Bốn Loại Kālika: Thời Hạn Thọ Dụng Thức Ăn, Nước Uống Và Thuốc Trong Tạng Luật

Bốn loại kālika là cách Tạng Luật Pāli chia mọi thứ tỳ-kheo ăn uống theo thời hạn được phép dùng: yāvakālika (thức ăn, chỉ dùng đến giữa trưa), yāmakālika (các loại nước trái cây, dùng đến hết đêm), sattāhakālika (năm dược phẩm bơ lỏng, bơ tươi, dầu, mật ong, đường mía, giữ tối đa bảy ngày) và yāvajīvika (dược liệu, giữ suốt đời, dùng khi có lý do). Bốn tên gọi này xuất hiện ngay trong Kinh Phân Tích Giới (Pc 38) và trong chương Dược Phẩm (Kd 6:40.2–3).

Bài viết đi từ văn bản Luật đến định nghĩa của chú giải Samantapāsādikā. Bốn loại kālika trả lời một câu hỏi đời thường: người sống nhờ khất thực, ăn trước ngọ, thì khi bệnh, khi khát, được dùng gì và giữ bao lâu?

1. Hồ sơ chủ đề

  • Vị trí chính: Bhesajjakkhandhaka, chương 6 của Mahāvagga (Kd 6), Tạng Luật Pāli
  • Các giới liên quan: Pācittiya 37 (ăn phi thời), Pācittiya 38 (ăn đồ tích trữ), Nissaggiya Pācittiya 23 (giữ dược phẩm quá bảy ngày)
  • Thuật ngữ: kālika (thuộc về thời gian), kāla (đúng thời), vikāla (phi thời), yāma (canh, phần đêm)
  • Nguồn giải thích: Samantapāsādikā, phần chú giải giới Sannidhikāraka (Pc 38) và Catumahāpadesakathā (Kd 6)
  • Chủ đề: thời hạn thọ dụng, tích trữ, thuốc men và tinh thần không cất giữ

2. Bối cảnh: bệnh mùa thu và năm loại dược phẩm

Chương Dược Phẩm mở đầu tại Sāvatthī. Chư tỳ-kheo bị bệnh mùa thu, ăn gì cũng nôn ra, thân gầy gò xanh xao (Kd 6:1.1.2–3). Đức Phật nghĩ đến những thứ vừa là thuốc, vừa nuôi dưỡng, mà không bị xem là thức ăn thô:

“imāni kho pañca bhesajjāni, seyyathidaṃ — sappi, navanītaṃ, telaṃ, madhu, phāṇitaṃ; bhesajjāni ceva bhesajjasammatāni ca lokassa, āhāratthañca pharanti, na ca oḷāriko āhāro paññāyati.” (Kd 6:1.2.6–8)

“Có năm loại dược phẩm này, đó là bơ lỏng, bơ tươi, dầu, mật ong, đường mía; chúng là thuốc và được đời xem là thuốc, chúng có tác dụng nuôi dưỡng, nhưng không được xem là thức ăn thô.”

Ban đầu Ngài chỉ cho dùng năm thứ ấy trước ngọ (Kd 6:1.3.11). Các vị bệnh vẫn kiệt sức, nên Ngài cho phép dùng “cả trong thời lẫn phi thời” (Kd 6:1.5.5). Đây là hạt mầm của loại sattāhakālika.

3. Bốn loại kālika là gì?

Tên gọi bốn loại xuất hiện trong phần “không phạm” của giới Pācittiya 38 về ăn đồ tích trữ. Văn bản liệt kê:

“Anāpatti — yāvakālikaṃ yāvakāle nidahitvā bhuñjati, yāmakālikaṃ yāme nidahitvā bhuñjati, sattāhakālikaṃ sattāhaṃ nidahitvā bhuñjati, yāvajīvikaṃ sati paccaye paribhuñjati.” (Pc 38, phần không phạm, đoạn 2.3.1–5)

“Không phạm: cất giữ và ăn vật dùng đến hết ngọ trong thời hạn ấy; cất giữ và dùng vật dùng đến hết đêm trong đêm ấy; cất giữ và dùng vật dùng bảy ngày trong bảy ngày; dùng vật dùng suốt đời khi có lý do.”

