Tathāgata: Tám Cách Giải Nghĩa Danh Hiệu Như Lai Trong Chú Giải

Tathāgata (Như Lai) là danh hiệu Đức Phật thường dùng khi tự xưng trong kinh. Vậy tathāgata nghĩa là gì? Từ này có thể tách thành tathā + āgata (“đã đến như vậy”) hoặc tathā + gata (“đã đi như vậy”), và chính sự mở ngỏ ấy khiến các nhà chú giải đưa ra nhiều cách giải cùng lúc.

Bài viết đọc trực tiếp đoạn giải danh hiệu Tathāgata trong Sumaṅgalavilāsinī, chú giải Trường Bộ (phần Cūḷasīlavaṇṇanā, giải đoạn 7 của Kinh Phạm Võng, DN 1), rồi đối chiếu với Kinh Loka (AN 4.23) và Kinh Tatha (SN 56.20).

1. Danh hiệu và bối cảnh

Trong Kinh Phạm Võng, Đức Phật nói phàm phu khi khen Như Lai thường chỉ khen những điều nhỏ, “chỉ là giới”. Chú giải dừng lại ở chữ tathāgatassa (của Như Lai) và mở một đoạn giải nghĩa dài, sau này được chép lại gần như nguyên vẹn ở chú giải Trung Bộ, chú giải Tăng Chi, chú giải Udāna, chú giải Itivuttaka và nhiều chỗ khác. Câu mở đầu liệt kê tám lý do:

“Tathāgatassāti aṭṭhahi kāraṇehi bhagavā tathāgato. Tathā āgatoti tathāgato, tathā gatoti tathāgato, tathalakkhaṇaṃ āgatoti tathāgato, tathadhamme yāthāvato abhisambuddhoti tathāgato, tathadassitāya tathāgato, tathavāditāya tathāgato, tathākāritāya tathāgato, abhibhavanaṭṭhena tathāgatoti.” (Sumaṅgalavilāsinī, Cūḷasīlavaṇṇanā)

“Của Như Lai: vì tám lý do mà Đức Thế Tôn là Tathāgata. Vì đã đến như vậy; vì đã đi như vậy; vì đã đến được đặc tính chân thật; vì đã giác ngộ đúng như thật các pháp chân thật; vì thấy chân thật; vì nói chân thật; vì làm đúng như nói; vì nghĩa chế ngự.”

Đây là lời chú giải, không phải lời kinh, nhưng năm trong tám cách giải dựa thẳng vào Kinh Loka và Kinh Tatha.

2. Tám cách giải từng bước

(1) Tathā āgato – đã đến như chư Phật quá khứ

Nghĩa thứ nhất đọc āgata là “đã đến”. Đức Phật Gotama đến với quả vị Phật bằng đúng con đường mà các Đức Phật quá khứ đã đi:

“Yena abhinīhārena ete bhagavanto āgatā, teneva amhākampi bhagavā āgato.” (Sumaṅgalavilāsinī, Cūḷasīlavaṇṇanā)

“Các Đức Thế Tôn ấy đã đến bằng sự phát nguyện nào, thì Đức Thế Tôn của chúng ta cũng đến bằng chính sự phát nguyện ấy.”

Chú giải nêu cụ thể: ba mươi pháp ba-la-mật, năm sự xả thí lớn và ba mươi bảy pháp trợ đạo.

(2) Tathā gato – đã đi như vậy

Nghĩa thứ hai đọc gata là “đã đi”. Chú giải dẫn cảnh Bồ-tát vừa đản sinh đứng bằng hai chân, hướng về phương bắc bước bảy bước, rồi xem mỗi chi tiết là điềm báo trước (pubbanimitta) của một thành tựu về sau:

“Uttarābhimukhabhāvo pana sabbalokuttarabhāvassa pubbanimittaṃ.” (Sumaṅgalavilāsinī, Cūḷasīlavaṇṇanā)

“Việc hướng mặt về phương bắc là điềm báo trước cho việc vượt lên trên tất cả thế gian.”

Bảy bước báo trước bảy giác chi, lọng trắng báo trước giải thoát A-la-hán; vì mọi điềm đều ứng nghiệm nên “cái đi ấy là chân thật”. Cách hiểu thứ hai: Ngài “đã đi” qua việc đoạn triền cái, vượt các tầng thiền và đoạn tận phiền não bằng bốn đạo.

(3) Tathalakkhaṇaṃ āgato – đã đến được đặc tính chân thật

Mỗi pháp có một đặc tính (lakkhaṇa) không sai lệch. Chú giải kể một danh sách rất dài, mở đầu bằng bốn đại:

“Pathavīdhātuyā kakkhaḷattalakkhaṇaṃ tathaṃ avitathaṃ.” (Sumaṅgalavilāsinī, Cūḷasīlavaṇṇanā)

“Đặc tính cứng của địa đại là chân thật, không sai khác.”

