Tám Kính Pháp (Garudhamma): Văn Bản, Bối Cảnh Và Các Cách Hiểu

Tám kính pháp (garudhamma) là tám điều Đức Phật đặt ra như điều kiện để bà Mahāpajāpatī Gotamī thọ đại giới, theo chương Tỳ-kheo-ni (Bhikkhunikkhandhaka, Kd 20:1.4) của Tạng Luật Pāli. Chúng quy định quan hệ giữa Ni đoàn và Tăng đoàn: lễ kính, an cư, Uposatha và giáo giới, Pavāraṇā, hành mānatta, thọ đại giới trước hai Tăng, không mắng nhiếc tỳ-kheo, và việc ai được khuyên dạy ai. Văn bản nói bà nhận tám pháp ấy “như người trẻ nhận vòng hoa đội lên đầu”.

Đây là một trong những đoạn được bàn luận nhiều nhất của Tạng Luật. Bài viết trước hết đọc kỹ văn bản, rồi nêu những quan sát văn bản và các cách hiểu, phân biệt rõ đâu là kinh văn, đâu là chú thích của dịch giả, đâu là diễn giải.

1. Hồ sơ văn bản

  • Vị trí: Bhikkhunikkhandhaka, chương 20 của Cūḷavagga (Kd 20:1.4–1.6), Tạng Luật Pāli; bản song song trong Kinh Tạng là AN 8.51 (Gotamī Sutta)
  • Địa điểm: thỉnh cầu đầu tiên ở Kapilavatthu, tu viện Nigrodha; tám kính pháp được nói tại Vesālī, giảng đường Mái Nhọn trong Đại Lâm
  • Nhân vật: Đức Phật, bà Mahāpajāpatī Gotamī, Tôn giả Ānanda, các phụ nữ dòng Sakya
  • Chủ đề: sự thành lập Ni đoàn, quan hệ hai Tăng, tôn trọng và giới hạn

2. Bối cảnh: ba lần thỉnh cầu và câu hỏi của Ānanda

Tại Kapilavatthu, bà Mahāpajāpatī ba lần xin cho người nữ được xuất gia, và ba lần Đức Phật đáp “Thôi, Gotamī, chớ ưa thích việc ấy” (Kd 20:1.1.4–1.1.9). Bà tự cạo tóc, đắp y vàng, cùng nhiều phụ nữ dòng Sakya đi bộ đến Vesālī, đứng ngoài cổng với đôi chân sưng, thân phủ bụi, khóc (Kd 20:1.2.4–1.2.6).

Tôn giả Ānanda thỉnh cầu ba lần không được, rồi đổi cách hỏi: người nữ xuất gia có thể chứng quả Dự lưu, Nhất lai, Bất lai, A-la-hán không? Đức Phật đáp:

“Bhabbo, ānanda, mātugāmo tathāgatappavedite dhammavinaye agārasmā anagāriyaṃ pabbajitvā sotāpattiphalampi sakadāgāmiphalampi anāgāmiphalampi arahattaphalampi sacchikātun”ti. (Kd 20:1.3.16)

“Này Ānanda, người nữ xuất gia trong Pháp và Luật do Như Lai công bố có khả năng chứng quả Dự lưu, quả Nhất lai, quả Bất lai, và quả A-la-hán.”

Ānanda nhắc thêm công ơn của bà: dì ruột, người nuôi dưỡng, người cho Ngài bú sữa khi mẹ Ngài qua đời (Kd 20:1.3.18). Khi ấy Đức Phật nói đến tám kính pháp.