Lần lượt từng loại như sau.

Yāvakālika – vật dùng đến hết ngọ

Đây là thức ăn thông thường. Pācittiya 37 định nghĩa “thức ăn mềm” (bhojanīya) là năm loại: cơm, cháo đặc (kummāsa), bột rang, cá, thịt; còn “thức ăn cứng” (khādanīya) là mọi thứ khác, trừ năm loại thức ăn mềm và ba loại kālika còn lại (Pc 37, đoạn 2.1.7–10). Cũng giới ấy định nghĩa phi thời (vikāla) là “từ khi quá giữa trưa cho đến lúc rạng đông” (Pc 37, đoạn 2.1.5–6). Vậy yāvakālika được thọ nhận buổi sáng và phải dùng xong trước giữa trưa.

Yāmakālika – vật dùng đến hết đêm

Tạng Luật kể đạo sĩ bện tóc Keṇiya mang nhiều nước uống đến dâng; chư tỳ-kheo e ngại không nhận, Đức Phật bảo nhận và dùng (Kd 6:35.3.8–9). Sau đó Ngài cho phép tám loại nước uống:

“anujānāmi, bhikkhave, aṭṭha pānāni — ambapānaṃ jambupānaṃ cocapānaṃ mocapānaṃ madhūkapānaṃ muddikapānaṃ sālūkapānaṃ phārusakapānaṃ.” (Kd 6:35.6.2–3)

“Này các tỳ-kheo, Ta cho phép tám loại nước uống: nước xoài, nước mận jambu, nước chuối có hạt, nước chuối không hạt, nước madhūka, nước nho, nước ngó sen, nước trái phārusaka.”

Ngài cũng cho phép nước ép của mọi loại trái cây trừ ngũ cốc, của mọi loại lá trừ rau nấu ăn, của mọi loại hoa trừ hoa madhūka, và nước mía (Kd 6:35.6.4–7). Chú giải giải thích chữ yāmakālika: tám loại nước cùng các loại nước tương tự được dùng “cho đến canh cuối của đêm”, nên gọi là có thời hạn là một canh (yāmo kālo assāti yāmakālikaṃ).

Sattāhakālika – vật dùng bảy ngày

Đó chính là năm dược phẩm của Kd 6:1. Thời hạn bảy ngày được ấn định bằng giới Nissaggiya Pācittiya 23:

“Yāni kho pana tāni gilānānaṃ bhikkhūnaṃ paṭisāyanīyāni bhesajjāni, seyyathidaṃ — sappi navanītaṃ telaṃ madhu phāṇitaṃ, tāni paṭiggahetvā sattāhaparamaṃ sannidhikārakaṃ paribhuñjitabbāni.” (NP 23, đoạn 1.3.32.1)

“Những dược phẩm được phép dùng cho tỳ-kheo bệnh, tức là bơ lỏng, bơ tươi, dầu, mật ong, đường mía, sau khi thọ nhận, có thể cất giữ và dùng tối đa bảy ngày.”

Quá bảy ngày, vật ấy phải xả bỏ và vị tỳ-kheo phải sám hối (NP 23, đoạn 2.24.1). Phần không phạm nêu các trường hợp như trong bảy ngày đã chú nguyện dùng, đã cho đi, bị mất, bị hư, bị cháy, bị lấy mất (NP 23, đoạn 2.40).

Yāvajīvika – vật dùng suốt đời

Kd 6:3 cho phép các dược liệu là rễ: nghệ, gừng, xương bồ, xương bồ trắng, ativisa, kaṭukarohiṇī, hương bài, cỏ gấu, và các loại rễ làm thuốc khác không dùng làm thức ăn. Văn bản nói rõ:

“paṭiggahetvā yāvajīvaṃ pariharituṃ; sati paccaye paribhuñjituṃ. Asati paccaye paribhuñjantassa āpatti dukkaṭassā.” (Kd 6:3.1.5–7)

“Sau khi thọ nhận, được giữ suốt đời; được dùng khi có lý do. Dùng khi không có lý do thì phạm tác ác.”