Danh sách đi qua năm uẩn, thiền chi, các pháp trợ đạo, mười hai chi duyên khởi, và kết ở Niết-bàn. Chú giải kết luận: Ngài đã đến được các đặc tính ấy “bằng sự đi của trí tuệ, không sai trật” (ñāṇagatiyā āgato avirajjhitvā). Ở nghĩa này, tatha là tính từ “chân thật”, không còn là trạng từ “như vậy”.

(4) Tathadhamme abhisambuddho – đã giác ngộ các pháp chân thật

“Tathadhammā nāma cattāri ariyasaccāni.” (Sumaṅgalavilāsinī, Cūḷasīlavaṇṇanā)

“Các pháp chân thật chính là bốn sự thật cao quý.”

Ở đây chú giải dẫn đúng lời Kinh Tatha:

“Cattārimāni, bhikkhave, tathāni avitathāni anaññathāni.” (SN 56.20)

“Này các tỳ-kheo, có bốn điều này là chân thật, không sai, không khác.”

Chú giải thêm một ghi chú ngữ pháp quan trọng: “Abhisambuddhattho hettha gatasaddo”, tức ở đây chữ gata mang nghĩa “đã giác ngộ”. Các động từ chỉ sự đi trong Pāli thường được hiểu là “biết, hiểu”.

(5) Tathadassitā – vì thấy chân thật

Mọi đối tượng đến với chúng sinh trong vô lượng thế giới, Đức Phật đều biết, thấy đúng như vậy. Chú giải dẫn Kinh Kāḷakārāma (AN 4.24): “cái gì được thấy, nghe, cảm, biết… Ta đều biết”, cùng ý với đoạn 2 Kinh Loka. Ở nghĩa này, chú giải viết “Tattha tathadassī atthe tathāgatoti padasambhavo veditabbo”: chữ Tathāgata được hình thành theo nghĩa “người thấy chân thật” (tathadassī).

(6) Tathavāditā – vì nói chân thật

Từ đêm thành đạo dưới cội Bồ-đề đến đêm nhập Niết-bàn giữa hai cây sāla, suốt bốn mươi lăm năm, mọi lời Đức Phật nói đều không thừa, không thiếu. Kinh Loka nói:

“Yañca, bhikkhave, rattiṃ tathāgato anuttaraṃ sammāsambodhiṃ abhisambujjhati yañca rattiṃ anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbāyati, yaṃ etasmiṃ antare bhāsati lapati niddisati sabbaṃ taṃ tatheva hoti, no aññathā.” (AN 4.23)

“Này các tỳ-kheo, từ đêm Như Lai giác ngộ Vô thượng Chánh đẳng giác cho đến đêm Như Lai nhập Niết-bàn vô dư y, những gì Như Lai nói, giảng, chỉ dạy trong khoảng ấy, tất cả đều đúng như vậy, không khác.”

Chú giải ví lời Phật “như được đóng cùng một con dấu”. Về ngữ pháp, chú giải ghi gata ở đây mang nghĩa gada (nói), rồi đề xuất thêm một cách tách: “Api ca āgadanaṃ āgado, vacananti attho”, nghĩa là āgada = lời nói; người có lời nói chân thật là tatha-āgada, và âm d đổi thành t.

(7) Tathākāritā – vì làm đúng như nói

“Yathāvādī, bhikkhave, tathāgato tathākārī, yathākārī tathāvādī.” (AN 4.23)

“Này các tỳ-kheo, Như Lai nói thế nào thì làm thế ấy, làm thế nào thì nói thế ấy.”

Chú giải giải thích: thân thuận theo lời, lời thuận theo thân; lời “đi” thế nào thì thân “đi” thế ấy.

(8) Abhibhavana – vì nghĩa chế ngự

Từ cõi cao nhất đến địa ngục Avīci, không ai sánh bằng Đức Phật về giới, định, tuệ, giải thoát. Kinh Loka nói Như Lai là abhibhū anabhibhūto, “bậc chế ngự, không bị chế ngự”. Để giải thích về mặt chữ, chú giải lại đưa ra một cách tách thú vị:

“Agado viya agado.” (Sumaṅgalavilāsinī, Cūḷasīlavaṇṇanā)

“Agada (thuốc giải độc) là cái giống như thuốc giải độc.”

Thuốc ấy là tài thuyết pháp và khối phước báu, nhờ đó Ngài chế ngự mọi luận thuyết đối nghịch “như lương y dùng thuốc trời chế ngự rắn”. Người có thuốc giải chân thật là tatha-agada, và một lần nữa d được đổi thành t.