3. Tám kính pháp theo văn bản

Mỗi pháp đều kết thúc bằng cùng một câu: “Pháp này cần được tôn trọng, kính trọng, quý trọng, cúng dường, không được vi phạm suốt đời” (sakkatvā garukatvā mānetvā pūjetvā yāvajīvaṃ anatikkamanīyo). Theo Kd 20:1.4.3–1.4.20:

  1. Tỳ-kheo-ni dù đã thọ đại giới một trăm năm cũng phải đảnh lễ, đứng dậy, chắp tay, làm các việc cung kính đối với tỳ-kheo mới thọ đại giới ngày hôm ấy.
  2. Tỳ-kheo-ni không an cư mùa mưa ở trú xứ không có tỳ-kheo.
  3. Mỗi nửa tháng, tỳ-kheo-ni phải tìm đến Tăng hai việc: hỏi ngày Uposatha và đến nghe giáo giới.
  4. Mãn an cư, tỳ-kheo-ni làm lễ Pavāraṇā trước hai Tăng về ba điều: thấy, nghe, nghi.
  5. Tỳ-kheo-ni phạm trọng pháp phải hành mānatta nửa tháng trước hai Tăng.
  6. Thức-xoa-ma-na đã học sáu pháp trong hai năm thì cầu thọ đại giới nơi hai Tăng.
  7. Tỳ-kheo-ni không được mắng nhiếc, chửi bới tỳ-kheo bằng bất cứ cách nào.
  8. Từ nay, lời khuyên dạy của tỳ-kheo-ni đối với tỳ-kheo bị đóng lại; lời khuyên dạy của tỳ-kheo đối với tỳ-kheo-ni không bị đóng.

Kính pháp thứ nhất, nguyên văn:

“Vassasatūpasampannāya bhikkhuniyā tadahupasampannassa bhikkhuno abhivādanaṃ paccuṭṭhānaṃ añjalikammaṃ sāmīcikammaṃ kātabbaṃ.” (Kd 20:1.4.3)

“Tỳ-kheo-ni đã thọ đại giới một trăm năm phải đảnh lễ, đứng dậy, chắp tay và làm các việc cung kính đối với tỳ-kheo thọ đại giới ngày hôm ấy.”

Brahmali dẫn chú giải Samantapāsādikā giải thích sāmīcikamma là các phận sự thích hợp như nhường đường, quạt, mời nước uống.

4. Bà Mahāpajāpatī nhận lãnh thế nào?

Khi Tôn giả Ānanda truyền đạt tám pháp, bà đáp bằng một ví dụ:

“Seyyathāpi, bhante ānanda, itthī vā puriso vā daharo, yuvā, maṇḍanakajātiko sīsaṃnahāto uppalamālaṃ vā vassikamālaṃ vā atimuttakamālaṃ vā labhitvā ubhohi hatthehi paṭiggahetvā uttamaṅge sirasmiṃ patiṭṭhāpeyya; evameva kho ahaṃ, bhante, ānanda ime aṭṭha garudhamme paṭiggaṇhāmi yāvajīvaṃ anatikkamanīye”ti. (Kd 20:1.5.22–23)

“Thưa Tôn giả Ānanda, như người nữ hay người nam trẻ tuổi, ưa trang điểm, vừa gội đầu, nhận được vòng hoa sen, hoa nhài hay hoa atimuttaka, đưa hai tay đón lấy và đặt lên đầu; cũng vậy, tôi nhận tám kính pháp này, không vi phạm suốt đời.”

Sau đó Đức Phật cho phép chư tỳ-kheo truyền đại giới cho tỳ-kheo-ni (Kd 20:2.1.7). Khi các vị ni dòng Sakya nói bà chưa thọ đại giới, Ngài xác nhận bà đã thọ đại giới ngay khi nhận tám kính pháp (Kd 20:2.2.15).