Kd 6:4–8 áp dụng cùng công thức cho thuốc vị đắng, lá, trái, nhựa cây và muối làm thuốc.

4. Chú giải định nghĩa bốn loại thế nào?

Khi giải thích phần không phạm của Pc 38, Samantapāsādikā cho bốn định nghĩa gọn, dựa vào chính tên gọi:

“Saddhiṃ anulomapānehi aṭṭhavidhaṃ pānaṃ yāva rattiyā pacchimayāmasaṅkhāto yāmo, tāva paribhuñjitabbato yāmo kālo assāti yāmakālikaṃ. Sappiādi pañcavidhaṃ bhesajjaṃ sattāhaṃ nidhetabbato sattāho kālo assāti sattāhakālikaṃ.” (Samantapāsādikā, chú giải Pc 38, đoạn VRI 256)

“Tám loại nước cùng các loại nước tương tự, vì được dùng cho đến canh gọi là canh cuối của đêm, nên có thời hạn là canh, gọi là yāmakālika. Năm loại dược phẩm bắt đầu từ bơ lỏng, vì được cất giữ bảy ngày, nên có thời hạn là bảy ngày, gọi là sattāhakālika.”

Chú giải nói thêm rằng yāvakālika được gọi như vậy vì được ăn “cho đến thời gọi là giữa trưa”, còn yāvajīvika là mọi thứ “trừ nước lã”, được giữ suốt đời và dùng khi có lý do. Khi giải thích giới Pc 35, chú giải nói “có lý do” nghĩa là: với yāmakālika là khi khát; với sattāhakālika và yāvajīvika là khi có bệnh mà vật ấy chữa được.

5. Khi trộn lẫn hai loại thì sao?

Ở cuối chương Dược Phẩm, chư tỳ-kheo hỏi: nếu vật dùng đến hết đêm trộn với thức ăn thì có được phép không, và hỏi đủ sáu cặp kết hợp (Kd 6:40.2.2–7). Đức Phật trả lời theo một quy tắc nhất quán: hỗn hợp mang thời hạn của thành phần ngắn hơn.

  • Trộn với yāvakālika: chỉ dùng được trước ngọ của ngày thọ nhận (Kd 6:40.3.1–3).
  • Trộn với yāmakālika: dùng được trong đêm của ngày thọ nhận, không qua rạng đông (Kd 6:40.3.4–5).
  • Dược liệu suốt đời trộn với dược phẩm bảy ngày: dùng được bảy ngày (Kd 6:40.3.6).

Brahmali ghi chú ở Kd 6:40.3.4 rằng ngày kết thúc vào lúc rạng đông. Samantapāsādikā diễn đạt quy tắc này bằng hình ảnh: loại có thời hạn ngắn hơn “đưa” loại kia về bản chất của mình (attano sabhāvaṃ upaneti). Chú giải cũng phân biệt: nếu hai thứ chỉ đặt cạnh nhau mà không hòa vị, như một cục bơ đặt trên cơm sữa nguội, thì có thể tách phần bơ chưa lẫn ra và dùng theo thời hạn riêng của nó.

Năm từ Pāli cần nhớ

PāliNghĩaGhi chú
kālikathuộc về thời hạntên chung cho bốn nhóm
vikālaphi thờitừ quá trưa đến rạng đông (Pc 37)
pānanước uốngtám loại trong Kd 6:35.6
bhesajjadược phẩmBrahmali dịch là “tonics”
sannidhisự tích trữnhận hôm nay, ăn hôm sau (Pc 38)

Một điểm dễ hiểu sai

Nhiều người nghĩ rằng sau ngọ tỳ-kheo “được uống gì cũng được miễn là chất lỏng”. Văn bản không nói vậy. Sữa, cháo loãng hay nước ép ngũ cốc không nằm trong tám loại nước; chính Kd 6:35.6.4 loại trừ nước ép từ ngũ cốc. Ngược lại, yāmakālika và hai loại sau cũng không phải là “bữa ăn phụ”: Pc 37 nói nếu thọ nhận chúng với mục đích làm thức ăn thì phạm tác ác (Pc 37, đoạn 2.2.4). Tiêu chí không phải là đặc hay lỏng, mà là loại vật gì và dùng vì lý do gì.