3. Bảng tóm tắt tám nghĩa

Cách giảiCách tách từChỗ dựa kinh văn
1. Đã đến như vậytathā + āgatatruyền thống chư Phật quá khứ
2. Đã đi như vậytathā + gatabảy bước khi đản sinh (DN 14)
3. Đến đặc tính chân thậttatha-lakkhaṇa + āgataphân tích Abhidhamma
4. Giác ngộ pháp chân thậtgata = giác ngộSN 56.20
5. Thấy chân thậttathadassīAN 4.24; AN 4.23, đoạn 2
6. Nói chân thậttatha + āgada (d → t)AN 4.23, đoạn 3
7. Làm đúng như nóithân “đi” theo lờiAN 4.23, đoạn 4
8. Chế ngựtatha + agada (d → t)AN 4.23, đoạn 5

4. Phân tích: vì sao lại có nhiều nghĩa?

Giải nhiều nghĩa cùng lúc là phương pháp quen thuộc của chú giải Pāli: các nghĩa bổ sung cho nhau chứ không loại trừ nhau. Sau tám nghĩa, chú giải còn thêm hai cách tách nữa, tathāya gato và tathaṃ gato, gắn với bốn câu đầu Kinh Loka: Ngài đã biết thế gian, đã vượt nguồn gốc thế gian, đã chứng sự diệt của thế gian, đã thực hành con đường đưa đến sự diệt ấy. Rồi chú giải tự khiêm:

“Sabbākārena pana tathāgatova tathāgatassa tathāgatabhāvaṃ vaṇṇeyya.” (Sumaṅgalavilāsinī, Cūḷasīlavaṇṇanā)

“Chỉ có Như Lai mới có thể tán dương đầy đủ mọi phương diện về tính Như Lai của Như Lai.”

Có thể chia tám nghĩa thành hai nhóm: nhóm đọc theo âm (đến, đi, đổi d thành t) mang tính từ nguyên truyền thống; nhóm đọc theo nội dung (chân thật trong biết, thấy, nói, làm) gần lời kinh hơn, vì Kinh Loka bốn lần kết bằng câu “vì vậy được gọi là Tathāgata”. Các phép đổi âm d → t là cách giải của chú giải, không phải điều kinh văn nói; người học nên xem đó là phương pháp chú giải hơn là ngữ nguyên học theo nghĩa hiện đại. Bản dịch Anh của Bhikkhu Sujato chọn “Realized One”, nghiêng về nghĩa 4.

Năm từ Pāli cần nhớ

Từ PāliNghĩaTrong bài
tathānhư vậy (trạng từ)nghĩa 1, 2
tathachân thật (tính từ)nghĩa 3–8
avitathakhông sai, không hư dốiSN 56.20
abhisambuddhađã giác ngộ trọn vẹnAN 4.23, nghĩa 4
abhibhūbậc chế ngựnghĩa 8

Một điểm dễ hiểu sai

Không phải chỗ nào có chữ tathāgata cũng chỉ Đức Phật. Trong các câu hỏi không được trả lời (avyākata) như “Như Lai sau khi chết có tồn tại không?”, chú giải thường hiểu từ này theo nghĩa “chúng sinh”. Chẳng hạn, chú giải Kinh Pāsādika (DN 29) ghi gọn: “Tattha tathāgatoti satto.” (“Ở đây, tathāgata nghĩa là chúng sinh.”) Đọc tám nghĩa vào những câu hỏi ấy sẽ dẫn đến hiểu lầm câu hỏi đang hỏi gì.

Ứng dụng trong đời sống

Ba câu hỏi ôn tập

  1. Theo chú giải, ở nghĩa thứ tư, chữ gata mang nghĩa gì?
  2. Bốn nghĩa nào dựa trực tiếp vào Kinh Loka (AN 4.23)?
  3. Trong câu hỏi “Như Lai sau khi chết…”, chú giải DN 29 hiểu tathāgata là gì?

Đáp án: (1) “Đã giác ngộ” (abhisambuddhattho). (2) Thấy chân thật, nói chân thật, làm như nói, chế ngự. (3) Chúng sinh (satta).

Câu hỏi thường gặp

Tathāgata có phải từ chỉ riêng Đức Phật Gotama?

Không. Theo nghĩa thứ nhất, mọi Đức Phật Chánh Đẳng Giác đều là Tathāgata. Trong kinh, đây cũng là cách Đức Phật tự xưng ở ngôi thứ ba.

Trong tám nghĩa, nghĩa nào “đúng” nhất?

Chú giải không xếp hạng. Xét theo kinh văn, các nghĩa “chân thật” (4–8) có điểm tựa rõ trong SN 56.20 và AN 4.23; hai nghĩa đầu dựa vào truyền thống về chư Phật và câu chuyện đản sinh.

Một câu ghi nhớ

“Như Lai nói thế nào thì làm thế ấy, làm thế nào thì nói thế ấy; vì vậy được gọi là Tathāgata.” (AN 4.23)

Nguồn tham khảo

  1. Sumaṅgalavilāsinī (chú giải Trường Bộ), bản VRI, phần Cūḷasīlavaṇṇanā: s0101a.att1.xml
  2. Kinh Loka (AN 4.23), Pāli và bản dịch Anh của Bhikkhu Sujato: SuttaCentral AN 4.23
  3. Kinh Tatha (SN 56.20): SuttaCentral SN 56.20
  4. Kinh Phạm Võng (DN 1), đoạn văn được giải thích: SuttaCentral DN 1
  5. Pāthika-vagga-aṭṭhakathā, giải Kinh Pāsādika (DN 29), đoạn 189, bản VRI (tệp s0103a.att)