Abhisamācārika sīla (giới thuộc phép hành xử, “thắng hạnh”) và ādibrahmacariyaka sīla (giới khởi đầu phạm hạnh) là hai lớp giới mà Kinh Tạng nhắc đến và Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) dùng để phân loại giới. Theo một cách hiểu của Visuddhimagga, lớp thứ nhất là các phận sự trong các chương Khandhaka, lớp thứ hai là các giới trong hai bộ Phân Tích Giới; và kinh văn khẳng định: không làm tròn lớp thứ nhất thì không thể làm tròn những gì cao hơn.
Hai thuật ngữ này nghe xa lạ, nhưng chúng trả lời một câu hỏi rất thực tế: những quy tắc nhỏ về cách đi đứng, ăn uống, dọn phòng có liên quan gì đến giải thoát? Bài viết đọc các nguồn có thật: AN 4.245, AN 5.21, Mahākhandhaka, Visuddhimagga chương I, và đối chiếu với câu chuyện “giới nhỏ nhặt” ở Kỳ Kết tập thứ nhất.
1. Hồ sơ chủ đề
- Nguồn kinh: Sikkhānisaṃsa Sutta (AN 4.245), Paṭhamaagārava Sutta (AN 5.21)
- Nguồn luận/chú giải: Visuddhimagga, chương I (Sīlaniddesa), phần phân loại giới hai loại
- Văn bản liên quan: Kd 1:36 (tiêu chuẩn vị thầy), Kd 21 về “giới nhỏ nhặt” (khuddānukhuddaka), DN 16:6.3.1, MN 149
- Thuật ngữ: ābhisamācārika, ādibrahmacariyaka (trong kinh: ādibrahmacariyikā sikkhā)
- Chủ đề: các tầng của giới, quan hệ giữa phép tắc nhỏ và con đường giải thoát
2. Hai loại học giới trong AN 4.245
Kinh Lợi Ích Của Học Tập (AN 4.245) mở đầu: “Phạm hạnh này được sống với học tập là lợi ích, trí tuệ là tối thượng, giải thoát là lõi, chánh niệm là chủ đạo”. Khi giải thích “học tập là lợi ích”, Đức Phật nói đến hai loại học giới:
“Idha, bhikkhave, mayā sāvakānaṃ ābhisamācārikā sikkhā paññattā appasannānaṃ pasādāya pasannānaṃ bhiyyobhāvāya.” (AN 4.245:1.3)
“Ở đây, này các tỳ-kheo, Ta chế định cho các đệ tử học giới thuộc phép hành xử, để người chưa tin phát sinh niềm tin, người đã tin thì tăng trưởng niềm tin.”
“Puna caparaṃ, bhikkhave, mayā sāvakānaṃ ādibrahmacariyikā sikkhā paññattā sabbaso sammā dukkhakkhayāya.” (AN 4.245:2.1)
“Lại nữa, này các tỳ-kheo, Ta chế định cho các đệ tử học giới khởi đầu phạm hạnh, để hoàn toàn chấm dứt khổ một cách chân chánh.”
Sự khác biệt về mục đích rất rõ: lớp thứ nhất hướng về niềm tin của người khác, lớp thứ hai hướng thẳng về sự chấm dứt khổ. Với cả hai, vị đệ tử giữ “không bể, không thủng, không vết, không đốm” (AN 4.245:1.4, 2.2). Phần “chánh niệm là chủ đạo” của kinh còn cho thấy vị ấy giữ niệm với ý nghĩ sẽ làm tròn học giới nào chưa tròn, và dùng trí tuệ hỗ trợ học giới đã tròn (AN 4.245:5.2–5.3).
Bản Việt của HT. Thích Minh Châu dịch ābhisamācārika là “thắng hạnh”; kinh này mang số (243) “Lợi ích Học Tập” trong bản Việt.