Ứng dụng trong đời sống

  • Người cư sĩ muốn dâng vật dụng buổi chiều cho chư tăng nên chọn đúng nhóm: nước trái cây lọc trong, hoặc mật ong, đường, bơ, dầu như dược phẩm; tránh thức ăn.
  • Khi dâng mật ong hay đường cho một vị tỳ-kheo, nên biết vị ấy chỉ giữ được bảy ngày; dâng vừa đủ dùng tốt hơn dâng thật nhiều.
  • Tinh thần chung là không tích trữ: mỗi loại có một hạn dùng, quá hạn thì buông.

Ba câu hỏi ôn tập

  1. Năm dược phẩm sattāhakālika là gì? Bơ lỏng, bơ tươi, dầu, mật ong, đường mía (Kd 6:1.2.7; NP 23, đoạn 1.3.32.1).
  2. Phi thời được định nghĩa thế nào? Từ khi quá giữa trưa cho đến lúc rạng đông (Pc 37, đoạn 2.1.6).
  3. Dược liệu suốt đời trộn với dược phẩm bảy ngày dùng được bao lâu? Bảy ngày (Kd 6:40.3.6).

Câu hỏi thường gặp

Tại sao gọi là “kālika”?

Vì mỗi nhóm được xác định bằng một thời hạn (kāla): đến giữa trưa, đến hết đêm, bảy ngày, hoặc suốt đời. Chú giải giải thích từng tên theo đúng thời hạn ấy.

Trà, cà phê thuộc loại nào?

Tạng Luật không nhắc đến trà hay cà phê. Việc xếp chúng vào loại nào là phán đoán của các truyền thống về sau, thường dựa trên bốn nguyên tắc mahāpadesa ở Kd 6:40.1. Bài này không khẳng định một kết luận cụ thể.

Thuốc tây hiện đại có phải là yāvajīvika không?

Kinh văn chỉ liệt kê dược liệu thời bấy giờ. Theo chú giải, mọi thứ trừ nước lã và ba nhóm kia đều thuộc yāvajīvika, nhưng việc áp dụng cho từng loại thuốc cụ thể cần hỏi các vị thầy giới luật.

Một câu ghi nhớ

Mỗi thứ có thời hạn của nó: thức ăn đến ngọ, nước uống đến hết đêm, dược phẩm bảy ngày, dược liệu suốt đời khi cần; quá hạn thì buông, đó là tinh thần không tích trữ.

Muốn đọc thêm, xem bài tổng quan Bhesajjakkhandhaka – quy định về thuốc men, bài Tứ sự cúng dường, bài 30 giới xả đọa, bài 92 giới Pācittiya và bài Cīvarakkhandhaka – ba y.

Nguồn tham khảo

  1. Bhesajjakkhandhaka (Kd 6), Pāli và bản dịch Anh của Bhikkhu Brahmali, SuttaCentral: https://suttacentral.net/pli-tv-kd6
  2. Pācittiya 37 và 38, SuttaCentral: pli-tv-bu-vb-pc37, pli-tv-bu-vb-pc38
  3. Nissaggiya Pācittiya 23, SuttaCentral: pli-tv-bu-vb-np23
  4. Samantapāsādikā, Pācittiya-aṭṭhakathā (giới Sannidhikāraka) và Mahāvagga-aṭṭhakathā (Bhesajjakkhandhaka), bản Chaṭṭha Saṅgāyana của VRI.
  5. Tỳ-khưu Indacanda (dịch), Tạng Luật – Đại Phẩm, chương VI Dược Phẩm: budsas.net