuộc phái Chapaṭa (tức dòng Chappada).

5. Nội dung: những gì ta biết qua trích dẫn

Cách đáng tin nhất để biết Maṇisāramañjūsā nói gì là đọc những chỗ người đời sau trích dẫn nó. Paramatthadīpanī, bộ “Saṅgaha-mahāṭīkā” của Ledi Sayadaw, có trong bộ CSCD và nêu tên Maṇisāramañjūsā ít nhất ở hai chỗ.

Về cõi tái sinh của phụ nữ đắc tám thiền chứng

Ở phần giải thích chương 5 (Vīthimutta), Ledi dẫn câu của Vibhāvinī rằng phụ nữ, dù là bậc Thánh hay phàm, đắc tám thiền chứng thì chỉ sinh vào hàng Phạm chúng thiên (brahmapārisajja). Rồi Ledi viết:

“Maṇimañjūsāyaṃ pana – Brahmapārisajjesuyeva nibbattanti, na brahmapurohitādīsūti vuttaṃ. Taṃ na gahetabbaṃ.” (Paramatthadīpanī, phần Kammacatukka)

“Còn trong Maṇimañjūsā thì nói: ‘chỉ sinh vào Phạm chúng thiên, không sinh vào Phạm phụ thiên v.v.’ Điều ấy không nên chấp nhận.”

Ledi còn bác thêm một nhận định trong Maṇimañjūsā, rằng bà Sāmāvatī và những người khác trước hết sinh vào Phạm chúng thiên; ông cho rằng điều ấy “không khớp với Chú giải” và dẫn Chú giải Udāna để nói khác. Đoạn này cho thấy Maṇisāramañjūsā đọc rất sát từng chữ của Vibhāvinī, và chính sự đọc sát ấy về sau trở thành đối tượng tranh luận.

Về tiến trình tâm khi nghe một từ

Ở phần bàn về chế định danh (nāmapaññatti), Ledi dẫn Sāratthadīpanī mô tả các lộ tâm nối nhau khi nghe một từ: nghe từng âm, gom các âm, nhận ra tên, rồi hiểu nghĩa. Sau đó Ledi ghi:

“Maṇisāramañjūsāyaṃ pana tadanuvattikavīthito paraṃ ekaṃ vinicchayavīthiṃ viññattigahaṇavīthiñca vadati.” (Paramatthadīpanī, phần bàn về paññatti)

“Còn Maṇisāramañjūsā thì nói rằng sau lộ tâm tùy thuận còn có một lộ tâm quyết định và một lộ tâm nắm bắt biểu tri.”

Như vậy Maṇisāramañjūsā không chỉ giải nghĩa từ ngữ mà còn đưa ra phân tích riêng về lộ trình tâm.

Năm từ Pāli cần nhớ

Từ PāliNghĩaXuất hiện ở đâu
anuṭīkāphụ chú giải của phụ chú giảiGandhavaṃsa gọi tác phẩm là navānuṭīkā
anusaṃvaṇṇanāsự giải thích tiếp nốicách Sāsanavaṃsa gọi Maṇisāramañjūsā
mañjūsāchiếc hộp, rương quýthành tố cuối của nhan đề
punaruttidosalỗi lặp lại cùng một ýlỗi thứ nhất được chỉ ra khi đọc trước Tăng
liṅgavirodhidosalỗi sai giống ngữ phápidaṃ ganthaṃ thay vì imaṃ ganthaṃ

Một điểm dễ hiểu sai

Dễ nghĩ rằng mỗi tầng chú giải mới là một sự “thêm thắt” xa dần lời Phật. Trường hợp Maṇisāramañjūsā cho thấy bức tranh khác: tầng anuṭīkā sinh ra từ nhu cầu dạy và học thực tế, khi một bộ ṭīkā đã trở thành sách giáo khoa và người học cần giải thích cho những câu khó của nó. Nó cũng không được tiếp nhận một cách thụ động. Ngay trong Miến Điện, Ledi Sayadaw có chỗ bác bỏ thẳng ý kiến của Maṇisāramañjūsā bằng cách đối chiếu với Chú giải.