3. Chuỗi điều kiện trong AN 5.21
Kinh Không Cung Kính thứ nhất (AN 5.21) đặt phép hành xử ở đầu một chuỗi:
“So vata, bhikkhave, bhikkhu agāravo appatisso asabhāgavuttiko ‘sabrahmacārīsu ābhisamācārikaṃ dhammaṃ paripūressatī’ti netaṃ ṭhānaṃ vijjati. ‘Ābhisamācārikaṃ dhammaṃ aparipūretvā sekhaṃ dhammaṃ paripūressatī’ti netaṃ ṭhānaṃ vijjati.” (AN 5.21:1.1–1.2)
“Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo không cung kính, không tôn trọng, không sống hòa hợp với các vị đồng phạm hạnh mà làm tròn pháp thuộc phép hành xử, điều ấy không xảy ra. Không làm tròn pháp thuộc phép hành xử mà làm tròn pháp hữu học, điều ấy không xảy ra.”
Chuỗi tiếp tục: không tròn pháp hữu học thì không tròn giới; không tròn giới thì không tròn chánh kiến; không tròn chánh kiến thì không tròn chánh định (AN 5.21:1.3–1.5). Chiều thuận cũng được nói đầy đủ. Như vậy, theo kinh, phép hành xử với các vị đồng tu là nấc thang đầu tiên dẫn lên đến chánh định.
4. Visuddhimagga phân loại thế nào?
Trong chương I, khi trả lời câu hỏi “giới có mấy loại”, Visuddhimagga kể nhiều cặp hai, trong đó có cặp “ābhisamācārika và ādibrahmacariyaka”. Visuddhimagga đưa ra ba cách hiểu:
“Abhisamācāraṃ vā ārabbha paññattaṃ ābhisamācārikaṃ, ājīvaṭṭhamakato avasesasīlassetaṃ adhivacanaṃ. Maggabrahmacariyassa ādibhāvabhūtanti ādibrahmacariyakaṃ, ājīvaṭṭhamakasīlassetaṃ adhivacanaṃ.” (Visuddhimagga I, đoạn VRI 11)
“Điều được chế định liên quan đến phép hành xử tốt đẹp là ābhisamācārika; đây là tên gọi các giới còn lại ngoài nhóm giới có chánh mạng là thứ tám. Điều là khởi đầu của phạm hạnh tức con đường là ādibrahmacariyaka; đây là tên gọi nhóm giới có chánh mạng là thứ tám.”
Ba cách hiểu ấy là:
- Cách thứ nhất: ādibrahmacariyaka là nhóm tám giới gồm ba thân nghiệp, bốn khẩu nghiệp và chánh mạng; phần còn lại là ābhisamācārika. Visuddhimagga dẫn câu “thân nghiệp, khẩu nghiệp và sinh kế của vị ấy đã được thanh tịnh từ trước”, câu này có trong MN 149:10.6.
- Cách thứ hai: các giới được gọi là “nhỏ nhặt” (khuddānukhuddaka) là ābhisamācārika; phần còn lại là ādibrahmacariyaka.
- Cách thứ ba: giới thuộc hai bộ Phân Tích Giới (Ubhatovibhaṅga) là ādibrahmacariyaka; giới thuộc các phận sự trong Khandhaka là ābhisamācārika.
Visuddhimagga kết luận: “nhờ thành tựu lớp này mà ādibrahmacariyaka được thành tựu”, và dẫn AN 5.21 để chứng minh. Bản Việt của Thích Nữ Trí Hải gọi hai lớp là “giới thuộc chánh hạnh” và “giới khởi đầu đời phạm hạnh”.