5. Lời tiên báo năm trăm năm và ví dụ con đê

Ngay sau đó, văn bản ghi lời Đức Phật nói với Ānanda: nếu người nữ không xuất gia, Chánh pháp sẽ tồn tại một nghìn năm; nay chỉ còn năm trăm năm (Kd 20:1.6.4–1.6.6). Ngài dùng ba ví dụ: gia đình nhiều nữ ít nam dễ bị trộm, ruộng lúa bị bệnh, ruộng mía bị bệnh. Rồi Ngài nói:

“Seyyathāpi, ānanda, puriso mahato taḷākassa paṭikacceva āḷiṃ bandheyya yāvadeva udakassa anatikkamanāya; evameva kho, ānanda, mayā paṭikacceva bhikkhunīnaṃ aṭṭha garudhammā paññattā yāvajīvaṃ anatikkamanīyā”ti. (Kd 20:1.6.13–14)

“Này Ānanda, như người đắp bờ trước cho một hồ nước lớn để nước không tràn ra; cũng vậy, Ta đã chế định trước tám kính pháp cho tỳ-kheo-ni, không được vi phạm suốt đời.”

Văn bản tự nó trình bày tám kính pháp như một biện pháp phòng hộ (paṭikacceva, “làm trước”).

6. Những quan sát văn bản

Đọc kỹ Tạng Luật, người học sẽ gặp một số điểm cần lưu ý. Đây là quan sát dựa trên văn bản, không phải kết luận lịch sử.

Nhiều kính pháp trùng với giới Pācittiya của tỳ-kheo-ni

Brahmali chú thích các đối chiếu: kính pháp 2 tương ứng giới Pācittiya 56 của tỳ-kheo-ni, kính pháp 3 với Pācittiya 59, kính pháp 4 với Pācittiya 57, kính pháp 6 với Pācittiya 64 (và 67, 73), kính pháp 7 với Pācittiya 52. Các giới này có câu chuyện chế giới riêng. Chẳng hạn Pācittiya 56 kể các vị ni an cư ở trú xứ làng không có tỳ-kheo, về Sāvatthī nói “ở đó không có tỳ-kheo, làm sao có giáo giới” (Bi Pc 56:1.2–1.7).

Trọng pháp trong kính pháp thứ năm

Chữ garudhamma trong kính pháp thứ năm (“tỳ-kheo-ni phạm trọng pháp”) không có nghĩa là vi phạm tám kính pháp. Brahmali ghi chú rằng ở đây garudhamma chỉ các tội Saṅghādisesa (Kd 20:1.4.13, chú thích).

Thỉnh cầu về lễ theo tuổi hạ

Về sau, bà Mahāpajāpatī nhờ Ānanda xin Đức Phật cho tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni lễ nhau theo tuổi hạ. Văn bản ghi Đức Phật từ chối, viện dẫn rằng ngay các giáo phái khác cũng không làm vậy, và chế định tỳ-kheo không được đảnh lễ người nữ (Kd 20:3.1.3–3.1.15).

7. Các cách hiểu

Văn bản cho phép nhiều cách đọc, và người học nên biết chúng là cách đọc:

  • Cách đọc truyền thống: tám kính pháp là điều kiện do chính Đức Phật đặt ra, là “bờ đê” bảo vệ Phạm hạnh, như văn bản nói ở Kd 20:1.6.13–14.
  • Cách đọc nhấn mạnh khả năng giải thoát: trước khi đặt điều kiện, Đức Phật xác nhận người nữ có thể chứng cả bốn quả (Kd 20:1.3.16). Giới hạn ở đây là về tổ chức, không phải về khả năng tâm linh.
  • Cách đọc văn bản học: những người nghiên cứu lịch sử văn bản chú ý đến các điểm ở mục 6, chẳng hạn kính pháp 6 nói đến thức-xoa-ma-na và “hai Tăng” ngay ở thời điểm Ni đoàn mới thành lập. Brahmali dẫn công trình “Bhikkhuni Vinaya Studies” của Bhikkhu Sujato khi giải nghĩa chữ vacanapatha trong kính pháp thứ tám.

Bài viết không đưa ra phán quyết giữa các cách đọc; mục đích là để người học thấy chính xác văn bản nói gì.

