Asibandhakaputta Sutta (SN 42.6): Cầu Nguyện Cho Người Chết Có Đưa Họ Lên Trời?

Những người đứng bên hồ nước sâu lặng, bảo tháp xa xa và hoa sen trên mặt nước – minh họa Kinh Asibandhakaputta SN 42.6 về cầu nguyện cho người chết

Có thể cầu nguyện để đưa người chết lên trời không? Trong Kinh Asibandhakaputta (SN 42.6), Đức Phật trả lời bằng hai ví dụ: tảng đá ném xuống hồ và bình dầu vỡ dưới nước. Bài viết đọc kỹ kinh và phân biệt với việc hồi hướng công đức.

Māra Saṃyutta (SN 4): Ma Vương Trong Kinh Điển Pāli Là Ai?

Bóng dáng Đức Phật ngồi an nhiên dưới cội cây bên sông Nerañjarā trong đêm, một bóng hình lớn đứng xa đe dọa, minh họa Tương Ưng Ma SN 4

Ma vương (Māra) trong kinh Pāli vừa là một nhân vật kể chuyện, kẻ cám dỗ và đe dọa Đức Phật, vừa là cách gọi cho chính năm uẩn bị chấp thủ. Tương Ưng Ma (SN 4) với 25 kinh cho thấy Māra luôn thất bại khi bị nhận diện.

Khemaka Sutta (SN 22.89): Mùi Hương Còn Vương Của Ngã Mạn “Tôi Là”

Hồ sen nở trong hoàng hôn trước tu viện Ghosita, một vị Tỳ-kheo chống gậy đến gặp các trưởng lão – Kinh Khemaka SN 22.89

Kinh Khemaka (SN 22.89): Tôn giả Khemaka đang bệnh nặng giải thích vì sao không thấy uẩn nào là tự ngã mà vẫn chưa phải A-la-hán: ngã mạn “tôi là” còn vương như mùi hương hoa sen, như mùi muối và nước tro trên tấm vải vừa giặt.

Kinh Rohitassa (SN 2.26): Tận Cùng Thế Giới Nằm Trong Tấm Thân Một Sải

Bóng dáng Đức Phật ngồi trước một thiên tử đứng giữa dãy núi trải dài về chân trời lúc hoàng hôn, minh họa Kinh Rohitassa SN 2.26

Thiên tử Rohitassa từng là một ẩn sĩ có thần thông, đi suốt trăm năm để tìm tận cùng thế giới mà không tới. Kinh Rohitassa (SN 2.26) cho biết Đức Phật chỉ ra thế giới, nguồn gốc, sự đoạn diệt và con đường ngay trong tấm thân một sải có tưởng và tâm này.

Citta Saṃyutta (SN 41): Gia Chủ Citta – Bậc Cư Sĩ Thuyết Pháp Đệ Nhất

Gia chủ Citta đứng giảng pháp trước các vị Trưởng lão ngồi trong rừng xoài Macchikāsaṇḍa – minh họa Tương Ưng Citta SN 41

Gia chủ Citta ở Macchikāsaṇḍa được Đức Phật tuyên bố là bậc thuyết pháp đệ nhất trong hàng cư sĩ. Tương Ưng Citta (SN 41) ghi lại mười kinh: ông giảng pháp cho các Trưởng lão, đối đáp với Nigaṇṭha Nātaputta, độ bạn cũ xuất gia và dặn dò lúc lâm chung.

Pheṇapiṇḍūpama Sutta (SN 22.95): Sắc Như Bọt Nước, Thọ Như Bong Bóng

Vị tu sĩ ngồi bên bờ sông Hằng quán đống bọt nước trôi trên dòng – Kinh Bọt Nước Pheṇapiṇḍūpama SN 22.95

Kinh Bọt Nước (SN 22.95) ví năm uẩn với năm hình ảnh: sắc như đống bọt trên sông Hằng, thọ như bong bóng nước mưa, tưởng như ảo ảnh nắng trưa, hành như thân cây chuối, thức như trò ảo thuật. Quán kỹ thì thấy trống rỗng, không có lõi.

Anamatagga Saṃyutta (SN 15): Luân Hồi Không Thể Biết Điểm Khởi Đầu

Một vị tu sĩ ngồi lặng trước núi đá sừng sững và biển rộng trong ánh trăng mờ, gợi luân hồi vô thỉ – Tương Ưng Vô Thỉ SN 15

Tương Ưng Vô Thỉ (SN 15) gồm 20 kinh với một điệp khúc: luân hồi không thể biết điểm khởi đầu. Nước mắt, sữa mẹ, máu đổ nhiều hơn nước bốn đại dương; xương một người trong một kiếp chất cao như núi Vepulla.

Kinh Vượt Bộc Lưu (Oghataraṇa Sutta, SN 1.1): Không Dừng Lại, Không Bơi Vội

Bóng dáng Đức Phật ngồi bên dòng nước lũ dưới trời sao, một vị trời đứng phát sáng, minh họa Kinh Vượt Bộc Lưu SN 1.1

Kinh Vượt Bộc Lưu (SN 1.1) là bài kinh mở đầu Tương Ưng Bộ: một vị trời hỏi Đức Phật đã vượt dòng nước lũ thế nào, và Ngài đáp rằng Ngài vượt qua “không dừng lại, không bơi tới”.

Nagara Sutta (SN 12.65): Con Đường Cổ Dẫn Đến Thành Phố Cổ

Lữ khách đi theo lối mòn cổ trong rừng và bắt gặp thành phố cổ với hồ sen, bảo tháp – ví dụ trong Kinh Thành Phố SN 12.65

Kinh Thành Ấp (SN 12.65) kể lại cách Bồ-tát quán duyên khởi trước khi giác ngộ, và ví con đường Bát Chánh Đạo như lối mòn cổ trong rừng dẫn đến một thành phố cổ mà chư Phật quá khứ đã từng đi.

Salla Sutta (SN 36.6): Mũi Tên Thứ Hai Và Nghệ Thuật Đón Nhận Đau Đớn

Một hành giả ngồi thiền tĩnh lặng bên hồ dưới ánh trăng và trời sao – minh họa Kinh Mũi Tên SN 36.6 về cách đón nhận đau đớn

Kinh Mũi Tên (SN 36.6) phân biệt người phàm và bậc Thánh đệ tử khi cùng gặp đau đớn: người phàm trúng hai mũi tên, thân và tâm; bậc Thánh đệ tử chỉ trúng một. Bài viết đi theo từng đoạn kinh, kèm ba tùy miên và bài kệ cuối.