5. Trong Tạng Luật: tiêu chuẩn của vị thầy
Hai thuật ngữ này cũng có mặt trong chính Tạng Luật. Mahākhandhaka (Kd 1) nêu các nhóm điều kiện để một vị tỳ-kheo được truyền đại giới, cho y chỉ và nhận sa-di. Một trong các nhóm ấy là năm khả năng:
“Paṭibalo hoti antevāsiṃ vā saddhivihāriṃ vā abhisamācārikāya sikkhāya sikkhāpetuṃ, ādibrahmacariyakāya sikkhāya vinetuṃ, abhidhamme vinetuṃ, abhivinaye vinetuṃ, uppannaṃ diṭṭhigataṃ dhammato vivecetuṃ.” (Kd 1:36.13.2)
“Vị ấy có khả năng huấn luyện học trò hay đệ tử trong học giới thuộc phép hành xử, dẫn dắt trong học giới khởi đầu phạm hạnh, dẫn dắt về Pháp, dẫn dắt về Luật, và dùng Pháp giúp đệ tử từ bỏ tà kiến đã khởi lên.”
Bhikkhu Brahmali dịch hai cụm đầu là “good conduct” và “the basics of the spiritual life”. Như vậy, dạy cả hai lớp học giới là trách nhiệm của vị thầy, ngay từ những ngày đầu của người xuất gia.
6. Một điểm về văn bản: Visuddhimagga trích AN 5.21 khác bản hiện hành
Khi dẫn AN 5.21, Visuddhimagga viết: “không làm tròn pháp ābhisamācārika mà làm tròn pháp ādibrahmacariyaka, điều ấy không xảy ra”. Nhưng trong bản AN 5.21 hiện hành, cả bản Mahāsaṅgīti trên SuttaCentral lẫn bản Chaṭṭha Saṅgāyana của VRI, chỗ ấy đọc là “pháp hữu học” (sekhaṃ dhammaṃ). Có thể Buddhaghosa dẫn theo ý, hoặc dùng một bản khác; bài viết chỉ ghi nhận sự khác biệt, không kết luận nguyên nhân.
Điều quan trọng là thuật ngữ ādibrahmacariyikā sikkhā thì có thật trong kinh, ở AN 4.245, như đã trích ở mục 2.
7. “Giới nhỏ nhặt” ở Kỳ Kết tập thứ nhất
Cách hiểu thứ hai của Visuddhimagga gợi đến một sự kiện nổi tiếng. Trong Kinh Đại Bát-niết-bàn, Đức Phật nói nếu muốn, sau khi Ngài diệt độ, Tăng có thể bỏ các học giới nhỏ nhặt (DN 16:6.3.1). Ở Kỳ Kết tập thứ nhất, Tôn giả Ānanda cho biết ngài đã không hỏi Đức Phật đó là những giới nào (Kd 21:1.9.5–6), và các trưởng lão đưa ra sáu ý kiến khác nhau, từ “tất cả trừ bốn pārājika” đến “tất cả trừ các nhóm từ pārājika đến pāṭidesanīya” (Kd 21:1.9.8–19).
Cuối cùng Tôn giả Mahākassapa đề nghị và Tăng chấp thuận: không chế thêm điều chưa chế, không bỏ điều đã chế, giữ học giới như đã được chế định (Kd 21:1.9.29, 1.9.39). Lý do được nêu là có những học giới liên quan đến người tại gia, và người tại gia biết điều gì hợp lệ với sa-môn (Kd 21:1.9.22–24).
Năm từ Pāli cần nhớ
| Pāli | Nghĩa | Nguồn |
|---|---|---|
| ābhisamācārika | thuộc phép hành xử tốt đẹp, thắng hạnh | AN 4.245, AN 5.21 |
| ādibrahmacariyaka | khởi đầu của phạm hạnh | AN 4.245; Vism I |
| sikkhā | học giới, sự học tập | AN 4.245:1.1 |
| sekha dhamma | pháp hữu học | AN 5.21:1.2 |
| khuddānukhuddaka | nhỏ và nhỏ hơn, nhỏ nhặt | DN 16:6.3.1; Kd 21 |
Một điểm dễ hiểu sai
Gọi là “phép hành xử” hay “giới nhỏ” không có nghĩa là không quan trọng. AN 5.21 đặt chính lớp này làm điều kiện cho pháp hữu học, giới, chánh kiến và chánh định. Ngược lại, cũng không nên đồng nhất máy móc một cách hiểu duy nhất của Visuddhimagga với kinh văn: chính Visuddhimagga đưa ra ba cách phân chia khác nhau.