Năm từ Pāli cần nhớ

PāliNghĩaVị trí
garudhammakính pháp, trọng phápKd 20:1.4.1
anatikkamanīyakhông được vi phạmđiệp khúc mỗi pháp
ubhatosaṅghahai TăngKd 20:1.4.10, 1.4.15
sikkhamānāthức-xoa-ma-naKd 20:1.4.15
vacanapathalời khuyên dạy, chỉnh sửaKd 20:1.4.19

Một điểm dễ hiểu sai

Nhiều người nghĩ tám kính pháp phủ nhận khả năng giác ngộ của người nữ. Văn bản nói ngược lại: chính câu trả lời “có khả năng chứng quả A-la-hán” (Kd 20:1.3.16) là bước ngoặt dẫn đến việc thành lập Ni đoàn. Tám kính pháp thuộc về tổ chức và nghi lễ giữa hai Tăng.

Ứng dụng trong đời sống

  • Khi đọc một đoạn kinh luật gây tranh luận, hãy tách ba lớp: kinh văn, chú thích của dịch giả và chú giải, cách hiểu của người đọc.
  • Câu chuyện bà Mahāpajāpatī đi bộ đến Vesālī là tấm gương về quyết tâm tìm đạo, dù kết luận của người đọc về tám kính pháp là gì.
  • Ví dụ vòng hoa nhắc rằng cách ta đón nhận một điều kiện cũng là một phần của sự tu tập.

Ba câu hỏi ôn tập

  1. Câu hỏi nào của Ānanda dẫn đến tám kính pháp? Người nữ xuất gia có thể chứng bốn quả không (Kd 20:1.3.15–16).
  2. Bà Mahāpajāpatī thọ đại giới vào lúc nào? Ngay khi nhận tám kính pháp (Kd 20:2.2.15).
  3. Ví dụ nào cho thấy tám kính pháp được đặt ra như biện pháp phòng hộ? Người đắp bờ cho hồ nước lớn (Kd 20:1.6.13–14).

Câu hỏi thường gặp

Tám kính pháp có nằm trong 311 giới của tỳ-kheo-ni không?

Tám kính pháp ở Kd 20, không phải một nhóm giới riêng trong Bhikkhunīvibhaṅga. Tuy vậy, như mục 6 cho thấy, nhiều kính pháp có giới Pācittiya tương ứng.

Có bản kinh nào khác kể chuyện này không?

Có. Kinh Gotamī (AN 8.51) trong Tăng Chi Bộ kể cùng câu chuyện.

“Năm trăm năm” nên hiểu thế nào?

Văn bản ghi con số ấy (Kd 20:1.6.6). Cách hiểu của chú giải và của các nhà nghiên cứu nằm ngoài phạm vi bài này; người đọc nên phân biệt con số trong văn bản với những suy luận về sau.

Một câu ghi nhớ

Trước khi nói đến tám kính pháp, Đức Phật đã xác nhận: người nữ có khả năng chứng quả A-la-hán.

Đọc thêm: Mahāpajāpatī Gotamī và sự thành lập Ni đoàn, Bhikkhunīvibhaṅga – giới thiệu và bối cảnh, 311 giới tỳ-kheo-ni theo chú giải, Tương Ưng Tỳ-kheo-ni (SN 5) và Paṭācārā trong Therīgāthā.

Nguồn tham khảo

  1. Bhikkhunikkhandhaka (Kd 20), Pāli và bản dịch Anh của Bhikkhu Brahmali, SuttaCentral: https://suttacentral.net/pli-tv-kd20
  2. Bhikkhunī Pācittiya 52, 56, 57, 59, 64, SuttaCentral: pli-tv-bi-vb-pc56 (và các giới liên quan)
  3. Gotamī Sutta (AN 8.51), SuttaCentral: https://suttacentral.net/an8.51
  4. Tỳ-khưu Indacanda (dịch), Tạng Luật – Tiểu Phẩm, chương X Tỳ Khưu Ni: budsas.net