Ứng dụng trong đời sống

  • Học có thầy: Ariyavaṃsa đã đọc nhiều sách nhưng chỉ thông suốt khi được một vị thầy chỉ dẫn phương pháp. Người học Abhidhamma hôm nay cũng cần người hướng dẫn, không chỉ cần tài liệu.
  • Đón nhận phê bình: việc đọc công khai để Tăng chúng bắt lỗi, rồi tặng y cho người chỉ ra lỗi, là một mẫu mực về thái độ học thuật khiêm tốn.
  • Đọc tầng nào biết tầng ấy: khi gặp một nhận định trong sách Abhidhamma, hãy hỏi nó thuộc Tạng, Chú giải, ṭīkā hay anuṭīkā, như cách phương pháp đọc ṭīkā đề nghị.

Ba câu hỏi ôn tập

  1. Maṇisāramañjūsā giải thích trực tiếp bộ sách nào?
  2. Theo Sāsanavaṃsa, ai đã khuyên Ariyavaṃsa viết tác phẩm này?
  3. Vị tỳ-kheo từ Arimaddana đã chỉ ra hai lỗi gì?

Đáp án: (1) Abhidhammatthavibhāvinī, ṭīkā của Abhidhammatthasaṅgaha (Sāsanavaṃsa, chương 6; Gandhavaṃsa, chương 4). (2) Vị đại trưởng lão ở Jeyyapura, người đã dạy ông Vibhāvinī (Sāsanavaṃsa, chương 6). (3) Lỗi lặp ý (punarutti) và lỗi sai giống ngữ pháp idaṃ ganthaṃ (Sāsanavaṃsa, chương 6).

Câu hỏi thường gặp

Maṇisāramañjūsā có bản dịch tiếng Việt không?

Theo hiểu biết của chúng tôi thì chưa. Ngay cả bản Pāli cũng không có trong bộ Chaṭṭha Saṅgāyana trực tuyến, nên người nghiên cứu thường chỉ tiếp cận qua các trích dẫn.

Maṇisāramañjūsā có liên quan đến Paramatthamañjūsā không?

Không. Paramatthamañjūsā là phụ chú giải Visuddhimagga của Dhammapāla. Gandhavaṃsa còn nhắc một “Paramatthamañjūsā” khác của Navavimalabuddhi giải thích ṭīkā Abhidhammasaṅgaha. Chữ mañjūsā là một nhan đề phổ biến, không chỉ một tác phẩm.

Niên đại 1442 có chắc chắn không?

Sāsanavaṃsa ghi năm 804 theo kỷ nguyên lịch Miến; con số 1442 là quy đổi thông thường. DPPN chỉ ghi chung là thế kỷ XV. Nên hiểu đây là niên đại gần đúng theo biên niên truyền thống.

Một câu ghi nhớ

“Cuốn sách nào nhờ đó con đạt được sự thông thạo, hãy làm một bản giải thích cho nó mà giúp ích.” (Sāsanavaṃsa, chương 6)

Đọc thêm: Mohavicchedanī — Tác Phẩm Phân Tích Pāli Miến Điện và Phụ Chú Giải Và Bản Sắc Phật Giáo Miến Điện.

Nguồn tham khảo

  1. Sāsanavaṃsappadīpikā, chương 6 (Aparantaraṭṭhasāsanavaṃsakathāmaggo), bản Pāli Chaṭṭha Saṅgāyana (VRI): tipitaka.org/romn/cscd/e0702n.nrf6.xml
  2. Gandhavaṃsa (Cūḷaganthavaṃsapāḷi), chương 4, bản VRI: tipitaka.org/romn/cscd/e0701n.nrf3.xml
  3. Abhidhammatthavibhāvinī, Nigamanakathā, bản VRI: tipitaka.org/romn/cscd/abh07t.nrf17.xml
  4. Ledi Sayadaw, Paramatthadīpanī (Saṅgahamahāṭīkā), bản VRI: e0301n.nrf7.xml và e0301n.nrf10.xml
  5. Bhikkhu Bodhi, A Comprehensive Manual of Abhidhamma, Introduction: accesstoinsight.org
  6. G.P. Malalasekera, Dictionary of Pāli Proper Names, mục “Ariyavaṃsa”: aimwell.org/DPPN