Ứng dụng trong đời sống
- Người cư sĩ giữ năm giới hay tám giới cũng có “phép hành xử” của mình: cách nói năng trong chùa, cách đối xử với bạn đồng tu.
- Khi thấy mình coi nhẹ những việc nhỏ, hãy nhớ chuỗi điều kiện trong AN 5.21.
- Khi gặp tranh luận về giới “quan trọng” hay “không quan trọng”, nhớ rằng Kỳ Kết tập thứ nhất đã chọn giữ nguyên tất cả.
Ba câu hỏi ôn tập
- Theo AN 4.245, học giới thuộc phép hành xử được chế định để làm gì? Để người chưa tin phát sinh niềm tin, người đã tin tăng trưởng niềm tin (AN 4.245:1.3).
- Theo AN 4.245, học giới khởi đầu phạm hạnh được chế định để làm gì? Để hoàn toàn chấm dứt khổ một cách chân chánh (AN 4.245:2.1).
- Trong cách hiểu thứ ba của Visuddhimagga, ābhisamācārika gồm những gì? Các phận sự thuộc Khandhaka (Visuddhimagga I, đoạn VRI 11).
Câu hỏi thường gặp
Hai thuật ngữ này có trong Tạng Luật không?
Có. Mahākhandhaka dùng chúng khi nêu khả năng cần có của vị thầy (Kd 1:36.13.2). Ngoài ra chúng có trong AN 4.245, và Visuddhimagga dùng chúng để phân loại giới.
Vatta trong Vattakkhandhaka có phải là ābhisamācārika?
Theo cách hiểu thứ ba của Visuddhimagga, các phận sự thuộc Khandhaka là ābhisamācārika, nên các phận sự trong Vattakkhandhaka thuộc lớp này theo cách hiểu ấy.
Vì sao lớp phép hành xử gắn với “niềm tin của người khác”?
AN 4.245:1.3 nói rõ mục đích ấy. Cách đi đứng, ăn uống, cư xử của chư tăng là điều người khác nhìn thấy trước tiên.
Một câu ghi nhớ
Phép hành xử nuôi niềm tin của người khác; giới khởi đầu phạm hạnh dẫn đến chấm dứt khổ; và không ai làm tròn lớp sau mà bỏ qua lớp trước.
Đọc thêm: Sīla là gì theo Visuddhimagga, Sekhiya – 75 giới trang nghiêm, Vattakkhandhaka – mười bốn nhóm phận sự, Bốn thanh tịnh giới và Kỳ Kết tập thứ nhất (Cūḷavagga 11).
Nguồn tham khảo
- Sikkhānisaṃsa Sutta (AN 4.245) và Paṭhamaagārava Sutta (AN 5.21), bản dịch Bhikkhu Sujato, SuttaCentral: an4.245, an5.21
- Mahākhandhaka (Kd 1) và Pañcasatikakkhandhaka (Kd 21), bản dịch Bhikkhu Brahmali: pli-tv-kd1, pli-tv-kd21; Mahāparinibbāna Sutta (DN 16): dn16; MN 149: mn149
- Visuddhimagga, chương I Sīlaniddesa, bản Chaṭṭha Saṅgāyana của VRI; AN Pañcakanipāta bản VRI để đối chiếu.
- HT. Thích Minh Châu (dịch), Tăng Chi Bộ, Chương Bốn Pháp, kinh (243) “Lợi ích Học Tập”: budsas.net; Chương Năm Pháp, kinh (21) “Không Có Cung Kính”: budsas.net
- Thích Nữ Trí Hải (dịch từ bản Anh của Ñāṇamoli), Thanh Tịnh Đạo, chương I: budsas.net